Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.2: Trang 2-3 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở vài tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Thông tư 23/2014/TT-BTNMT.

Hình 2.2: Trang 2-3 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở vài tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Thông tư 23/2014/TT-BTNMT.

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền

với đất không thuộc đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được

miễn, được ghi nợ nghĩa vụ tài chính và trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất

hàng năm thì được nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà

ở và tài sản khác gắn liền với đất ngay sau khi cơ quan có thẩm quyền cấp.

- Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu

nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác

gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và

họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và

tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên

một người.

- Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu

nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác

gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp

chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ,

tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu.

- Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số

liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 hoặc Giấy

chứng nhận đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với

ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh

chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế. Người sử dụng đất không

phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch nhiều hơn nếu có.

- Trường hợp đo đạc lại mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới

thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất và diện tích đất đo đạc

thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì phần diện

tích chênh lệch nhiều hơn (nếu có) được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử



16



dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại

Điều 99 của Luật Đất đai 2013.

2.2.2.6. Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu

nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất:

Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận được quy định tại Điều 105, Luật Đất

đai 2013. Quy định cụ thể như sau:

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo;

người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

thực hiện dự án đầu tư; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao. Ủy ban

nhân dân cấp tỉnh được ủy quyền cho cơ quan tài nguyên và môi trường cùng

cấp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác

gắn liền với đất.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân,

cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn

liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

3. Đối với những trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận, Giấy chứng

nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng

mà thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với

đất hoặc cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà

ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng thì do cơ quan tài nguyên

và môi trường thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2.3. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC CÁP GIẤY CHỨNG

NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI

SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

2.3.1. Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà

ở và tài sản khác gắn liền với đất tại một số nước trên thế giới



17



Trên thế giới có rất nhiều quốc gia và ở mỗi quốc gia có một hình thức sở

hữu đất đai và các quan hệ đất đai riêng. Điều đó phụ thuộc vào bản chất của

từng Nhà nước và lợi ích của giai cấp thống trị của quốc gia đó.

2.3.1.1. Úc:

Theo Nguyễn Bá Long (2007), công tác quản lý nhà nước, bao gồm công

tác đăng ký quyền sở hữu đất đai và các dịch vụ liên quan đến đất đai do cơ

quan quản lý đất đai của các Bang giữ nhiệm vụ chủ trì. Các cơ quan này đều

phát triển theo hướng sử dụng một phần đầu tư của chính quyền bang và chuyển

dần sang cơ chế tự trang trải chi phí. Ban đầu Giấy chứng nhận được cấp thành 2

bản, 1 bản giữ lại Văn phòng đăng ký và 1 bản giao chủ sở hữu giữ. Từ năm

1990, việc cấp Giấy chứng nhận dần chuyển sang dạng số. Bản gốc của GCN

được lưu giữ trong hệ thống máy tính và bản giấy được cấp cho chủ sở hữu.

Ngày nay, tại Văn phòng GCN, người mua có thể kiểm tra GCN của BĐS mà

mình đang có nhu cầu mua.

Những đặc điểm chủ yếu của Hệ thống Đăng ký đất đai và bất động sản

của Úc:

- GCN được đảm bảo bởi Nhà nước .

- Mỗi trang của sổ đăng ký là một tài liệu duy nhất đặc trưng cho hồ sơ

hiện hữu về quyền và lợi ích được đăng ký và dự phòng cho đăng ký biến đợng

lâu dài.

- GCN đất là một văn bản được trình bày dễ hiểu cho công chúng.

- Sơ đồ trích lục thửa đất trong bằng khoán có thể dễ dàng kiểm tra, tham khảo.

- Giá thành của hệ thống hợp lý, tiết kiệm được chi phí và thời gian xây dựng.

- Hệ thống được xây dựng trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại, dễ

dàng cập nhật, tra cứu cũng như phát triển đáp ứng yêu cầu quản lý và sử dụng.

2.3.1.2. Anh:

Hệ thống đăng ký đất đai của Anh là hệ thống đăng ký bất động sản (đất

đai và tài sản khác gắn liền với đất) tổ chức đăng ký theo một hệ thớng thớng

nhất có Văn phòng chính tại Ln Đơn và 14 văn phòng khác phân theo khu vực

(địa hạt) phân bổ đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ Anh Quốc và Xứ Wales. Mọi

18



hoạt động của hệ thống đăng ký hoàn toàn trên hệ thống máy tình nối mạng theo

một hệ thống thống nhất. Một điểm nổi bật trong Luật Đất đai và Luật đăng ký

có quy định rất chặt chẽ về đăng ký, bất kỳ người nào sở hữu đất đai và bất động

sản trên lãnh thổ Anh đều phải đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai; Nhà

nước chỉ bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp của chủ sở hữu có tên trong hệ thống

đăng ký (Nguyễn Bá Long, 2007).

2.3.1.3. Scotland:

Theo Nguyễn Bá Long (2007), hệ thống đăng lý giao dịch Scotland triển

khai năm 1617 theo một đạo luật của Thượng viện Scotland, hệ thống đăng ký

chứng thư có mục tiêu đảm bảo an toàn pháp lý cho các giao dịch, đảm bảo tính

công khai và tiếp cận dễ dàng. Sự an toàn pháp lý được bảo đảm thông qua luật

dành quyền ưu tiên pháp lý cho các giao dịch đã đăng ký. Tính công khai được

đảm bảo bằng luật quy định bất kỳ công dân nào cũng có quyền khảo cứu sổ

đăng ký để lấy thông tin cần thiết. Tính dễ tiếp cận thể hiện qua việc chính

quyền tạo điều kiện để việc cung cấp thông tin được nhanh chóng và rõ ràng.

Tương phản với hệ thống đăng ký của Anh vốn duy trì "bí mật cá nhân" tới năm

1990, hệ thống đăng ký đất đai ở Scotland là hệ thống công khai ngay từ buổi

đầu hình thành và phát triển.

Quy trình đăng ký theo hệ thống tại Scotland:

- Đăng ký thông tin khai báo;

- Lập biên bản và đăng ký vào Sổ Biên bản;

- Hồ sơ gốc;

- Bảng tra cứu.

Các hồ sơ gốc và các Sổ biên bản được gửi tới Văn phòng Đăng ký

Scotland để cho công chúng có thể tra cứu lấy thông tin. Như vậy một lượng lớn

hồ sơ và giấy tờ phải được lưu giữ lâu dài. Trong hệ thống đăng ký quyền, các

văn tự chỉ cần lưu trữ một thời gian cần thiết để nhập thông tin vào hệ thống sổ

đăng ký và phục vụ thẩm tra.

2.3.1.4. Pháp:

Hầu hết đất đai tại Pháp thuộc sở hữu toàn dân. Nước Pháp đã thiết lập

19



được hệ thống thông tin, được nối mạng truy cập từ trung ương đến địa phương.

Đó là hệ thống tin học hoàn chỉnh (phục vụ trong quản lý đất đai). Nhờ hệ thống

này mà họ có thể cập nhật các thông tin về biến động đất đai một cách nhanh

chóng, thường xuyên và phù hợp và cũng có thể cung cấp thông tin chính xác,

kịp thời đến từng khu vực, từng thửa đất. Tuy nhiên, nước Pháp không tiến hành

cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà họ tiến hành quản lí đất đai bằng tư

liệu đã được tin học hoá và tư liệu trên giấy, bao gồm: các chứng thư bất động

sản và sổ địa chính. Ngoài ra, mỗi chủ sử dụng đất được cấp một trích lục địa

chính cho phép chứng thực chính xác của các dữ liệu địa chính đối với bất kỳ

bất động sản nào cần đăng kí (Nguyễn Bá Long, 2007).

2.3.1.5. Thái Lan:

Theo Nguyễn Bá Long (2007), Thái Lan đã tiến hành cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở Thái Lan được

chia làm 3 loại:

- Đối với các chủ sử dụng đất hợp pháp và mảnh đất không có tranh chấp

thì được cấp bìa đỏ.

- Đối với các chủ sử dụng đất sở hữu mảnh đất có nguồn gốc chưa rõ

ràng cần xác minh lại thì được cấp bìa xanh.

- Đối với các chủ sử dụng mảnh đất không có giấy tờ thì cấp bìa vàng.

Tuy nhiên, sau đó, họ sẽ xem xét tất cả các trường hợp sổ bìa xanh, nếu xác

minh mảnh đất được rõ ràng họ sẽ chuyển sang cấp bìa đỏ. Đối với trường hợp

bìa vàng thì Nhà nước sẽ xem xét các quyết định xử lý cho phù hợp và nếu hợp

pháp sẽ chuyển sang cấp bìa đỏ.

2.3.2. Tình hình công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại

Việt Nam

2.3.2.1. Tình hình cơng tác cấp giấy chứng nhận của cả nước trước khi thực

hiện LĐĐ 2013

Luật Đất đai 2003 là cơ sở pháp lý cho việc quản lý đất đai trên địa bàn cả

nước, dưới Luật Đất đai chúng ta còn thực hiện các quy định về quản lý đất đai

theo Luật Đất đai 1993 và Luật sửa đổi năm 1998 và 2001, thực hiện tốt Nghị

20



định số 64/NĐ-CP ngày 27/09/1993 và Nghị định số 60/NĐ-CP ngày

05/07/1994 của Chính phủ về giao đất nông nghiệp và quyền sở hữu nhà ở, đất ở

đô thị và các nghị định, thông tư liên quan đến quản lý sử dụng đất và cấp

GCNQSDĐ. Sau khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực công tác cấp GCNQSDĐ

cũng được đẩy mạnh rõ rệt.

Dưới đây là kết quả cấp GCNQSDĐ cho các loại đất chính cả nước tính

đến tháng 09/2011, cụ thể như sau:

Bảng 2.1: Kết quả cấp GCNQSQDĐ cả nước tính đến tháng 09/2011

ST



Loại đất



Số GCN đã cấp



T

1

2

3



Đất ở nông thôn

Đất ở thành thị

Đất sản xuất nông nghiệp



(giấy)

11.671.553

3.685.259

16.173.096



4



Đất lâm nghiệp



2.629.232



DT đã cấp Tỷ lệ DT đã

(ha)

435.967

83.109

8.316.529

10.371.48



cấp (%)

79,3

63,5

85,1



86,3

2

(Nguồn:Cục Đăng kí và Thống kê, 2011)



Nhìn chung, tỷ lệ DT đã cấp GCNQSDĐ trên cả nước chưa cao, cụ thể:

+ Đối với đất ở nông thôn có: 20 tỉnh đạt trên 90%, 21 tỉnh đạt từ 70% 80%, 21 tỉnh đạt thấp dưới 70%.

+ Đối với đất ở đô thị có: 15 tỉnh đạt trên 90%, 21 tỉnh đạt từ 70% - 80%,

26 tỉnh đạt thấp dưới 70%.

+ Đối với đất sản xuất nông nghiệp có: 29 tỉnh đạt trên 90%, 15 tỉnh đạt

từ 70% - 80%, 19 tỉnh đạt thấp dưới 70%.

+ Đối với đất lâm nghiệp có: 21 tỉnh đạt trên 90%, 12 tỉnh đạt từ 70% 80%, 24 tỉnh đạt thấp dưới 70%. Còn lại 5 tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hà Nam,

Hưng Yên, Vĩnh Long chiếm 0,00%.

Kết quả cấp GCNQSDĐ chưa cao là do: Mợt sớ tỉnh, thành phớ còn tồn

đọng nhiều giấy chứng nhận bởi người sử dụng đất chưa đến nhận hoặc do

UBND cấp xã đã nhận được nhưng chưa trao cho người được cấp giấy. Một tồn

tại nữa phải kể đến là lực lượng cán bộ thực hiện công tác cấp giấy chứng nhận



21



quyền sử dụng đất tuy có trình độ chuyên đội ngũ cán bộ thực hiện cơng tác cấp

GCNQSDĐ còn thiếu sót về sớ lượng và ́u chất lượng.

2.3.2.2. Tình hình cơng tác cấp giấy chứng nhận của cả nước sau khi thực

hiện LĐĐ 2013

Từ năm 2013 đến nay, các quy định của pháp luật đất đai đã có nhiều đổi

mới và liên tục được hoàn thiện, nhất là các quy định về đăng kí đất đai, lâp hồ

sơ địa chính và cấp GCNQSDĐ. Việc cấp GCNQSDĐ có ý nghĩa quyết định đối

với việc giải quyết có hiệu quả tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; góp phần

thúc đẩy nhanh và thuận lợi cho công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng khi

Nhà nước thu hồi. Đồng thời với công tác đăng ký, cấp GCNQSDĐ Nhà nước

tiến hành xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính. Đây là tài liệu cơ sở pháp lý quan

trọng để phục vụ cho việc theo dõi và quản lý Nhà nước đối với các hoạt động

liên quan tới đất đai, là dữ liệu địa chính để xây dựng hệ thống thông tin đất đai.

Để chứng minh cho những lý luận trên sách vở thì sau đây là kết quả tổng

hợp số lượng giấy chứng nhận từ các địa phương, đến nay trên cả nước (từ khi

thực hiện LĐĐ 2013) so với thời điểm chưa có LĐĐ 2013 (tức là so với năm

2012) đã cấp 41,6 triệu GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền

tài sản gắn liền với đất (GCN) với tổng diện tích 22,9 triệu ha, đạt 94,8% diện

tích các loại đất đang sử dụng phải cấp giấy chứng nhận, trong đó 5 loại đất

chính cả nước đã cấp được 40,7 triệu GCN với tổng diện tích 22,3 triệu ha, đạt

94,6% diện tích sử dụng cần cấp và đạt 94,6% số các trường hợp sử dụng đất đủ

điều kiện cấp giấy chứng nhận.

Sau hơn hai năm triển khai thực hiện cấp giấy chứng nhận theo Nghị

quyết số 30/2012/QH13, cả nước đã cấp được 9 triệu GCN lần đầu, riêng năm

2013 cấp được 7,2 triệu GCN, với diện tích 4,1 triệu ha, nhiều hơn 3,7 lần so với

kết quả cấp giấy chứng nhận năm 2012 (Quốc Hội, 2013).

Tính đến 31/12/2013 có 64/64 tỉnh, thành phố hoàn thành cơ bản, đạt

trên 85% tổng diện tích các loại cần cấp giấy chứng nhận, cụ thể:



22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.2: Trang 2-3 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở vài tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Thông tư 23/2014/TT-BTNMT.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×