Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Khái quát chung về huyện Phú Lương

Khái quát chung về huyện Phú Lương

Tải bản đầy đủ - 0trang

Phú Lương có mật độ sơng suối lớn (bình qn 0,2km/km2 ), trữ lượng thủy

văn cao, đủ cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của cư dân trong Huyện. Các

sông suối phân bố tương đối đều trong Huyện, chảy qua hầu hết các xã, thuận tiện

cho phát triển thủy lợi và vận tải thủy. Sông Chu và các hợp thủy của nó nằm ở khu

vực phía Bắc của huyện, có nhánh chính dài 10km. Sơng Đu bắt nguồn từ phía Bắc

huyện, chảy dọc theo địa bàn Huyện qua thị trấn Giang Tiên và đổ vào sông Cầu tại

xã Sơn Cẩm. Sông Đu được tạo thành bởi hai nhánh chính, một nhánh bắt nguồn từ

Tây Bắc tại xã Hợp Thành, nhánh kia từ phía Bắc tại xã Động Đạt. Hai nhánh gặp

nhau ở phía trên thị trấn Đu và chảy về sông Cầu qua đoạn sông Giang

Tiên, tổng chiều dài tồn hệ thống khoảng 45km. Sơng cầu chảy từ phía Bắc xuống

theo đường ranh giới phía Đơng của huyện Phú Lương (tiếp giáp với huyện Đồng

Hỷ) qua các xã Phú Đô, Tức Tranh, Vô Tranh, Sơn Cẩm. Đoạn sông Cầu chảy qua

địa bàn huyện Phú Lương dài khoảng 17 km vừa là nguồn cung cấp nước chủ yếu

cho sinh hoạt và sản xuất của khu vực phía Nam Huyện vừa là một trong tuyến

giao thông đường thủy quan trọng của Huyện.

Hệ thống sơng suối góp phần vào việc cung cấp nước cho sản xuất và sinh

hoạt của nhân dân đồng thời cũng tiêu thoát nước vào mùa mưa. Thủy chế của các

sông suối trong vùng khá phức tạp, mà sự tương phản chính là sự phân phối dòng

chảy khơng đều trong năm. Mùa mưa lượng nước nhiều, dồn nhanh về nhánh sơng

chính, tạo nên dòng chảy lớn và xiết gây lũ ngập các ngầm trên tuyến đường chính

làm ách tắc giao thơng. Về mùa khơ, dòng chảy cạn kiệt, mực nước dòng sơng rất

thấp. Tiềm năng về nguồn nước trên địa bàn huyện khá dồi dào, nhưng do các cơng

trình thủy lợi và hệ thống kênh mương dẫn nước chưa hoàn chỉnh nên việc tưới tiêu

nước chưa chủ động và lượng nước thất thoát nhiều. Do vậy để phát triển sản xuất

nông nghiệp cần thiết phải đầu tư các cơng trình thủy lợi nhằm đáp ứng nhu cầu

sinh lý, sinh thái của các loại cây trồng, đồng nghĩa với việc khai thác và quản lý

tốt nguồn tài nguyên nước.

4



Tài ngun đất

Phú Lương là huyện có diện tích thấp của tỉnh, theo số liệu thống kê của

huyện năm 2015, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 36.894,65 ha. Phân theo

địa giới hành chính thì diện tích lớn nhất thuộc về xã Yên Ninh là 4.718,61 ha

chiếm 12,79%, đơn vị có diện tích đất thấp là thị trấn Giang Tiên gồm 381.23 ha

chiếm 1.03% tổng diện tích trong tồn huyện, có 08 xã có diện tích đất tự nhiên

dưới 2.000 ha và 08 đơn vị có diện tích trên 2.000 ha [1].

Tài ngun nước

Phú Lương có hệ thống sơng suối khá dày, đây là nguồn mặt nước với trữ

lượng lớn, đảm bảo cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp của các xã trong toàn huyện.

Nước ngọt từ các hồ, đập nước dẫn tới các khu sản xuất nông nghiệp nhờ hệ thống

kênh mương dẫn nước tưới ổn định cho khoảng 3000 ha lúa vụ xuân, 4000 ha lúa

vụ mùa và hàng trăm ha cây rau vụ mùa, vụ đông, đồng thời tạo nguồn nước tưới

cho trên 500ha chè vụ đơng.

Nguồn nước tại các ao, hồ: Phú Lương có các hồ thủy lợi, hồ ni trồng thủy

sản rất có giá trị như hồ Ơ Rơ (Phủ Lý), hồ Đầm Ấu, Tuông Lậc (ôn Lương), hồ

19/5 (Sơn Cẩm), hồ Khuân lân, phủ Khuôn (Hợp Thành), hồ Núi Mún (Cổ Lũng),

hồ Khuối Mạ, Nặm Giất (Yên Trạch).

Nguồn nước sinh hoạt của nhân dân chủ lấy từ nguồn nước ngầm do dân tự

khai thác, đảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Đây là nguồn nước được

nhân dân sử dụng qua hệ thống giếng khoan, giếng khơi.

Nguồn nước ngầm: Phú Lương có trữ lượng nước ngầm khá lớn, chất lượng

khá tốt đảm bảo chi nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Đây là nguồn nước được nhân

dân sử dụng qua hệ thống giếng khơi, giếng khoan.

Nhìn chung nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông

nghiệp ở Phú Lương khá dồi dào, tuy nhiên còn nhiều khó khăn vào mùa khơ.

5



Trong thời gian tới cần có các biện pháp cải tạo, xây dụng hệ thống cấp nước đô thị

để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Huyện.

Tài nguyên rừng

Phú Lương là huyện miền núi thấp có diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ

lớn. Tổng diện tích đất lâm nghiệp (có rừng) của huyện hiện nay là 17.113,84 ha,

chiếm 46.39% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện bao gồm: Rừng tự nhiên là

3.328 ha; đất rừng trồng là 13.785,84 ha [1]. Rừng Phú Lương có ý nghĩa rất quan

trọng trong đối với việc phát triển kinh tế- xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái khu

vực, giữ nguồn nước, tạo cảnh quan, giữ gìn các khu di tích lịch sử, nền văn hóa

của các dân tộc trên địa bàn. Vì vậy, cần có chính sách đầu tư khai thác hợp lý và

bảo vệ nguồn tài nguyên rừng.

2. Thực trạng sản xuất chè tại huyện Phú Lương

Huyện Phú Lương có diện tích chè tương đối lớn (4.300 ha năm 2016), hầu

hết các xã trong huyện đều sản xuất chè. Do thiên nhiên ưu đãi về thổ nhưỡng đất

đai, nguồn nước, thời tiết khí hậu, phù hợp với cây chè. Sản xuất chè ở huyện còn

chủ yếu là sản xuất quy mơ hộ. Tuy vậy, do đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học,

tăng đầu tư thâm canh chè mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trong những năm vừa

qua, diện tích, năng suất, chất lượng, giá trị chè của huyện không ngừng tăng:

Bảng 1: Diện tích, năng suất, sản lượng chè của huyện qua 3 năm 2014

-2016

Chỉ tiêu



Đvt



Năm 2014



Năm 2015



Năm 2016



Tốc độ ptbq



Dt chè kinh

doanh



ha



2.182



2.395



2.585



108,85



Tạ/ha



100



102,8



110,00



104,9



Tấn



21.820



24.621



28.435



114,16



Năng suất

Sản lượng



(Nguồn: Thống kê huyện Phú Lương, 2017)

6



Qua bảng trên cho thấy năng suất chè của huyện qua 3 năm có sự biến động

liên tục tăng. Năm 2015 năng suất chè bình quân đạt 102,8 tạ/ha tăng 2,8 % so với

năm 2014. Đến năm 2016 năng suất chè bình quân đạt 110 tạ/ha tăng 7,2 tạ/ha tức

là tăng 7,00% so với năm 2015. Như vậy, qua 3 năm tốc độ phát triển bình quân

của năng suất chè vẫn tăng ở mức độ 4,9% /năm. Đây là một kết quả tốt trong quá

trình sản xuất chè của huyện nhằm nâng cao đời sống của người trồng chè.

Về sản lượng chè liên tục có sự biến động, năm 2015 sản lượng chè búp tươi

đạt 24.621 tấn. So với năm 2014 sản lượng chè năm 2015 tăng 12,83%. Năm 2016

sản lượng chè búp tươi đạt 28.435 tấn, tăng 15,49 % so với năm 2015.

2.1. Tình hình sản xuất chè của hộ

Để đánh giá được tình hình sản xuất chè của các nhóm hộ, ngồi việc phân

tích các chỉ tiêu chung, còn có các tiêu chí khác được nghiên cứu như: Diện tích,

năng suất, sản lượng chè... các tiêu chí này được thể hiện ở bảng số liệu sau:

Bảng 2: Tình hình sản xuất chè của hộ năm 2016

Loại hộ

Chỉ tiêu



Đvt



Dt chè kinh

doanh



Bình quân



Hộ khá



Hộ TB



Hộ nghèo



Sào/hộ



19,79



13,25



7,4



17,45



Năng suất



Kg/hộ



71



7,03



67,95



70,55



Sản lượng



Kg/hộ



1.408,53



927,92



502,8



1.236,93



(Nguồn: Thống kê huyện Phú Lương, 2017)

Bảng số liệu trên cho thấy diện tích đất trồng chè của hộ khá chiếm diện tích

cao BQ 19,79 sào/hộ 13,25 sào/hộ còn hộ nghèo chỉ đạt 7,4 sào/hộ cho thấy diện

tích chè ảnh hưởng lớn tới thu nhập của hộ. Do điều kiện chăm sóc khác nhau nên

năng suất chè đạt được của từng hộ là khác nhau. Ở hộ khá có điều kiện chăm sóc



7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khái quát chung về huyện Phú Lương

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×