Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thực trạng tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Điện Biên

Thực trạng tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Điện Biên

Tải bản đầy đủ - 0trang

nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng nghiệp và nơng xã theo hướng từng bước nhanh

chóng hình thành nền nơng nghiệp hàng hóa phù hợp với nhu cầu thị trường và

điều kiện của vùng. Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làm

mới thu hút lao động nông xã. Áp dụng những tiến bộ khoa học, công nghệ về

giống, chăm sóc... vào trong sản xuất nơng lâm nghiệp nâng giá trị thu nhập trên

cùng đơn vị diện tích.

Giá trị sản xuất nơng nghiệp của các huyện khơng ngừng tăng qua các năm:

Năm 2014 đạt 265.000 triệu đồng đến năm 2015 tăng 7,92% lên 286.000 triệu đồng

và năm 2016 tăng 9,09% so với năm 2015 và 17,73% so với năm 2014 đạt 312.000

triệu đồng. Trong đó, lĩnh vực trồng trọt năm 2014 đạt 162.975 triệu đồng, năm 2016

đạt mức 179.400 triệu đồng tăng 6,14% so với năm 2015 và 10,08% so với năm

2014; ngành chăn nuôi tăng ổn định qua các năm, năm 2014 đạt 94.075 triệu đồng,

năm 2015 tăng 14,00 % lên 107.250 triệu đồng, sang năm 2016 tăng lên 121,368

triệu đồng tăng 13,16% so với năm 2015 và 29,01% so với năm 2014; Ngành dịch

vụ chế biến có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất năm 2014 đạt 9.950 triệu đồng sang

năm 2015 tăng 22,31% đạt 9.724 triệu đồng, năm 2016 tăng lên 11.232 triệu đồng

tăng 15,51% so với năm 2015 và tăng 41,28% so với năm 2014 [2]. Như vậy, sự tăng

trưởng giữa các ngành như trên phù hợp định hướng phát triển của huyện, giá trị

trồng trọt tăng chậm chủ yếu là nhờ việc ứng dụng các khoa học kĩ thuật vào sản

xuất, luân canh tăng vụ nâng cao giá trị trên 1 đơn vị diện tích đất canh tác còn diện

tích đất trồng trọt ngày càng giảm do q trình cơng nghiệp hóa và đơ thị hóa.... Cơ

cấu kinh tế nơng nghiệp đang chuyển dịch theo hướng nâng cao tỷ trọng ngành chăn

nuôi thủy sản, dịch vụ chế biến giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt.

Theo giá cố định năm 1994 thu nhập bình quân trên 1 hộ nông nghiệp của

huyện năm 2014 là 12,92 triệu đồng, năm 2015 là 13,40 triệu đồng tăng 3,72% so

với 2014, năm 2016 đạt 13,77 triệu đồng tăng 2,70% so với năm 2015 và 6,53% so

với 2014. Thu nhập bình quân trên 1 lao động năm 2014 là 4,28 triệu đồng, năm

4



2015 là 4,57 triệu đồng và năm 2016 là 4,95 triệu đồng tăng 8,13% so với 2015 và

15,49% so với 2014. Thu nhập bình quân trên 1 nhân khẩu năm 2014 là 2,70 triệu

đồng đến năm 2016 tăng lên thành 3,14 triệu đồng tăng 8,41% so với 2015 và

16,25% so với 2014 [2]. Có được những kết trên là nhờ sự cố gắng to lớn của chính

quyền và nhân dân huyện Điện Biên và một phần đóng góp khơng nhỏ của cơng tác

phát triển nơng xã và khuyến nông.

2.2. Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân ở các xã điều tra

Để thu thập được những chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh tế của các hộ gia

đình, có cái nhìn rõ nét và thực tế hơn nhằm đánh giá khách quan, đúng đắn thực

trạng phát triển kinh tế hộ nông dân những năm gần đây, từ đó xác định những lợi

thế so sánh, các hạn chế, thách thức, cơ hội phải đón bắt, khắc phục những mặt tồn

tại yếu kém, định hướng phát triển kinh tế cho các hộ nông dân. Dựa vào vị trí địa

lý và tình hình phát triển kinh tế tơi chọn ra 3 xã, trong 3 xã sử dụng phương pháp

chọn mẫu ngẫu nhiên đơn chọn ra 30 hộ dân trong một xã, tổng số hộ là 90 hộ để

phỏng vấn về tình hình kinh tế và một số tiêu chí xã hội khác của hộ nơng dân.

Thơng tin chung về chủ hộ

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh ở mỗi hộ gia đình sản xuất

nơng nghiệp, chủ hộ thường là người quan trọng nhất, quyết định và đầu tư sản

xuất loại cây gì, ni con gì, hướng sản xuất theo mơ hình nào, đồng thời cũng là

người điều hành quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình hộ. Qua quá

trình điều tra, phỏng vấn tôi thu được một số thông tin sau:

Chủ hộ của các hộ điều tra phần lớn đều là nam giới: xã Sam Mứn và xã

Pom Lót mỗi xã đều có 28 chủ hộ là nam giới chiếm 93,33%, còn tỷ lệ nữ giới

làm chủ hộ ở hai xã này đều 6,67%. 4 hộ do nữ giới làm chủ hộ nguyên nhân chủ

yếu là do chồng đã mất hoặc đã ly dị chồng. Còn xã Thanh Chăn tỷ lệ nam giới

làm chủ hộ gia đình là 100%, khơng có hộ nào được điều tra có nữ giới làm chủ

hộ [6, 7, 8].

5



Về độ tuổi của chủ hộ các xã đều không có sự chênh lệch lớn, chủ của các hộ

được điều tra đều nằm trong độ tuổi từ 20 đến 60 tuổi, độ tuổi trung bình của chủ

hộ cao nhất là ở xã Sam Mứn là 43,9 tuổi, độ tuổi trung bình thấp nhất là xã Thanh

n là 41,3 tuổi, còn độ tuổi trung bình của chủ hộ ở xã Pom Lót là 41,7 tuổi [6, 7,

8].

Chủ hộ của các hộ được điều tra ở cả 3 xã đều là dân tộc kinh là chủ yếu, số

chủ hộ là dân tộc Kinh được điều tra ở 3 xã là 61 hộ chiếm 67,78%. Trong đó ở xã

Thanh Yên chủ hộ là dân tộc kinh là 18 người chiếm tỷ lệ là 60%, dân tộc Sán dìu

là 7 người chiếm 23,34%, số chủ hộ là dân tộc Tày là 5 người chiếm 16,66%, các

hộ được điều tra khơng có hộ nào là dân tộc Nùng và dân tộc Dao. Còn ở xã Pom

Lót số chủ hộ là dân tộc Kinh được điều tra là 22 người, chiếm 73,34%, số chủ hộ

là dân tộc Nùng là 5 hộ chiếm tỷ lệ là 16,67%, còn dân tộc tày Sán dìu, Dao mỗi

dân tộc điều tra 1 hộ chiếm 3,33% mỗi dân tộc. Xã Thanh Chăn số chủ hộ là dân

tộc Kinh là 21 hộ chiếm 70% số hộ được điều tra, số chủ hộ là dân tộc Tày là 6 hộ

chiếm 20% dân tộc Nùng là 3 hộ chiếm 10%. Nhìn chung những chủ hộ là người

dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Sán dìu đều là người bản địa sinh sống ở địa phương đã

từ lâu đời, chỉ có một số ít dân tộc là những người mới lên hoặc lên công tác tại địa

phương rồi mua đất sinh sống ở địa phương luôn [6, 7, 8].

Trình độ văn hóa của các chủ hộ được điều tra phần lớn đều là học cấp III, tỷ

lệ chủ hộ ở cả 3 xã chỉ có trình độ văn hóa là cấp I là 21,11%, tỷ lệ học đến cấp II là

37,78%, tỷ lệ học đến trình độ cấp III là 41,11%. Tỷ lệ chủ hộ có trình độ văn hóa

là cấp I cao nhất là ở xã Sam Mứn chiếm 30,01%, con số này ở xã Pom Lót là

20,01% và xã Thanh Chăn là khá thấp chỉ là 13,34%, do đặc điểm của vị trí địa lý

và trình độ phát triển kinh tế nên giáo dục ở xã Sam Mứn chưa được đầu tư nên số

chủ hộ đạt đến trình độ văn hóa là cấp I cao hơn, tuy nhiên tỷ lệ này nguyên nhân là

do các chủ hộ phần lớn đều có độ tuổi từ 40 đến 50 tuổi nên tại thời điểm đó giáo



6



dục vẫn chưa được hoàn toàn phổ cập như bây giờ nên việc theo học gặp nhiều khó

khăn [6, 7, 8].

Nhìn chung qua điều tra 90 hộ nơng dân của xã thì đa số chủ hộ là nam giới,

các dân tộc Kinh, Tày chiếm đa số, sau đó đến dân tộc Nùng, Sán dìu và Dao, trình

độ văn hóa của chủ hộ thì tỷ lệ trình độ văn hóa đạt cấp III vẫn chiếm đa số, tuy

nhiên số chủ hộ mù chữ hoặc thất học là khơng có đây cũng là một điều kiện khá

thuận lợi cho tiếp thu khoa học công nghệ vào sản xuất của người dân.

Tình hình nhân khẩu và lao động của hộ nông dân

Khi nghiên cứu yếu tố lao động phải đề cập đến hai khía cạnh của lao động

đó là số lượng và chất lượng lao động. Số lượng lao động của hộ bao gồm các

thành viên trong gia đình có khả năng lao động. Chất lượng lao động thể hiện trình

độ văn hố, trình độ chun mơn, nhận thức về chính trị, xã hội thơng qua các kỹ

năng, kinh nghiệm sản xuất được tích lũy qua q trình sản xuất của hộ nơng dân.

Bình qn nhân khẩu trên hộ của 3 xã là 4,23 khẩu/hộ, bình quân lao động

trên hộ là 2,95 lao động/hộ, cụ thể như sau: Phần lớn các hộ nông dân được điều tra

ở 3 xã đều có số nhân khẩu từ 4 khẩu trở xuống, ở xã Sam Mứn là 18 hộ, xã Pom

Lót và xã Thanh Chăn có 19 hộ có từ 4 nhân khẩu trở xuống. Số hộ có số nhân

khẩu từ 5 đến 6 khẩu là khá thấp, xã Sam Mứn có 10 hộ còn xã Pom Lót và xã

Thanh Chăn có 11 hộ. Số hộ có trên 6 khẩu là rất thấp, chỉ có ở xã Sam Mứn có 2

hộ còn xã Pom Lót và xã Thanh Chăn khơng có hộ nào có trên 6 khẩu. Còn về lao

động của các hộ, phần lớn các hộ đều có 3 lao động trở xuống, ở xã Sam Mứn và

xã Pom Lót hộ có 3 lao động trở xuống là 22 hộ, còn ở xã Thanh Chăn là 20 hộ,

còn số hộ trên 3 nhân khẩu ở xã Pom Lót và xã Sam Mứn là 8 hộ còn ở xã Thanh

Chăn là 10 hộ [6, 7, 8].

Nhìn chung tình hình lao động và nhân khẩu của 3 xã khơng có sự chênh

lệch đáng kể xã có bình qn nhân khẩu trên hộ và bình quân lao động trên hộ cao

nhất là xã Thanh Chăn với bình quân nhân khẩu trên hộ là 4,27 khẩu/ hộ và bình

7



quân lao động trên hộ của xã Thanh Chăn là 2,95 lao động/hộ. Còn xã có bình qn

nhân khẩu trên hộ thấp nhất là xã Pom Lót với 4,2 khẩu/hộ, chỉ chênh với xã Thanh

Chăn 0,07 người/hộ điều này chứng tỏ số lượng dân số và lao động của các xã

không ảnh hưởng nhiều đến tình hình phát triển kinh tế của các xã [6, 7, 8].

2.3. Nguồn lực của các hộ nông dân

a) Đất đai của các hộ nông dân

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được trong sản xuất

nông, lâm nghiệp của hộ nông dân. Để phát triển kinh tế hộ nông dân trước hết phải

dựa vào nguồn tài nguyên đất, nhất là những nơi tiềm năng để mở rộng đất đai còn

nhiều. Vì vậy, khi phân tích cần dựa vào tiêu thức phân tổ theo loại đất sử dụng,

mức thu nhập và quy mô diện tích đất của vùng nghiên cứu.

Thực tế cho thấy, đất vườn của các hộ nơng dân có điều kiện trồng những

cây có giá trị kinh tế cao như các loại cây ăn quả, đặc sản, mặt khác vườn ở gần

nhà có điều kiện thâm canh tốt hơn đã tạo ra những sản phẩm có giá trị kinh tế

cao hơn. Về quy mơ diện tích đất của hộ nơng dân điều tra, các hộ có thu nhập từ

khá trở lên quy mô đất chủ yếu là từ 6000 m2 trở lên chiếm 57%, quy mô đất từ

3000-6000 chiếm 43%, các hộ có thu nhập trung bình quy mơ đất đai chủ yếu từ

3000-6000 chiếm 65,4%,dưới 3000 chiếm 19,7%, các hộ nghèo và cận nghèo quy

mơ diện tích đất chủ yếu dưới 3000 chiếm 40,0% và từ 3000-6000 chiếm 60%

Như vậy diện tích đất của những hộ có mức sống từ khá trở lên là cao nhất sau đó

giảm dần theo thu nhập [2].

b) Phương tiện sản xuất và phương tiện sinh hoạt của các hộ nông dân

Phương tiện sản xuất và phương tiện sinh hoạt là 2 loại phương tiện giúp

đánh giá được rõ nhất mức sống và mức đầu tư vào nông nghiệp của các hộ nông

dân ở 3 xã, dưới đây là mức độ đầu tư phương tiện sản xuất và phương tiện sinh

hoạt của các hộ nông dân.

8



Số lượng phương tiện phục vụ sản xuất các hộ nơng dân là khá đầy đủ. Các

hộ dân đã có sự quan tâm tới các loại máy móc phù hợp vào trong hoạt động sản

xuất, điều này đóng góp quan trọng trong việc tăng năng suất cây trồng, vật nuôi

của hộ, giúp đạt hiệu quả cao trong sản xuất và đời sống.

Về các phương tiện sinh hoạt thì các hộ nơng dân ở các xã đều có sự đầu tư

tương đối đầy đủ để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, đời sống tinh

thân của hộ nông dân.

c) Nguồn vốn của các hộ nông dân

Vốn là điều kiện rất quan trọng để tiến hành sản xuất đối với các hộ. Để phát

triển sản xuất, nhất là sản xuất ở quy mơ lớn thì đòi hỏi hộ nơng dân phải có vốn.

Tại thời điểm điều tra năm 2016 quy mô vốn của các hộ nông dân trong 3 xã cũng

có sự chênh lệch đáng kể. Mức vốn bình quân chung 3 xã là 17,3 triệu đồng, trong

đó cao nhất là xã Thanh Chăn 18 triệu đồng, thấp nhất là Sam Mứn 16,57 triệu

đồng. Về nguồn vốn của các hộ nông dân qua bảng cho thấy chủ yếu là vốn tự có

chiếm 76,4%, vốn vay chiếm tỷ trọng nhỏ khoảng 18,1% và vốn khác chiếm tỷ

trọng rất thấp 5,5% [2].

d) Lao động

Khi nghiên cứu yếu tố lao động phải đề cập đến hai khía cạnh của lao động

đó là số lượng và chất lượng lao động. Số lượng lao động của hộ bao gồm các

thành viên trong gia đình có khả năng lao động. Chất lượng lao động thể hiện trình

độ văn hố, trình độ chun mơn, nhận thức về chính trị, xã hội thơng qua các kỹ

năng, kinh nghiệm sản xuất được tích lũy qua q trình sản xuất của hộ nơng dân.

Chỉ tiêu bình qn khẩu/hộ cao nhất ở nhóm hộ trung bình (3,92 người), thấp

nhất ở nhóm hộ nghèo (3 người). Bình qn lao động/hộ cao nhất là hộ có mức

sống trung bình (2,54 người) và thấp nhất ở nhóm hộ nghèo và cận nghèo (2,11

người) [2].

9



3. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân trên

địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

Quy luật tất yếu của nông nghiệp trong quá trình cơng nghiệp hóa - hiện đại

hóa theo xu thế hội nhập do đó tình trạng nhỏ lẻ, phân tán, manh mún, sản xuất thủ

công dựa nhiều trên kinh nghiệm phải được giải quyết. Đây chính là lý do làm cho

hàm lượng chất xám trong nơng sản còn thấp và gây khó khăn rất lớn cho q trình

hội nhập trong lĩnh vực nông nghiệp, làm giảm năng lực cạnh tranh của các sản

phẩm trên thị trường quốc tế. Trước mắt, khi hàm lượng chất xám trong nơng sản

thấp thì chúng ta phải chấp nhận bán nông sản dưới dạng thô hoặc với giá rất rẻ

như vậy lợi nhuận là rất thấp. Nền sản xuất mang tính manh mún, tự phát, chi phí

sản xuất cao, rủi ro lớn. Đầu tiên là ngành trồng trọt, chúng ta khơng còn lạ gì với

hình ảnh mỗi hộ gia đình canh tác trên nhiều mảnh ruộng, lớn nhỏ khác nhau khó

có thể áp dụng hiệu quả thành tựu khoa học vào sản xuất và đầu tư để hình thành

các khu vực chuyên canh sản xuất tập trung được, cản trở q trình cơng nghiệp

hóa - hiện đại hóa. Trong khi đó, ngành chăn ni lại rơi vào tình trạng thiếu tập

trung, phân tán gây khó khăn cho kiểm sốt dịch bệnh, tiêu thụ hàng hóa và xây

dựng các vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Chi phí sản xuất chăn ni

như giống và thức ăn rất lớn. Nó đang là trở lực lớn nhất, vừa là một thực trạng

sớm muộn phải xóa bỏ. Để thực hiện được điều đó, cần khuyến khích và thúc đẩy

mạnh mẽ kinh tế trang trại, sản xuất ứng dụng cơng nghệ cao đi đơi với tổ chức các

hình thức liên kết, hợp tác (cả tín dụng, mua, bán và sản xuất) giữa các hộ nông dân

nhỏ lẻ với nhau trong cùng một phương hướng sản xuất (cùng kinh doanh cây, con

nào đó). Mặt khác, phải tổ chức việc chuyển đổi ngành nghề, tạo điều kiện kinh tế

cho quá trình tích tụ ruộng đất. Kết quả là sẽ giảm dần hộ sản xuất nông nghiệp thủ

công, nhỏ lẻ, đồng thời tăng quy mô sản xuất của mỗi hộ. Nếu chúng ta thực hiện

nó một cách chủ động và tự giác không chỉ đem lại sự phát triển cho kinh tế hộ

nơng nghiệp mà còn tạo nên sự ổn định về mặt xã hội. Ngược lại, nếu ta để cho quá

10



trình đó diễn ra một cách tự phát, thiếu kiểm sốt thì sự phát triển sẽ chậm trễ và

còn gây ra nhiều bất lợi cho xã hội.

Những quan điểm trên về phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công

nghệ cao nông chỉ được thực hiện trên cơ sở đề ra những giải pháp khoa học, sát

với điều kiện thực tế của các hộ nơng dân có tính khả thi cao là một yêu cầu cấp

thiết đối với huyện như Điện Biên. Những giải pháp này tập trung vào một số vấn

đề nổi bật và cần phải làm ngay như sau:

Cải thiện chất lượng giáo dục, đào tạo nghề, chăm sóc, y tế, sức khỏe cho

dân cư nông thôn để giúp giảm được rủi ro đói nghèo và giúp họ hòa nhập được với

cộng đồng, nâng cao năng suất lao động.

Cải thiện lại cơ sở hạ tầng ở địa bàn để tăng mối liên kết giữa các vùng lân

cận, thu hút đầu tư của các doanh nghiệp ở trong và ngoài tỉnh vào địa phương.

Các giải pháp cụ thể đối với huyện Điện Biên để phát triển kinh tế trong thời

kỳ hội nhập như sau:

3.1 Nhóm giải pháp về đất đai

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt, việc sử dụng ruộng đất hiệu

quả có ý nghĩa to lớn đối với các hộ nông dân. Muốn áp dụng khoa học kỹ thuật

trong nơng nghiệp thì đòi hỏi phải chấm dứt tình trạng manh mún phân tán ruộng

đất hiện nay, thúc đẩy q trình tích tụ ruộng đất.

Hướng đi hợp lý là đất đai sẽ tập trung trong tay các hộ nông dân được trang

bị vốn, khoa học kỹ thuật, thong tin thị trường và lien kết chặt chẽ với các hợp tác

xã, doanh nghiệp. Bộ phận dân cư không đất sản xuất sẽ trở thành công nhân nơng

nghiệp hoặc tham gia khu vực phi nơng nghiệp. Có như vậy các hộ mới yên tâm

sản xuất và tập trung đầu tư đất đai được sử dụng lâu dài của mình.



11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực trạng tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Điện Biên

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×