Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.12 Chỉ tiêu trích lập dự phòng tại NHNo&PTNT Việt Nam-

Bảng 2.12 Chỉ tiêu trích lập dự phòng tại NHNo&PTNT Việt Nam-

Tải bản đầy đủ - 0trang

53



tuyển dụng kinh nghiệm thực tế còn ít, bản lĩnh nghề nghiệp chưa cao nên sự

tự chủ trong thẩm định tín dụng rất hạn chế, do đó u cầu về tính độc lập

trong thẩm định và quyết định cho vay dễ bị phá vỡ, nguy cơ rủi ro tín dụng

vẫn tiềm ẩn.

- Sự tăng trưởng tín dụng thiếu một định hướng cụ thể và rõ ràng trên

cơ sở phân tích tình hình thị trường nên tính bất ổn sẽ cao.

- Tính phức tạp trong hoạt động kinh tế với sự gia tăng các vụ lừa đảo

tinh vi đã gây nên rủi ro cho cơng tác tín dụng, đặc biệt trong điều kiện tình

trạng thơng tin bất cân xứng mà chưa có một hệ thống thơng tin tín dụng hữu

hiệu để hạn chế những rủi ro đó.

- Danh mục đầu tư tín dụng kém đa dạng, đối tượng đầu tư chủ yếu là

đầu tư trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp nông thôn, phụ thuộc khá lớn về

điều kiện tự nhiên như thời tiết, dịch bệnh trong SXKD tạo cho rủi ro về tín

dụng khá cao trong hoạt động ngân hàng.

- Tỷ lệ cho vay có bảo đảm bằng tài sản có xu hướng tăng trong những

năm gần đây. Tuy nhiên phần lớn tài sản bảo đảm tiền vay thanh khoản kém

nên khả năng thu hồi để giảm tổn thất khi rủi ro xảy ra chưa cao.

* Những nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng

Qua thực tế trên cho thấy: chất lượng tín dụng tại Chi nhánh chưa cao,

NQH có chiều hướng gia tăng. Nguyên nhân chủ yếu đó là:

- Nhân tố thuộc về ngân hàng:

+ Năng lực thẩm định của cán bộ còn nhiều hạn chế, một số dự án đầu

tư khơng được thẩm định chính xác về năng lực vốn, nguồn lao động tại khu

vực triển khai dự án, năng lực của chủ doanh nghiệp nên khi dự án hồn thành

khơng thể đi vào hoạt động, khơng thể trả nợ vay ngân hàng.



54



+ Quá trình kiểm tra, giám sát sau khi cho vay của ngân hàng còn nhiều

sơ hở, sai sót nên khơng thể giám sát được việc sử dụng vốn vay của khách

hàng cũng như không kịp thời thu hồi được tiền hàng để thu nợ. Do sự kiểm

soát quá lỏng lẻo nên mặc dù một số phương án vay có hiệu quả, tiền bán

hàng đã được trả nhưng khách hàng không trả nợ cho ngân hàng mà sử dụng

số tiền đó vào những mục đích khác không hiệu quả và bị tổn thất. Việc kiểm

tra đảm bảo tiền vay không thực hiện trên thực tế mà thực hiện trên giấy tờ,

không kiểm tra kho thực tế hoặc kiểm tra một cách qua loa, chiếu lệ nên

khách hàng lợi dụng để thực hiện những mục đích riêng nằm ngồi tầm kiểm

sốt của ngân hàng. Hơn nữa, địa bàn hoạt động ở khu vực nông thôn rộng

lớn, địa hình hiểm trở, mỗi cán bộ tín dụng phải theo dõi lượng khách hàng

quá lớn nên không nắm sát tình hình biến động trong quá trình sử dụng tiền

vay của khách hàng.

+ Xác định giới hạn tín dụng chưa hợp lý, quá cao so với khả năng chịu

nợ của khách hàng, chưa coi trọng xác định được rủi ro tổng thể của khách

hàng để phân định hạn mức cấp tín dụng chính xác nên cho vay ồ ạt, có tâm

lý chủ quan.

+ Thiếu thông tin khách hàng, chất lượng thơng tin chưa cao, từ đó việc

phân tích, đánh giá, nhận định tình hình khách hàng thiếu chính xác cũng làm

ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.

+ Cơng tác kiểm tra, kiểm tốn nội bộ còn mang nặng tính hình thức,

thiếu tính độc lập nên chưa phát huy được vai trò của mình.

- Nhân tố thuộc về khách hàng:

+ Các hộ sản xuất cá thể hầu hết đều dựa hoàn toàn vào vốn vay ngân

hàng, các doanh nghiệp, nhất là DNNN và DNNQD có vốn tự có thấp, phần

lớn các doanh nghiệp này có cơ cấu tài chính kém lành mạnh, hoạt động chủ



55



yếu vào vốn vay, vốn chủ sở hữu khơng đáng kể. Do đó khơng có khả năng tự

phòng vệ trước những biến động của bên ngồi, đồng thời áp lực lãi vay làm

cho khó khăn lại càng chồng chất khó khăn.

+ Các doanh nghiệp khơng có chiến lược kinh doanh có tính khả thi và

tầm nhìn chiến lược, khơng có sự chuẩn bị kỹ càng về đầu tư vùng nguyên

liệu cũng như những nghiên cứu đánh giá thị trường một cách chi tiết và dự

báo chính xác. Do đó doanh nghiệp hoạt động và đầu tư kinh doanh theo kiểu

phong trào nên rủi ro xảy ra là khơng thể tránh khỏi.

- Nhân tố bên ngồi:

+ Do những biến động của thị trường và chính sách của nhà nước làm

cho doanh nghiệp khơng có khả năng phản ứng kịp thời dẫn đến kinh doanh

thua lỗ.

Hệ thống pháp luật nước ta trong những năm qua đã có nhiều chuyển

biến tích cực, nhưng so với yêu cầu của một nước có nền kinh tế thị trường thì

vẫn còn nhiều bất cập, còn chồng chéo, mâu thuẫn nhau, gây khó khăn trong

q trình vay vốn, phát mãi tài sản… Ngồi ra, môi trường kinh tế, môi

trường đầu tư chưa ổn định. Thị trường trong nước thiếu đồng bộ, thiếu tính

dự báo. Các chính sách kinh tế vĩ mơ, nhất là chính sách tiền tệ, nhà đất hay

thay đổi, có nhiều biến động gây bất lợi cho hoạt động ngân hàng.

+ Nguồn thơng tin tín dụng tại NHNN còn sơ sài, chưa tạo điều kiện

cho ngân hàng khai thác hiệu quả.

+ Do ảnh hưởng của thiên tai, gây thiệt hại cho tài sản của khách hàng

vay. Khu vực miền Trung là khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai như

bão, lũ lụt… nên gây tổn thất đáng kể cho tài sản của khách hàng, làm ảnh

hưởng đến tình hình kinh doanh và khả năng trả nợ.



56



2.3.2. Thực trạng công tác hạn chế rủi ro tín dụng

2.3.2.1. Quan điểm chỉ đạo của NHNo&PTNT Việt Nam về

quản trị rủi ro tín dụng

- Chính sách tín dụng:

+ Chính sách tín dụng xác định những giới hạn áp dụng cho các hoạt

động tín dụng. Đồng thời cũng thiết lập môi trường nhằm giảm bớt rủi ro

trong hoạt động tín dụng.

+ Chính sách tín dụng được đưa ra nhằm bảo đảm rằng mỗi quyết định

tín dụng (quyết định tài trợ vốn) đều khách quan, tuân thủ quy định của

NHNN VN và phù hợp thông lệ chung của quốc tế. Không một tổ chức, cá

nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào quyền tự chủ trong quá trình cho

vay và thu hồi nợ của NHNo & PTNT VN. Chính sách tín dụng xác định:

* Các đối tượng có thể vay vốn của NHNo & PTNT VN

* Phương thức quản lý các hoạt động tín dụng

* Những ràng buộc về tài chính

* Các loại sản phẩm tín dụng khác nhau do ngân hàng cung cấp

* Nguồn vốn dùng để tài trợ cho các hoạt động tín dụng

* Phương thức quản lý danh mục cho vay

* Thời hạn và điều kiện áp dụng cho các loại sản phẩm tín dụng khác

nhau

- Chính sách quản lý rủi ro tín dụng: NHNo&PTNT Việt Nam đã

có quy định về Chính sách quản lý rủi ro tín dụng nhằm mục đích:

+ Thống nhất cơ chế quản lý rủi ro tín dụng trong tồn hệ thống;

+ Tạo mơi trường quản lý rủi ro tín dụng minh bạch và hiệu quả;

+ Đảm bảo hoạt động kinh doanh phát triển bền vững, chủ động đối

phó với rủi ro tín dụng;



57



+ Xác định và phân chia trách nhiệm quản lý rủi ro tín dụng đối với

từng cấp bậc trong ngân hàng. [16]

Chính sách quản lý rủi ro tín dụng là văn bản cao nhất trong lĩnh

vực quản lý rủi ro tín dụng của NHNo&PTNT Việt Nam. Trong chính sách

quản lý rủi ro tín dụng, NHNo&PTNT Việt Nam phân định rõ bộ máy tổ chức

quản lý rủi ro tín dụng; thẩm quyền ban hành các văn bản quản lý rủi ro tín

dụng; chính sách quản lý tín dụng đối với khách hàng; chính sách phân bổ tín

dụng; chính sách về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín

dụng; thẩm quyền phán quyết; quy định về báo cáo và kiểm tra giám sát rủi

ro. Đây là những cơ sở quan trọng cho các Chi nhánh trong thực hiện chính

sách quản lý rủi ro tín dụng.

2.3.2.2. Các nội dung cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng

Là một đơn vị trực thuộc, Chi nhánh tuân thủ các yêu cầu về chính sách

tín dụng, các quy trình tín dụng của NHNo&PTNT Việt Nam. Theo quy định,

một số nội dung trong công tác quản trị chất lượng tín dụng của Chi nhánh

như sau:

a. Chính sách quản lý chất lượng tín dụng đối với khách hàng

Chất lượng tín dụng của khách hàng được quản lý theo ngun tắc tồn

diện, liên tục, thơng qua các quy định cụ thể của từng loại nghiệp vụ tín dụng.

- Giới hạn cấp tín dụng đối với khách hàng: tuân thủ các quy định về

giới hạn cho vay, bảo lãnh đối với khách hàng theo quy định của NHNN và

NHNo&PTNT Việt Nam.

- Giới hạn tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp: thực hiện xếp

hạng tín dụng nội bộ nhằm lượng hóa mức độ rủi ro của từng khách hàng, xác

định giới hạn tín dụng nhằm quản lý tổng mức rủi ro tín dụng. Xếp hạng tín



58



dụng nội bộ có 10 hạng: AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC, C, D, những

khách hàng có mức xếp hạng tín dụng từ CC trở xuống sẽ không cho vay. Cơ

cấu điểm, mức điểm, kỹ thuật chấm điểm áp dụng trong xếp hạng tín dụng

được cải tiến liên tục thơng qua thực tiễn triển khai để phù hợp với thực tế.

- Hạn chế cấp tín dụng đối với khách hàng: tuân thủ các quy định của

pháp luật các trường hợp không được cấp tín dụng và hạn chế cấp tín dụng,

đồng thời thực hiện chủ trương giảm dư nợ tín dụng, hạn chế cấp tín dụng

mới đối với các khách hàng có dấu hiệu rủi ro (được quy định cụ thể cho từng

loại khách hàng).

b. Chính sách phân bổ tín dụng

- Phân bổ theo vùng địa lý: thực hiện phân chia phạm vi cấp tín dụng

theo khu vực địa lý dựa trên năng lực, vị trí của từng Chi nhánh; chủ trương

ưu tiên mở rộng hoạt động tín dụng tại những nơi có điều kiện mở rộng tín

dụng và chất lượng tín dụng bảo đảm, khống chế dư nợ tín dụng tối đa đối với

những chi nhánh có chất lượng tín dụng thấp.

- Phân bổ theo kỳ hạn vay và loại tiền vay: bảo đảm sự phù hợp giữa cơ

cấu kỳ hạn và loại tiền vay với cơ cấu nguồn vốn.

- Phân bổ theo loại hình sản phẩm, đối tượng khách hàng, mặt hàng và

lĩnh vực đầu tư: đa dạng hóa các sản phẩm vay theo nguyên tắc hạn chế tối đa

rủi ro, đa dạng hóa các đối tượng khách hàng nhằm giảm thiểu hóa rủi ro có

thể xảy ra, đa dạng hóa mặt hàng và lĩnh vực đầu tư theo nguyên tắc phù hợp

với xu hướng phát triển kinh tế.

c. Chính sách phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng

NHNo&PTNT thực hiện phân loại nợ theo quy định của NHNN, đặc

biệt những khoản nợ xấu sẽ tăng cường phân loại nợ, đánh giá khả năng trả nợ



59



với tần suất nhiều hơn để phục vụ công tác quản lý chất lượng và rủi ro tín

dụng. Định hướng của NHNo&PTNT trong thời gian tới sẽ thực hiện phân

loại nợ trên cơ sở xếp hạng khách hàng và tiến tới trích lập dự phòng theo

thơng lệ quốc tế tốt nhất.

d. Thẩm quyền phán quyết

Thẩm quyền phán quyết bao gồm thẩm quyền phê duyệt giới hạn tín

dụng, thẩm quyền ra quyết định cấp tín dụng, thẩm quyền ký kết hợp đồng tín

dụng. Các thẩm quyền này được phân theo từng cấp bậc trong NHNo&PTNT

(Thẩm quyền phán quyết của Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc, Phó Tổng

Giám đốc phụ trách tín dụng, các Trưởng/phó phòng chức năng tại Hội sở

chính, Hội đồng tín dụng cơ sở, Giám đốc Chi nhánh…)

Thẩm quyền phán quyết của Chi nhánh được quy định tại Quyết định

528/QĐ-HDQT-TDDN ngày 21/5/2010 v/v Quy định phân cấp phán quyết tín

dụng trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam. Mức phán quyết cho vay tối

đa được xác định đối với một khách hàng dựa trên nguyên tắc sau:

- Tính chất, khả năng hoạt động của từng thành phần kinh tế.

- Mức độ phức tạp của đối tượng cho vay.

- Trình độ quản lý, mức độ thu nhận thông tin của từng loại Chi nhánh

ngân hàng.

- Mức độ cạnh tranh giữa các TCTD trên cùng một địa bàn.

- Giới hạn cho vay tối đa đối với một khách hàng theo quy định của

pháp luật. [17]

Khi khoản vay có nhu cầu vay vượt quyền phán quyết, CBTD tại

NHCV phải lập hồ sơ theo quy định gửi NHNo&PTNT cấp trên xem xét phê



60



duyệt. Chỉ khi có thơng báo của bậc phê duyệt cấp trên, đơn vị tiếp nhận hồ

sơ xin vay của khách hàng mới được thực hiện giải ngân.

Trên cơ sở đó NHNo&PTNT Việt Nam- chi nhánh Quảng Bình cũng đã

ban hành C/v 443/NHNo-HCNS ngày 01/6/2010 quy định thẩm quyền phán

quyết tín dụng trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam- chi nhánh Quảng

Bình.

e. Các quy định về báo cáo, kiểm tra giám sát rủi ro

Thực hiện các báo cáo theo định kỳ về chất lượng tín dụng trong tồn

hệ thống để đánh giá cơng tác quản lý rủi ro, đồng thời đề xuất các biện pháp

nhằm nâng cao chất lượng tín dụng.

2.3.2.3. Thực trạng về quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh

a. Quy trình tín dụng

Hiện nay Chi nhánh đang thực hiện 2 quy trình tín dụng dành có các

đối tượng khách hàng khác nhau:

- Quy trình cho vay và quản lý tín dụng dân cư: áp dụng đối với các

khách hàng là tư nhân cá thể, hộ gia đình.

- Quy trình cho vay và quản lý tín dụng doanh nghiệp: áp dụng đối với

các khách hàng là doanh nghiệp. [16]

Về cơ bản, quy trình cấp tín dụng đối với tư nhân cá thể, hộ gia

đình khá tương đồng với quy trình đối với các doanh nghiệp về các bước thực

hiện. Điểm khác biệt nhất của quy trình cho vay doanh nghiệp là có bước

chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng. Ngoài ra hệ thống mẫu biểu

hướng dẫn cũng khác nhau phù hợp với các đối tượng khách hàng khác nhau.

Việc xây dựng 02 quy trình tín dụng cho 02 đối tượng khách hàng là vô cùng

hợp lý do 02 đối tượng khách hàng có mức độ rủi ro khác nhau, tính chất



61



pháp lý khác nhau, tính chất phức tạp của hoạt động kinh doanh cũng khác

nhau…

Tuy nhiên, quy trình thẩm định và cho vay còn một số điểm chưa

hợp lý, liên quan đến việc phân cấp trách nhiệm của cán bộ thẩm định. Một

điểm yếu của quy trình thẩm định và cho vay hiện nay là cán bộ tín dụng vẫn

thực hiện cả ba khâu cơ bản trong quá trình cho vay là: tiếp xúc khách hàng,

thẩm định phương án vay vốn, giải ngân và thu nợ. Đây là trách nhiệm nặng

nề đối với cán bộ tín dụng nhưng cũng là cơ hội để một số ít cán bộ tín dụng

thối hố, biến chất lợi dụng để móc ngoặc với khách hàng vay vốn, cố tình

làm sai lệch thơng tin để thu lợi cá nhân, tăng nguy cơ phát sinh rủi ro tín

dụng.

b. Phòng ngừa, phát hiện và hạn chế rủi ro tín dụng

Kiểm tra và phát hiện các dấu hiệu rủi ro là công việc không chỉ của các

cán bộ tham gia vào quy trình cấp tín dụng mà còn được quán triệt đến từng cán

bộ Chi nhánh. Thực tế những năm qua cho thấy, công tác phát hiện rủi ro tín

dụng của Chi nhánh mang tính thụ động, chủ yếu là xử lý khi những dấu hiệu rủi

ro đã xuất hiện (không trả được nợ đúng hạn, khách hàng có liên quan đến các

vụ án, kinh doanh thua lỗ, kết quả phân loại nợ không tốt…), khả năng dự báo

và phòng ngừa từ xa chưa tốt do sự hạn chế về trình độ, kinh nghiệm của cán bộ;

hệ thống thông tin thị trường và xử lý thông tin qua các phân tích, dự báo chưa

tốt; cơng tác kiểm tra sử dụng vốn còn hời hợt, chủ yếu dựa vào báo cáo do

khách hàng cung cấp, đặc biệt là các khách hàng ở xa…

Bộ phận kiểm tra nội bộ hiện tại của Chi nhánh còn mỏng trong khi phải

nhận trách nhiệm kiểm tra tất cả các hoạt động của Chi nhánh. Do đó tần suất

kiểm tra cơng tác tín dụng chưa nhiều. Bên cạnh đó, trình độ cán bộ chưa tương

xứng với yêu cầu công việc. Theo mô hình cơ cấu tổ chức hiện nay, tính độc lập



62



của bộ phận kiểm tra nội bộ chưa cao do vẫn thuộc sự chỉ đạo trực tiếp của Ban

lãnh đạo Chi nhánh. Điều này dẫn đến chất lượng kiểm tra chưa cao, còn mang

nặng tính hình thức.

c. Bảo đảm tiền vay

Phương án kinh doanh khả thi, hiệu quả là tiêu chí quyết định trong

việc xem xét cho vay. Tuy nhiên những rủi ro tín dụng rất đa dạng và có

những rủi ro nằm ngồi tầm kiểm sốt của con người mà thẩm định tín dụng

khơng thể lường hết được. Đồng thời việc áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền

vay sẽ nâng cao tính chịu trách nhiệm và chia sẻ rủi ro của khách hàng với

ngân hàng. Do đó Chi nhánh tăng cường áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền

vay, đa dạng về hình thức: thế chấp, cầm cố tài sản, bảo đảm bằng tài sản hình

thành từ vốn vay… Do đó tỷ lệ cho vay có bảo đảm bằng tài sản có xu hướng

gia tăng, góp phần vào giảm thiểu tổn thất khi rủi ro xảy ra.

Tuy tỷ lệ tài sản bảo đảm được nâng cao nhưng tính thanh khoản của

các tài sản còn hạn chế nên khả năng thu hồi nợ sẽ thấp hơn. Một số tài sản

không có giấy tờ về quyền sở hữu, một số tài sản khác là quyền đòi nợ mà khả

năng kiểm sốt nguồn thu rất khó khăn. Do đó, khi xử lý tài sản bảo đảm trên

thực tế rất phức tạp, cả về mặt pháp lý cũng như khả năng chuyển nhượng tài

sản, mất rất nhiều thời gian và công sức.

d. Công tác xử lý nợ xấu

Để xử lý nợ xấu một cách hiệu quả, Chi nhánh linh hoạt trong xây dựng

các giải pháp xử lý nợ phù hợp với tình hình thực tế. Những giải pháp Chi

nhánh đã thực hiện trong thời gian qua là:

- Thường xuyên kiểm tra và phân loại lại nợ xấu, từ đó đưa ra các giải

pháp thu hồi phù hợp, xử lý nghiêm khắc đối với cán bộ có hành vi vi phạm quy

định chế độ hiện hành về cho vay dẫn đến thất thoát vốn. Trường hợp phát hiện



63



hồ sơ cho vay còn sai sót hoặc chưa đầy đủ thủ tục theo quy định thì cần thực

hiện việc bổ sung hồ sơ nhằm bảo đảm an toàn cho khoản vay.

- Thực hiện chuyển NQH triệt để đối với các khoản vay đã vượt chu kỳ

SXKD, vượt thời hạn cho vay tuy chưa hết thời hạn gia hạn. Tiến hành trích lập

dự phòng rủi ro đầy đủ, kịp thời, đồng thời hoàn thiện hồ sơ, thủ tục để xử lý

các khoản vay đủ điều kiện theo quy định.

- Phối kết hợp với cấp uỷ, chính quyền địa phương, các cơ quan pháp

luật bằng nhiều biện pháp như: phát mại tài sản, cưỡng chế tài sản, … thu hồi

những khoản nợ cố tình chây ỳ, dây dưa.

- Định kỳ thực hiện việc đánh giá và khen thưởng đối với các cá nhân,

tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác thu hồi, giảm thấp NQH, nợ

khoanh, nợ tồn đọng và nợ xử lý rủi ro, đồng thời kỷ luật hành chính đối với

những đơn vị có kết quả và biểu hiện yếu kém trong công tác quản lý, điều

hành hoạt động tín dụng.

Với những nỗ lực của Chi nhánh, tổn thất tín dụng đã được giảm thiểu

đáng kể, góp phần lành mạnh hóa tình hình tài chính. Đối với nợ đã xử lý

bằng dự phòng rủi ro xác định rõ việc sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý các

khoản nợ xấu là giải pháp để lành mạnh hóa tình hình tài chính, còn ngân

hàng vẫn phải có trách nhiệm kiên trì thu hồi nợ để giảm thiệt hại đến mức

thấp nhất.

2.3.2.4. Những tồn tại

a. Những hạn chế về quy chế, chính sách của NHNo&PTNT Việt Nam

- Hệ thống đo lường rủi ro còn nhiều bất cập:

+ Hệ thống phân hạng khách hàng trên cơ sở chấm điểm tín dụng khách

hàng còn nhiều bất cập và thiếu cơ sở khoa học. Đặc biệt phương pháp lượng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.12 Chỉ tiêu trích lập dự phòng tại NHNo&PTNT Việt Nam-

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×