Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Khi rủi ro xảy ra, trước hết cần theo dõi, xác định những tổn thất về tài sản, về nguồn nhân lực, về giá trị pháp lý. Sau đó cần có những biện pháp tài trợ rủi ro thích hợp như tự khắc phục rủi ro, chuyển giao rủi ro, trung hòa rủi ro. [18]

Khi rủi ro xảy ra, trước hết cần theo dõi, xác định những tổn thất về tài sản, về nguồn nhân lực, về giá trị pháp lý. Sau đó cần có những biện pháp tài trợ rủi ro thích hợp như tự khắc phục rủi ro, chuyển giao rủi ro, trung hòa rủi ro. [18]

Tải bản đầy đủ - 0trang

19



dụng nhiều mơ hình để đánh giá RRTD tiềm tàng của mỗi khách hàng ngay từ

khâu phân tích hồ sơ xin vay, cập nhật đánh giá xếp hạng khách hàng trong

q trình vay trả nợ, phân tích khả năng vỡ nợ của khách hàng để xác định

chiến lược xử lý nợ xấu trong tín dụng là “duy trì” hay “rút lui”.

1.2.3.1. Mơ hình định tính về rủi ro tín dụng

(+) Phân tích tín dụng cơ sở hình thành một khoản cho vay tốt

Tổng kết từ kinh nghiệm của các NHTM trên thế giới cho thấy rằng khi

xem xét một hồ sơ xin vay, phòng tín dụng phải trả lời thoả đáng 3 câu hỏi

sau:

Câu 1. Người xin vay có đáng tin cậy khơng? Làm sao có thể biết?

Câu 2. Liệu hợp đồng tín dụng có thể được cấu trúc để bảo vệ an toàn

khoản vay cũng như tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng món vay một cách

hiệu quả khơng?

Câu 3. Liệu ngân hàng có quyền đối với tài sản và thu nhập của khách

hàng trong trường hợp khoản cho vay có vấn đề và liệu ngân hàng có thể thu

hồi vốn nhanh chóng với rủi ro và chi phí thấp được khơng?

Để trả lời các câu hỏi đó ngân hàng cần đi sâu phân tích các nội dung:

* Xem xét các yếu tố liên quan đến người đi vay

- Tư cách người vay (Character): đánh giá lịch sử đi vay và trả nợ vay

của khách hàng, làm rõ mục đích xin vay của khách hàng có phù hợp với

ngành nghề kinh doanh, quy định pháp luật và chính sách tín dụng của ngân

hàng.

- Năng lực của người vay (Capacity): người đi vay phải có năng

lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự.



20



- Thu nhập của người vay (Cashflow): xác định nguồn trả nợ của

khách hàng vay.

- Bảo đảm tiền vay (Collateral): là nguồn tài sản thứ hai có thể

dùng để trả nợ vay cho ngân hàng.

- Các điều kiện (Conditions): ngân hàng quy định các điều kiện

tùy theo chính sách tín dụng từng thời kỳ.

- Kiểm soát (Control): đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi

của luật pháp, quy chế hoạt động, khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu

chuẩn của ngân hàng.

* Xem xét tính chặt chẽ của hợp đồng tín dụng

Một hợp đồng tín dụng được cấu trúc hợp lý phải bảo vệ được ngân

hàng và những người mà ngân hàng đại diện (những người gửi tiền và các cổ

đông), hạn chế những hoạt động có thể đe doạ tới khả năng thu hồi vốn của

ngân hàng. Quá trình thu hồi vốn cho vay bao gồm thời điểm và địa điểm phải

được xác định rõ ràng trong hợp đồng tín dụng.

(+) Kiểm tra tín dụng: Theo nguyên lý chung để bảo đảm giám sát an

toàn khoản vay, hầu hết các ngân hàng đều thực hiện 5 vấn đề cơ bản:

- Một là, tiến hành kiểm tra tất cả các loại tín dụng theo định kỳ nhất

định, ví dụ định kỳ 30, 60, 90 ngày đối với các khoản tín dụng nhỏ và vừa;

đối với những khoản tín dụng lớn thì thường xun hơn; thậm chí những

khoản cho vay có vấn đề được kiểm tra theo tuần, ngày.

- Hai là, xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung kiểm tra một cách

thận trọng và chi tiết, bảo đảm những nội dung quan trọng xung quanh một

khoản vay phải được kiểm tra.



21



- Ba là, kiểm tra thường xuyên khoản cho vay lớn, bởi vì một khi khách

hàng vay lớn có vấn đề lập tức ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình tài

chính của ngân hàng.

- Bốn là, quản lý chặt chẽ và thường xuyên khoản vay có vấn đề, tăng

cường kiểm tra giám sát phát hiện những dấu hiệu khơng bình thường liên

quan đến khoản vay và được báo cáo kịp thời đến các cấp lãnh đạo để có biện

pháp xử lý kịp thời.

- Năm là, tăng cường kiểm tra, rà soát lại khoản cho vay khi nền kinh tế

có những biểu hiện đi xuống, hoặc ngành nghề sử dụng nhiều tín dụng có

những vấn đề nghiêm trọng trong q trình phát triển để có biện pháp ứng phó

điều chỉnh, hạn chế giảm thiểu rủi ro tín dụng.

Qua kiểm tra, rà sốt cần phải nhận biết những dấu hiệu của khoản cho

vay có vấn đề và những biểu hiện về chính sách cho vay của ngân hàng kém

hiệu quả để có ứng phó điều chỉnh kịp thời.

(+) Xử lý tín dụng có vấn đề:

- Khẩn trương tìm hiểu và báo cáo kịp thời mọi vấn đề liên quan đến

khoản vay.

- Trách nhiệm xử lý tín dụng độc lập với chức năng cho vay.

- Chuyên gia xử lý tín dụng cần hội ý khẩn với khách hàng vay về các

giải pháp có thể.

- Dự tính nguồn thu nợ, cân nhắc mọi phương án có thể để thu hồi nợ

có vấn đề, bao gồm cả việc thỏa thuận gia hạn nợ tạm thời nếu khách hàng

gặp khó khăn tạm thời hoặc yêu cầu bổ sung tài sản đảm bảo, cơ cấu lại doanh

nghiệp, nộp đơn xin phá sản…

(+) Hệ thống chỉ tiêu tài chính đánh giá khách hàng:



22



- Nhóm chỉ tiêu thanh khoản

- Nhóm chỉ tiêu hoạt động

- Nhóm chỉ tiêu đòn bẩy

- Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời.

1.2.3.2. Các mơ hình lượng hóa về rủi ro tín dụng

* Mơ hình xếp hạng của Moody và Standard & Poor

Rủi ro tín dụng trong cho vay và đầu tư thường được thể hiện

bằng việc xếp hạng trái phiếu và khoản cho vay, trong đó Moody và Standard

& Poor là những công ty cung cấp dịch vụ này tốt nhất. Moody và Standard &

Poor xếp hạng trái phiếu và khoản cho vay theo 9 hạng theo chất lượng giảm

dần, trong đó 4 hạng đầu ngân hàng nên cho vay, còn các hạng sau thì khơng

nên đầu tư, cho vay.

* Mơ hình điểm số Z (Z- credit scoring model)

Mơ hình do E.I.Altman sử dụng để cho điểm tín dụng các doanh

nghiệp, theo mơ hình điểm như sau:

Z = 1,2X1 + 1,4X2 +3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5

Trong đó:

+ X1 = hệ số vốn lưu động/tổng tài sản

+ X2 = hệ số lãi chưa phân phối/tổng tài sản

+ X3 = hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi/tổng tài sản

+ X4 = hệ số giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu/giá trị hạch

toán của nợ.

+ X5 = hệ số doanh thu/tổng tài sản

Trị số Z càng cao thì xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp

và ngược lại. Theo mơ hình cho điểm Z của Altman, bất cứ cơng ty nào có



23



điểm số thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng

cao.

* Mơ hình tính điểm

Với hệ thống thơng tin cá nhân sẵn có, các ngân hàng sử dụng hệ thống

cho điểm để đánh giá mức rủi ro của khách hàng để cấp tín dụng theo các mức

cho vay cụ thể. Hệ thống cho điểm này đã được nhiều ngân hàng tự động hố,

được khách hàng rất ưa thích, vì nó rút ngắn thời gian xử lý một món vay.

Rõ ràng mơ hình điểm số đã loại bỏ được sự phán xét chủ quan trong

quá trình cho vay và giảm đáng kể thời gian quyết định tín dụng của ngân

hàng. Tuy nhiên mơ hình này cũng có nhược điểm là khơng thể tự điều chỉnh

để thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế, đặc trưng riêng của từng

khách hàng, bỏ sót những khách hàng lành mạnh.

1.2.4. Phương pháp quản trị rủi ro tín dụng

- Thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cho vay, bảo lãnh, cho

thuê tài chính, chiết khấu, bao thanh tốn và bảo đảm tiền vay; xem xét và

quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản hoặc cho vay khơng có bảo

đảm bằng tài sản, cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay,

tránh các vướng mắc khi xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay. Đặc biệt

chú trọng thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng, khơng để nợ

xấu gia tăng;

- Tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành các nguyên tắc, thủ tục

cho vay và cấp tín dụng khác, tránh xảy ra sự cố gây thất thoát tài sản, sắp xếp

tổ chức lại bộ máy, tăng cường công tác đào tạo cán bộ đáp ứng yêu cầu kinh

doanh ngân hàng trong điều kiện hội nhập quốc tế;



24



- Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với hoạt động

kinh doanh, đối tượng khách hàng, tính chất rủi ro của các khoản nợ;

- Thực hiện chính sách quản lý rủi ro tín dụng, mơ hình giám sát rủi ro

tín dụng, phương pháp xác định và đo lường rủi ro tín dụng có hiệu quả, trong

đó bao gồm cách thức đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, hợp đồng tín

dụng, các tài sản đảm bảo, khả năng thu hồi nợ và quản lý nợ của tổ chức tín

dụng;

- Thực hiện các quy định đảm bảo kiểm sốt rủi ro và an tồn hoạt động

tín dụng: xây dựng quy chế, quy trình nội bộ về quản lý rủi ro, xếp hạng

khách hàng vay, đánh giá chất lượng tín dụng và xử lý nợ xấu, thực hiện các

quy định về giới hạn cấp tín dụng, mở rộng tín dụng trung dài hạn ở mức

thích hợp, đảm bảo cân đối thời hạn cho vay và thời hạn của nguồn vốn huy

động;

- Phân tán rủi ro trong cho vay: không dồn vốn cho vay quá nhiều đối

với một khách hàng hoặc không tập trung cho vay quá nhiều vào một ngành,

lĩnh vực kinh tế có rủi ro cao;

- Thực hiện tốt việc thẩm định khách hàng và khả năng trả nợ;

- Có một chính sách tín dụng hợp lý và duy trì các khoản dự phòng để

đối phó với rủi ro;

- Đánh giá khách hàng theo những quy định được quy chuẩn;

- Thực hiện quản lý rủi ro tín dụng thơng qua các cơng cụ tín dụng phái

sinh như hốn đổi tín dụng (credit swap), quyền chọn tín dụng (credit option).



25



1.2.5. Kinh nghiệm trong quản trị rủi ro tín dụng trên thế giới

1.2.5.1. Nguyên tắc của Basel về quản lý nợ xấu

Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng là một ủy ban bao gồm các

chuyên gia giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập vào năm 1975 bởi

các Thống đốc Ngân hàng Trung ương của nhóm G10 (Bỉ, Canada, Pháp,

Đức, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Điển, Vương quốc Anh và Mỹ). Ủy ban tổ

chức họp thường niên tại trụ sở Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) tại

Washington (Mỹ) hoặc tại Thành phố Basel (Thụy Sĩ).

Quan điểm của Ủy ban Basel: sự yếu kém trong hệ thống ngân

hàng của một quốc gia, dù quốc gia phát triển hay đang phát triển, sẽ đe dọa

đến sự ổn định về tài chính trong cả nội bộ quốc gia đó. Vì vậy nâng cao sức

mạnh của hệ thống tài chính là điều mà Ủy ban Basel quan tâm. Ủy ban Basel

khơng chỉ bó hẹp hoạt động trong phạm vi các nước thành viên mà mở rộng

mối liên hệ với các chuyên gia trên toàn cầu và ban hành 2 ấn phẩm:

- Những nguyên tắc cơ bản cho việc giám sát hoạt động của ngân hàng

một cách hiệu quả (hệ thống các nguyên tắc và chuẩn mực về biện pháp thận

trọng)

- Tài liệu hướng dẫn (được cập nhật định kỳ) với các khuyến cáo,

các hướng dẫn và tiêu chuẩn của Ủy ban Basel.

Như vậy từ chỗ là diễn đàn trao đổi kinh nghiệm, hợp tác quốc tế

về thanh tra và giám sát ngân hàng, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng ngày

nay đã trở thành cơ quan xây dựng và phát triển các chuẩn mực ngân hàng

được quốc tế công nhận. Ủy ban Basel đã ban hành 17 nguyên tắc về quản lý

nợ xấu mà thực chất là đưa ra các nguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng,

đảm bảo tính hiệu quả và an tồn trong hoạt động cấp tín dụng. Các nguyên

tắc này tập trung vào các nội dung cơ bản sau đây:



26



- Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp (3 nguyên tắc): trong nội

dung này, Ủy ban Basel yêu cầu Hội đồng quản trị phải thực hiện phê duyệt

định kỳ chính sách rủi ro tín dụng, xem xét rủi ro tín dụng và xây dựng một

chiến lược xuyên suốt trong hoạt động của ngân hàng (tỷ lệ nợ xấu, mức độ

chấp nhận rủi ro…). Trên cơ sở này, Ban Tổng giám đốc có trách nhiệm thực

thi các định hướng này và phát triển các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện,

đo lường, theo dõi và kiểm soát nợ xấu trong mọi hoạt động, ở cấp độ của

từng khoản tín dụng và cả danh mục đầu tư. Các ngân hàng cần xác định và

quản lý rủi ro tín dụng trong mọi sản phẩm và hoạt động của mình, đặc biệt là

các sản phẩm mới phải có sự phê duyệt của Hội đồng quản trị hoặc Ủy ban

của Hội đồng quản trị.

- Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh (4 nguyên tắc): các ngân hàng

cần xác định rõ ràng các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh (thị trường mục tiêu,

đối tượng khách hàng, điều khoản và điều kiện cấp tín dụng…). Ngân hàng

cần xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng vay vốn và

nhóm khách hàng vay vốn để tạo ra các loại hình rủi ro tín dụng khác nhau

nhưng có thể so sánh và theo dõi được trên cơ sở xếp hạng tín dụng nội bộ đối

với khách hàng trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Ngân hàng phải có

quy trình rõ ràng trong phê duyệt tín dụng, các sửa đổi tín dụng với sự tham

gia của các bộ phận tiếp thị, bộ phận phận tích tín dụng và bộ phận phê duyệt

tín dụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia, đồng thời

cần phát triển đội ngũ nhân viên quản lý rủi ro tín dụng có kinh nghiệm, có

kiến thức nhằm đưa ra các nhận định thận trọng trong việc đánh giá, phê

duyệt và quản lý rủi ro tín dụng. Việc cấp tín dụng cần được thực hiện trên cơ

sở giao dịch công bằng giữa các bên, đặc biệt cần có sự cẩn trọng và đánh giá

hợp lý đối với các khoản tín dụng cấp cho các khách hàng có quan hệ.



27



- Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù

hợp (10 nguyên tắc): Các ngân hàng cần có hệ thống quản lý một cách cập

nhật đối với các danh mục đầu tư có rủi ro tín dụng, bao gồm cập nhật hồ sơ

tín dụng, thu thập thơng tin tài chính hiện hành, dự thảo các văn bản như hợp

đồng vay… theo quy mô và mức độ phức tạp của ngân hàng. Đồng thời hệ

thống này phải có khả năng nắm bắt và kiểm sốt tình hình tài chính, sự tuân

thủ các giao kèo của khách hàng … để phát hiện kịp thời những khoản vay có

vấn đề. Ngân hàng cần có hệ thống khắc phục sớm đối với các khoản tín dụng

xấu, quản lý các khoản tín dụng có vấn đề. Các chính sách rủi ro tín dụng của

ngân hàng cần chỉ rõ cách thức quản lý các khoản tín dụng có vấn đề. Trách

nhiệm đối với các khoản tín dụng này có thể được giao cho bộ phận tiếp thị

hay bộ phận xử lý nợ hoặc kết hợp cả hai bộ phận này, tùy theo quy mơ và

bản chất của mỗi khoản tín dụng. Ủy ban Basel cũng khuyến khích các ngân

hàng phát triển và xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản lý

rủi ro tín dụng, giúp phân biệt các mức độ rủi ro tín dụng trong các tài sản có

tiềm năng rủi ro của ngân hàng.

Như vậy trong xây dựng mơ hình quản lý rủi ro tín dụng, ngun tắc

Basel có một số điểm cơ bản:

- Phân tách bộ máy cấp tín dụng theo các bộ phận tiếp thị, bộ phận

phân tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch

ròi của các bộ phận tham gia.

- Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý rủi ro tín dụng.

- Xây dựng một hệ thống quản lý và cập nhật thông tin hiệu quả

để duy trì một q trình đo lường, theo dõi tín dụng thích hợp, đáp ứng yêu

cầu thẩm định và quản lý rủi ro tín dụng.



28



1.2.5.2. Mơ hình quản lý rủi ro tín dụng của Citibank

Citigroup là một trong những tập đồn tài chính có hiệu quả tốt

nhất trên thế giới, trong đó kết quả hoạt động của Citibank đã tạo nên một

nguồn thu lớn cho Citigroup. Citigroup có tổng tài sản năm 2004 là 1.484.101

triệu USD, vốn chủ sở hữu là 74.415 triệu USD. Đây là một tập đồn hàng

đầu khơng chỉ về quy mơ mà còn là đối thủ có sức mạnh trên thương trường

nhờ chính sách quản lý rủi ro của tập đồn. Trong mơi trường hoạt động ngân

hàng, Citibank đã xây dựng một khung quản trị rủi ro tín dụng, trong đó bao

gồm các chính sách tín dụng được tuyên bố một cách rõ ràng, quy trình quản

lý rủi ro, các công cụ và nguồn thông tin cần thiết để ra quyết định, về đội ngũ

nhân sự có cùng một sự hiểu biết, một ngôn ngữ chung, trách nhiệm về vai trò

của họ trong quy trình tín dụng. Citibank xây dựng quy trình tín dụng trên 2

đối tượng khách hàng là cá nhân và doanh nghiệp. Mục tiêu của quy trình tín

dụng hiệu quả là đảm bảo ngân hàng hoạt động đạt hiệu quả cao, rủi ro được

giảm thiểu một cách thấp nhất với lợi nhuận mục tiêu.

Ba giai đoạn trong chính sách tín dụng chủ chốt của Citibank bao gồm:

hình thành chiến lược và kế hoạch cho vay; tiến hành cho vay khách hàng;

đánh giá và báo cáo thực thi. Trách nhiệm của các bộ phận tham gia 3 giai

đoạn này được thể hiện cụ thể như sau:

- Ủy ban quản lý (Management Committee)

+ Thiết lập mục tiêu hoạt động và tiêu chuẩn danh mục đầu tư đối với

ngân hàng;

+ Đặt hạn mức tín dụng đối với ủy ban chính sách tín dụng;

- Ủy ban chính sách tín dụng (Credit policy committee)

+ Đặt ra hạn mức tín dụng cùng với ủy ban quản lý;



29



+ Xây dựng chính sách tín dụng;

+ Quản lý và đánh giá danh mục đầu tư và quản lý rủi ro tín

dụng.

- Bộ phận quản lý rủi ro (Line management)

+ Lập ra chiến lược kinh doanh;

+ Nhận định được thị trường mục tiêu và mức chấp nhận rủi ro;

+ Gặp gỡ khách hàng và đánh giá rủi ro;

+ Xét duyệt dư nợ rủi ro;

+ Theo dõi việc hồn trả và các hồ sơ tín dụng;

+ Theo dõi và duy trì giao dịch;

+ Giải ngân cho nhà đầu tư;

+ Theo dõi các vấn đề phát sinh trong q trình tín dụng;

+ Xúc tiến tiến độ khoản vay.

Giai đoạn 1: Hình thành chiến lược và kế hoạch kinh doanh

Ngoài việc xây dựng mục tiêu hoạt động tín dụng, đưa ra hạn mức tập

trung đối với khách hàng, các chính sách tín dụng đặc thù, nét nổi bậc trong

giai đoạn này Citibank chú trọng đến 3 vấn đề cơ bản là hình thành chiến lược

kinh doanh, phân tích thị trường mục tiêu và xây dựng các tiêu chí chấp nhận

rủi ro.

Citibank đặt mục tiêu trong q trình hoạt động tín dụng là xây

dựng mối quan hệ vững mạnh với khách hàng và đa dạng hóa danh mục đầu

tư. Chiến lược hoạt động tín dụng của ngân hàng sẽ bắt đầu bằng những đánh

giá về những yếu tố bên ngoài và bên trong ngân hàng. Yếu tố bên ngồi gồm

có: xu hướng kinh tế trong và ngồi nước; các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội;



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khi rủi ro xảy ra, trước hết cần theo dõi, xác định những tổn thất về tài sản, về nguồn nhân lực, về giá trị pháp lý. Sau đó cần có những biện pháp tài trợ rủi ro thích hợp như tự khắc phục rủi ro, chuyển giao rủi ro, trung hòa rủi ro. [18]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×