Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



* Tín dụng là gì ?

Thuật ngữ tín dụng đang được sử dụng phổ biến hiện nay xuất phát từ

gốc La Tinh: CREDITUM, có nghĩa là sự tin tưởng, sự tín nhiệm.

Tín dụng tiếng Anh (Credit) tiếng Pháp (crédit) là cơ chế tạo điều kiện

cho một người đi vay, ngay lập tức hoặc trong một thời gian xác định, nhận

được tiền để mua sắm tài sản hoặc dịch vụ, với hứa hẹn hoàn trả. Để đền đáp

lại, người cấp vốn nói chung được hưởng một khoản thù lao (tiền lãi). [7]

Theo Các Mác: tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá

trị từ người sở hữu sang người sử dụng sau một thời gian nhất định lại quay

về với một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. [2]

Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu kinh tế, tín dụng được coi là

quan hệ lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay với điều kiện có hồn trả

cả gốc lẫn lãi sau một thời gian nhất định. Hay nói một cách khác, tín dụng là

một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân

hay tổ chức nhường quyền sử dụng (chuyển nhượng) một khối lượng giá trị

hoặc hiện vật cho một cá nhân hay tổ chức khác với những ràng buộc nhất định

về: số tiền hoàn trả (gốc và lãi), thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức vay mượn

và thu hồi…[3]

Còn Tín dụng ngân hàng, đó là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các

tổ chức tín dụng (TCTD) khác với các tổ chức, cá nhân. Trong quan hệ tín

dụng này, ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Khác với tín

dụng thương mại, tín dụng ngân hàng khơng cung cấp tín dụng dưới hình thức

hàng hố. [6]

Theo cách tiếp cận của NHNN hiện nay, thì hoạt động tín dụng là hoạt

động dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng thơng qua hình thức

cấp tín dụng. Trong đó “Cấp tín dụng” là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân



6



sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo

ngun tắc có hồn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính,

bao thanh tốn, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” [8]

Từ các khái niệm trên ta thấy: bản chất của tín dụng là một giao dịch về

tiền và tài sản trên cơ sở có hồn trả. Thực chất của tín dụng là sự vay mượn

dựa trên cơ sở tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau. Trong đó sự hồn trả của tín

dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín dụng, là dấu ấn để phân

biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác.

Đối tượng hoạt động tín dụng là vốn, vốn ở đây có thể tồn tại dưới

nhiều hình thức khác nhau như: hàng hố, vàng bạc... hoặc là vốn tiền tệ.

Trong hoạt động tín dụng thì vốn tiền tệ là phổ biến.

1.1.2. Rủi ro tín dụng

1.1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng

Theo Timothy W.Koch: một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh

lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn – có nghĩa là khách hàng khơng thanh

tốn vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn

của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng khơng

thanh tốn hay thanh tốn trễ hạn. [22]

Còn theo Henie Van Greuning… Sonja Brajovic Bratanovic: rủi ro tín

dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay khơng thể chi trả tiền lãi

hoặc hồn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng.

Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc

chi trả bị trì hỗn, hoặc tồi tệ hơn là khơng chi trả được tồn bộ. Điều này gây

ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh

khoản của ngân hàng (The World Bank). [21]



7



Rủi ro tín dụng theo định nghĩa của Uỷ ban Basle thuộc Ngân hàng Thanh

toán Quốc tế là: “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối

tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thoả

thuận”; cũng theo Uỷ ban này, một định nghĩa khác có thể nêu ra là “Rủi ro thất

thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng”,

trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với

nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả gốc và/hoặc lãi”. [23]

Theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự

phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín

dụng ban hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005

của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn

thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng khơng

thực hiện hoặc khơng có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.

Các định nghĩa khá đa dạng nhưng tựu trung lại rủi ro tín dụng là khả

năng (xác suất) xảy ra những tổn thất về mặt kinh tế cho các ngân hàng

thương mại, là loại rủi ro phát sinh trong q trình cấp tín dụng của ngân

hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả

nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Đây còn được gọi là rủi ro mất khả năng

chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lượng tín dụng của

ngân hàng. Rủi ro tín dụng phát sinh khi một bên đối tác khơng thực hiện

nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng đối với ngân hàng,

bao gồm cả việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, khơng đúng

hạn thanh tốn nợ, cho dù đó là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn.

Tuy nhiên cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất, là khả

năng, do đó có thể xảy ra hoặc khơng xảy ra tổn thất. Cần phải có sự phân biệt

giữa hai thuật ngữ: rủi ro và tổn thất (khi rủi ro xảy ra gây thiệt hại về kinh



8



tế). Khi ta hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất là khả năng khách hàng

khơng trả được nợ, vì vậy cần nhận thức rõ khả năng này có thể xảy ra, có thể

khơng xảy ra; khi rủi ro tín dụng xảy ra, khách hàng thực sự không trả được

nợ đúng hạn, số tiền mà ngân hàng không thu hồi được thì được hiểu là tổn

thất ngân hàng phải gánh chịu. Trên thực tế, sẽ rất dễ bị nhầm lẫn và hiểu

đồng nhất giữa giá trị tổn thất với khái niệm rủi ro tín dụng. Sự nhầm lẫn này

sẽ tác động bất lợi đến hoạt động quản trị rủi ro tín dụng, trong đó ảnh hưởng

lớn nhất đến tính chủ động trong các biện pháp quản lý rủi ro. Đơn cử, xuất

phát từ quan niệm chỉ khi khoản vay phát sinh q hạn mới có rủi ro và việc

trích lập quĩ dự phòng rủi ro dựa trên cơ sở những khoản nợ q hạn, chứ

khơng đánh giá trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên cơ sở mức độ xác xuất

xảy ra nợ quá hạn, sẽ dẫn đến tình trạng: Thứ nhất, những khoản cho vay mà

theo xác xuất thực sự có rủi ro sẽ khơng được trích lập; Thứ hai, làm mất tính

chủ động trong quản trị rủi ro tín dụng, mức độ đáp ứng của nguồn bù đắp rủi

ro sẽ rất hạn chế, trong những trường hợp có cú sốc thì ngân hàng sẽ rất khó

khăn trong việc chống đỡ rủi ro; Thứ ba, nó làm cho ngân hàng không thể

hiểu và đánh giá đúng mức độ rủi ro của mình, mặc dù trên thực tế có những

ngân hàng có nợ quá hạn rất thấp, nhưng danh mục tín dụng lại rủi ro rất lớn

vì tập trung quá nhiều dư nợ vào nhóm khách hàng hay ngành rủi ro phá sản

cao. Đây chính là luận cứ xây dựng chính sách phân loại nợ, chủ động trích

lập qũi dự phòng và sử dụng quĩ này trong q trình quản trị RRTD.

1.1.2.2. Những chỉ tiêu chủ yếu đánh giá mức độ rủi ro tín dụng

- Nợ quá hạn và nợ xấu

+ Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi

đã quá hạn.

Tỷ lệ NQH = Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ



9



+ Nợ xấu được xem là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5 theo Quyết

định 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành

ngày 22/4/2005.

Tỷ lệ Nợ xấu =



Nợ xấu/ Tổng dư nợ



Đây là chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng tại ngân

hàng, độ an tồn của ngân hàng (hay mức độ rủi ro trong ngân hàng). Tỷ lệ

Nợ quá hạn, Nợ xấu cao biểu hiện chất lượng tín dụng thấp, rủi ro trong hoạt

động tín dụng cao.

- Trích lập dự phòng: thể hiện tình trạng rủi ro tín dụng của ngân hàng

qua các thời kỳ, đồng thời cho thấy rõ gánh nặng của chất lượng tín dụng kém

lên chi phí của ngân hàng.

1.1.3. Phân loại rủi ro tín dụng

Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục

đích, yêu cầu nghiên cứu. Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro

tín dụng thành các loại khác nhau.

- Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng

được phân chia thành các loại sau đây:

Rủi ro

tín dụng



Rủi ro

giao dịch



Rủi ro lựa

chọn



Rủi ro

bảo đảm



Rủi ro

danh mục



Rủi ro

nghiệp vụ



Rủi ro

nội tại



Rủi ro tập

trung



10



+ Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân

phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay,

đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn (rủi ro có liên

quan đến q trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để

quyết định tài trợ của ngân hàng); rủi ro bảo đảm (rủi ro phát sinh từ các tiêu

chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo…);

rủi ro nghiệp vụ (rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt

động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật

xử lý các khoản vay có vấn đề).

+ Rủi ro danh mục là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do

những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân

thành rủi ro nội tại (xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của

khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế) và rủi ro tập trung (rủi ro do ngân hàng

tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc

trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi

ro cao).

-



Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên



nhân gây ra rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân ra thành rủi ro khách quan

và rủi ro chủ quan.

+ Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên

tai, địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngồi dự kiến khác

làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ

chính sách.

+ Rủi ro chủ quan do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và

người cho vay vì vơ tình hay cố ý làm thất thốt vốn vay hay vì những lý do

chủ quan khác.



11



Ngồi ra còn nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn

cứ theo cơ cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo

đối tượng sử dụng vốn vay…

1.1.4. Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng

Nhân tố khách quan

Ng



Nhân tố từ phía

khách hàng



Nhân tố từ phía ngân

hàng



1.1.4.1. Nhân tố khách quan

Hoạt động ngân hàng luôn bị ảnh hưởng bởi sự tác động của môi

trường bên ngoài: kinh tế, xã hội, an ninh, điều kiện tự nhiên…Nhận diện

những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng giúp ngân hàng có biện pháp phòng

ngừa hiệu quả, giảm thiệt hại.

- Các điều kiện thời tiết không thuận lợi như bão, lũ lụt, hạn hán … ảnh

hưởng đến hoạt động kinh doanh của khách hàng vay, gây ra rủi ro tín dụng,

đặc biệt là ngành nơng nghiệp và kinh doanh bán lẻ.

- Môi trường kinh tế không thuận lợi: những thay đổi trong chính sách

của chính phủ, chỉ số cán cân thanh toán yếu kém, sự rút lui của các dòng vốn

đầu tư nước ngồi, giá trị của đồng tiền bản tệ… sẽ ảnh hưởng đến khả năng

trả nợ của khách hàng vay. Khi chính sách nhà nước bị thay đổi đột ngột như

tăng thuế xuất nhập khẩu một số mặt hàng mà trước đó ngân hàng đã mở thư

tín dụng bảo lãnh nhập khẩu hoặc cho vay vốn sản xuất hàng xuất khẩu, nay

do thuế tăng khiến việc kinh doanh bị thua lỗ, khách hàng không trả được nợ,

ngân hàng cũng bị rủi ro theo. Ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn thu mua

lúa gạo xuất khẩu, khai thác và chế biến gỗ xuất khẩu sau đó chính phủ đột



12



ngột có quyết định tạm dừng xuất khẩu gạo, cấm xuất khẩu gỗ, làm cho hàng

hóa bị ứ đọng, vốn ngân hàng không thể thu hồi lại đúng hạn theo hợp đồng

tín dụng đã ký kết.

- Chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp và các ngành dọc: doanh nghiệp

bị rơi vào thời kỳ khủng hoảng theo chu kỳ nên bị khó khăn trong hoạt động

kinh doanh, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng.

- Thông tin khơng cân xứng: ngân hàng khơng có đủ thơng tin về khách

hàng (quản lý, kinh doanh, thanh toán, quan hệ bạn hàng), khách hàng khơng

có đủ thơng tin về ngân hàng (các dịch vụ cung ứng, phương thức tài trợ, giá

cả thực tế), các thơng tin có được khơng liên tục và độ tin cậy khơng cao.

Ngồi ra, rủi ro tín dụng còn phát sinh từ việc thực thi chức năng nhiệm

vụ của các cơ quan nhà nước: quản lý doanh nghiệp lỏng lẻo, cấp phép tràn

lan, công chứng tài sản thế chấp sai pháp luật, cơ quan thi hành án thông đồng

với người thi hành án, trung tâm bán đấu giá tài sản thế chấp tiêu cực…[5]

1.1.4.2. Nhân tố từ phía ngân hàng

- Chính sách tín dụng khơng hợp lý: cơ sở để thiết lập cơ cấu tín dụng

khơng hợp lý do không căn cứ trên cơ sở kinh tế địa bàn, chính sách lãi suất

và giá khơng linh hoạt so với các đối thủ cạnh tranh, cơ chế giám sát cán bộ

không phù hợp, phương thức kiểm tra khơng đa dạng…

- Qui trình tín dụng thiếu chặt chẽ và không phù hợp: thông tin cần phải

thực hiện trong quy trình khơng cụ thể và thiếu chi tiết, mối quan hệ giữa các

bước thực hiện không được nhận thức đầy đủ và quy định phù hợp, quá trình

giải ngân thiếu căn cứ xác đáng về đối tượng vay vốn, thời điểm giải ngân…

- Cán bộ ngân hàng không đủ năng lực, trình độ chun mơn còn hạn

chế, đạo đức nghề nghiệp khơng đạt như làm trái qui trình tín dụng để mưu



13



lợi cá nhân, định giá tài sản thế chấp khơng đúng với giá trị thực tế do trình

độ nghiệp vụ kém hay do có sự thơng đồng với khách hàng, hoặc do tài sản

thế chấp bị mất giá (khi ngân hàng thẩm định cho vay thì tài sản thế chấp

đang giá cao, sau đó giá giảm mạnh, khách hàng không trả được nợ, ngân

hàng xiết nợ nhưng không bán được do giá q thấp, hoặc là khơng có người

mua, hoặc là tiền thu về thấp hơn so với số tiền cho vay), cán bộ tín dụng trực

tiếp thu nợ gốc và lãi nhưng không nộp lại cho ngân hàng mà dùng cho mục

đích cá nhân. [5]

1.1.4.3. Nhân tố từ phía khách hàng

- Quản lý khơng hiệu quả dẫn đến kinh doanh thua lỗ, không đảm bảo

khả năng trả nợ.

- Sử dụng vốn sai mục đích, kém hiệu quả.

- Kinh doanh “quá mức”: mở rộng quy mô không thể kiểm soát

được, đầu tư dài hạn quá mức làm giảm vốn lưu động, ảnh hưởng đến cơ cấu

vốn…

- Ban quản lý của doanh nghiệp thiếu năng lực trong tổ chức,

thực hiện kế hoạch kinh doanh, hoặc tình trạng tham ơ, lừa đảo… Lừa đảo

ngân hàng đang ngày càng tinh vi và phức tạp như lập hồ sơ giả để vay tiền cá

nhân, vay hộ, nhờ người vay hộ, vay tiền ngân hàng chuyển cho cơng ty

TNHH gia đình, tẩy xố, sửa chữa chứng từ có giá để thế chấp vay tiền ngân

hàng…

- Quản lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản.

- Nội bộ khơng đồn kết, nhất trí, thiếu hỗ trợ nhau trong hoạt

động kinh doanh làm phá vỡ tính hệ thống và liên tục trong q trình sản

xuất…



14



Tóm lại, các ngun nhân gây ra rủi ro tín dụng rất đa dạng, có

những nguyên nhân khách quan và những nguyên nhân do chủ thể tham gia

quan hệ tín dụng. Những nguyên nhân chủ quan, do các chủ thể có ảnh hưởng

rất lớn đến chất lượng tín dụng và ngân hàng có thể kiểm sốt được nếu có

những biện pháp thích hợp. [5]

1.1.5. Hậu quả của rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng ln tiềm ẩn trong kinh doanh ngân hàng và đã

gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh

tế - xã hội của mỗi quốc gia, thậm chí có thể lan rộng trên phạm vi tồn cầu.

-



Thứ nhất, rủi ro tín dụng gây ra hậu quả nặng nề đối với các chủ



thể tham gia trực tiếp vào quan hệ tín dụng. Khách hàng vay khi gặp rủi ro thì

tình trạng kinh doanh bị sa sút, thậm chí có nguy cơ phá sản. Đối với ngân

hàng, rủi ro tín dụng sẽ làm gia tăng chi phí (do phải trích dự phòng rủi ro để

bù đắp), kìm hãm mở rộng tín dụng vì sợ rủi ro khiến hiệu quả kinh doanh bị

giảm sút. Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng khơng có khả năng thu hồi vốn

gốc và lãi vay trong khi vẫn phải thanh toán gốc và lãi cho các khoản huy

động khi đến hạn, làm ngân hàng mất cân đối thu chi. Nếu tình trạng này kéo

dài, khả năng mất một lượng vốn lớn của ngân hàng đã trở thành hiện thực, có

thể đẩy ngân hàng vào tình trạng mất khả năng chi trả hoặc có thể rơi vào tình

trạng phá sản.

- Thứ hai, rủi ro tín dụng sẽ làm giảm lòng tin của cơng chúng

vào sự vững chắc và lành mạnh của hệ thống tài chính cũng như hiệu lực của

chính sách tài chính - tiền tệ của nhà nước. Nguy cơ rút tiền ồ ạt của người

gửi tiền có khả năng trở thành hiện thực, do đó sẽ làm cho ngân hàng bị tê

liệt. Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, doanh

nghiệp khơng có vốn để đáp ứng các kế hoạch kinh doanh đã định nên có khả



15



năng phải ngừng hoạt động kinh doanh, người lao động không được trả

lương, đời sống sẽ thêm khó khăn. Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng

ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế bị suy

thối, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định.

- Thứ ba, hệ thống tài chính quốc gia có thể bị lung lay bởi ảnh hưởng

của rủi ro tín dụng. Do mối liên kết chặt chẽ của các trung tâm tài chính trong

hệ thống tài chính đã làm trầm trọng hơn những ảnh hưởng này, châm ngòi

cho sự đổ vỡ dây chuyền khiến hệ thống trung gian tài chính bị khủng hoảng

nghiêm trọng. Ảnh hưởng đó khơng gói gọn trong một quốc gia mà mở rộng

trên phạm vi tồn cầu vì ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào

nền kinh tế khu vực và thế giới. Kinh nghiệm cho ta thấy cuộc khủng hoảng

tài chính châu Á (1997), cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ (2001-2002) đã

làm rung chuyển tồn cầu. Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các

nước phát triển rất nhanh nên rủi ro tín dụng tại một nước ảnh hưởng trực tiếp

đến nền kinh tế của các nước có liên quan.

Tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng sẽ gây ảnh hưởng ở các

mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi phải trích lập

dự phòng, khơng thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu

được vốn gốc và lãi vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ, mất

vốn. Nếu tình trạng này kéo dài khơng khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá

sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân

hàng nói riêng. Vì vậy các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và

có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay.

1.2. HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI

1.2.1. Quan niệm về hạn chế rủi ro tín dụng và quản trị

rủi ro tín dụng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×