Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

4

xếp một cách hợp lý mà trong đó cơng tác điều tra cơ bản phục vụ cho quy

hoạch phát triển phải đi trước một bước. Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng

có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngành lâm nghiệp nói riêng và sự phát triển

kinh tế xã hội nói chung. Nếu cơng tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng

được chú ý quan tâm đúng mức thì sự phát triển của ngành lâm nghiệp sẽ

mang lại tính bền vững, hiệu quả; trong điều kiện ngược lại sẽ gặp những trở

ngại, khó khăn. Ngày nay khi nhu cầu của xã hội về lâm sản để đáp ứng cho

xây dựng, gia dụng, nguyên liệu, củi… ngày càng cao, tạo áp lực ngày càng

lớn vào tài nguyên rừng và đất rừng thì vấn đề quy hoạch bảo vệ và phát triển

rừng một cách bền vững càng trở lên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết,

và đã trở thành một nguyên tắc hàng đầu trong chiến lược phát triển lâm

nghiệp của mỗi quốc gia nói riêng và trên tồn thế giới nói chung.

1.2. Trên thế giới

1.2.1.Quy hoạch vùng lãnh thổ

Quy hoạch vùng lãnh thổ là thuộc loại hình quy hoạch tổng thể, đa ngành

ở tầm vĩ mơ nhằm khai thác một cách toàn diện và hiệu quả các nguồn tài

nguyên sẵn có trong một vùng lãnh thổ, bao gồm tài nguyên thiên nhiên, tài

nguyên nhân văn và các cơng trình văn hóa, xã hội, cơ sở hạ tầng kỹ thuật để

phát triển sản xuất, phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững. Tuy nhiên, do

đặc thù và trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi vùng và mỗi quốc gia mà

nội dung đề cập trong cơng tác quy hoạch vùng cũng có những điểm khác nhau.

Ở Liên Xô trước đây, công tác quy hoạch vùng hay còn gọi là quy hoạch

vùng sản xuất nông nghiệp lấy việc nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự

nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng làm nguyên tắc chủ đạo để phân bố lực

lượng sản xuất. Vì vậy, nghiên cứu các đặc điểm đặc trưng cho sự phân bố lực

lượng sản xuất ở mỗi vùng trong quá khứ và hiện tại là tiền đề để xác định khả

năng tiềm tàng và tương lai phát triển của vùng đó. Từ đánh giá sức lao động và

nguồn tài nguyên thiên nhiên đã đi tới nhận định: Phân bố lực lượng sản xuất



5

hợp lý là một trong các điều kiện cơ bản để nâng cao năng suất lao động tích luỹ

nhiều của cải vật chất cho xã hội, khơng ngừng phát triển sản xuất và văn hố

của đất nước. Sự phân bố lực lượng sản xuất được xác định theo các nguyên

tắc sau:

Phân bố lực lượng sản xuất có kế hoạch trên tồn lãnh thổ của đất nước,

tỉnh, huyện, nhằm thu hút các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của tất

cả các vùng trong quá trình tái sản xuất mở rộng.

Kết hợp tốt lợi ích của Nhà nước và nhu cầu phát triển kinh tế của từng

tỉnh và từng huyện.Đưa các xí nghiệp cơng nghiệp đến gần nguồn nguyên liệu

để hạn chế chi phí vận chuyển.

Kết hợp chặt chẽ các ngành kinh tế quốc dân ở từng vùng, từng huyện

nhằm nâng cao năng suất lao động và sử dụng hợp lý tiềm năng thiên nhiên.

Tăng cường tồn diện tiềm lực kinh tế và quốc phòng bằng cách phân bổ hợp lý

và phát triển đồng đều lực lượng sản xuất ở các vùng, huyện.

Tại Bungari, công tác quy hoạch vùng lãnh thổ nhằm mục đích sử dụng

một cách hiệu quả nhất lãnh thổ của đất nước và bố trí hợp lý các hoạt động của

con người nhằm đảm bảo tái sản xuất mở rộng, xây dựng đồng bộ môi

trường sống.

Trên cơ sở quy hoạch vùng lãnh thổ cả nước, tiến hành quy hoạch lãnh

thổ cho các địa phương. Đồ án quy hoạch lãnh thổ địa phương là thể hiện quy

hoạch chi tiết các liên hiệp trong công nghiệp, liên hiệp công nông nghiệp và

giải quyết các vấn đề sau:

- Cụ thể hố, chun mơn hố sản xuất nông nghiệp.

- Phối hợp giữa sản xuất công nghiệp - nơng nghiệp - cơng nghiệp với

mục đích liên kết theo ngành dọc.

- Xây dựng các mạng lưới cơng trình phục vụ lợi ích cơng cộng và

sản xuất.



6

- Tổ chức hợp lý mạng lưới khu dân cư và phục vụ công nông liên hợp

trong phạm vi hệ thống nông thôn.

- Bảo vệ môi trường thiên nhiên và tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân lao

động về: ăn, ở, nghỉ ngơi.

Công tác quy hoạch vùng lãnh thổ ở Pháp được thực hiện theo quan điểm

hệ thống các mơ hình quy hoạch vùng lãnh thổ của M. Thénevin. Trong mơ hình

quy hoạch vùng này, người ta đã nghiên cứu hàm mục tiêu cực đại giá trị tăng

thêm xã hội với các ràng buộc trong nội bộ vùng, có quan hệ với các vùng khác

và với nước ngồi. Thực chất mơ hình là một bài tốn quy hoạch tuyến tính với

các thành phần chính sau:

- Các hoạt động sản xuất. Sản xuất nơng nghiệp theo các phương thức

trồng trọt gia đình và trồng trọt công nghiệp với các mức độ thâm canh cao độ,

thâm canh trung bình và cổ điển (truyền thống).

- Hoạt động khai thác rừng gồm khai thác chế biến gỗ, bột giấy, vận

chuyển, dịch vụ thương mại.

- Nhân lực phân theo các dạng thuế thời vụ, các loại lao động nông

nghiệp, lâm nghiệp.

- Cân đối xuất nhập, thu chi và các cân đối khác vào ràng buộc về diện

tích đất, về nhân lực, về tiêu thụ lương thực...

Quy hoạch vùng đạt mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng tăng thêm

giá trị sản phẩm của xã hội theo phương thức mơ hình hố trong điều kiện thực

tiễn của vùng so sánh với vùng xung quanh và nước ngoài.

Ở Thái lan, công tác quy hoạch phát triển vùng được chú ý từ những năm

1970 của thế kỷ trước. Hệ thống phạm vi quy hoạch được tiến hành theo 3 cấp:

Quốc gia, vùng, địa phương.

Vùng được coi như là một phần lãnh thổ của đất nước có những nét đặc

trưng phân bố dân cư, khí hậu, địa hình,... khác biệt với các vùng khác.



7

Quy mơ diện tích của vùng phụ thuộc vào kích thước, diện tích của đất

nước.

Quy hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý Nhà nước,

phải phối hợp với chính quyền địa phương nhằm giải quyết 2 vấn đề sau:

- Thứ nhất: Sự bổ sung của kế hoạch Nhà nước được giao cho cho vùng,

những mục tiêu và hoạt động được xác định theo cơ sở vùng, sau đó kế hoạch

vùng được giải quyết trong kế hoạch quốc gia.

- Thứ hai: Quy hoạch vùng được giải quyết căn cứ vào đặc điểm của

vùng, các kế hoạch vùng được đóng góp vào việc xây dựng kế hoạch quốc gia.

Như vậy công tác quy hoạch vùng lãnh thổ đã được tiến hành ở nhiều

nước từ lâu và đã đạt được những kết quả nhất định.

1.2.2. Quy hoạch Lâm nghiệp

Sự ra đời của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế

tư bản chủ nghĩa. Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển nên khối

lượng gỗ yêu cầu ngày càng tăng. Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa

phương của phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hóa tư bản chủ

nghĩa. Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã khơng còn bó hẹp trong việc sản xuất

gỗ đơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo

thu hoạch lợi nhuận lâu dài cho các chủ rừng. Chính hệ thống hồn chỉnh về

lý luận quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng đã được hình thành trong hồn

cảnh như vậy.

Đầu thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc

“Khoanh thu chặt ln chuyển”, có nghĩa là đem trữ lượng hoặc diện tích tài

nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh

thu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích. Phương thức này phục vụ

cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn.

Đầu thế kỷ 19, sau cách mạng công nghiệp, phương thức kinh doanh

rừng chồi được thay bằng phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai



8

thác dài. Và phương thức “Khoanh thu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho

phương thức “Chia đều” của Hartig đã chia chu kỳ khai thác thành nhiều thời

kỳ lợi dụng và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm. Năm 1816 xuất

hiện phương pháp phân kỳ lợi dụng của H.Cotta. Cotta chia chu kỳ khai thác

thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế lượng chặt hàng năm.

Sau đó phương pháp “Bình qn thu hoạch” ra đời. Quan điểm của

phương pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại,

đồng thời vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau. Và đến cuối

thế kỷ 19 xuất hiện phương pháp “Lâm phần kinh tế” của Judeich, phương

pháp này khác với phương pháp “Bình quân thu hoạch” về căn bản. Judeich

cho rằng những lâm phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ

được đưa vào diện khai thác. Hai phương pháp “Bình quân thu hoạch” và

“Lâm phần kinh tế” chính là tiền đề của hai phương thức tổ chức kinh doanh

và tổ chức rừng khác nhau.

Phương pháp “Bình quân thu hoạch” và sau này là phương pháp “Cấp

tuổi” chịu ảnh hưởng của “Lý luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là yêu cầu rừng

phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích và trữ lượng, vị trí và

đưa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác. Hiện nay phương pháp kinh

doanh rừng này được dùng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong

phú. Còn phương pháp “Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp “Lâm

phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm

phần tiến hành phân tích xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh, phương

thức điều chế rừng. Cũng từ phương pháp này còn phát triển thành “Phương

pháp kinh doanh lô” và “Phương pháp kiểm tra” .

Vào thập kỷ 30, 40 của thế kỷ XX, tại Châu Âu quy hoạch ngành giữ

vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ. Năm

1946, Jack G.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với

tên “Phân loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất”. Đây cũng là tài liệu đầu



9

tiên đề cập đến đánh giá khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất. Tại

vùng Rhodesia trước đây, nay là Cộng hòa Zimbabwe, Bộ Nơng nghiệp đã

xuất bản cuốn Sổ tay hướng dẫn quy hoạch sử dụng đất hỗ trợ cho quy hoạch

hạ tầng cho trồng rừng. Vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX, Tạp chí “East

African Journal for Agriculture Foretry” đã xuất bản nhiều bài báo về quy

hoạch cơ sở hạ tầng ở Nam Châu Phi. Năm 1966, Hội đất học của Mỹ và Hội

Nông học Mỹ cho ra đời chuyên khảo về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả

năng của đất và ứng dụng trong quy hoạch sử dụng đất.

1.3. Ở Việt Nam

1.3.1. Quy hoạch vùng chuyên canh

Trong quá trình xây dựng nền kinh tế, đã quy hoạch các vùng chuyên

canh lúa ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, các vùng rau

thực phẩm cho các thành phố lớn, các vùng cây cơng nghiệp ngắn ngày (hàng

năm): Vùng bơng Bình Thuận, vùng đay Hưng Yên, vùng thuốc lá Quảng An

- Cao Bằng, Ba Vì - Hà Tây, Hữu Lũng - Lạng Sơn, Nho Quan - Ninh Bình,

vùng mía Vạn Điểm, Việt Trì, Sơng Lam, Quảng Ngãi... Các vùng cây cơng

nghiệp dài ngày (lâu năm): Vùng cao su Sông Bé, Đồng Nai, Buôn Hồ - Đắc

Lắc, Chư Pả - Gia Lai, Kon Tum, vùng cà phê Krông Búc, Krông Bách - Đắc

Lắc, Chư Pả, Ninh Đức - Gia Lai, Kon Tum (hợp tác với Liên Xơ trước đây,

Cộng hồ dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Bungari), vùng chè ở Lai Châu, Lào Cai,

Sơn La, Thái Nguyên, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Lâm Đồng, Gia

Lai, Kom Tum, vùng dâu tằm Bảo Lộc - Lâm Đồng...

Quy hoạch vùng chuyên canh đã có những tác dụng trong việc:

- Xác định phương hướng sản xuất, chỉ ra những vùng chun mơn hố

và những vùng có khả năng hợp tác kinh tế.

- Xác định và chọn những vùng trọng điểm giúp Nhà nước tập trung

đầu tư vốn đúng đắn.



10

- Xây dựng được cơ cấu sản xuất, các chỉ tiêu sản xuất sản phẩm và hàng

hoá của vùng, yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất, nhu cầu

lao động.

- Cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển nghiên cứu tổ chức quản lý

kinh doanh theo ngành và theo lãnh thổ.

Quy hoạch vùng chuyên canh đã thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là bố trí

cơ cấu cây trồng được chọn với quy mô và chế độ canh tác hợp lý, theo

hướng tập trung để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, sản

lượng và chất lượng sản phẩm cây trồng đồng thời phân bố các chỉ tiêu nhiệm

vụ cụ thể cho từng cơ sở sản xuất, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế

hoạch của các cơ sở sản xuất.

- Quy hoạch vùng chuyên canh có các nội dung chủ yếu sau:

+ Xác định quy mô, ranh giới vùng.

+ Xác định phương hướng, chỉ tiêu nhiệm vụ sản xuất.

+ Bố trí sử dụng đất đai.

+ Xác định quy mơ, ranh giới, nhiệm vụ chủ yếu cho các xí nghiệp

trong vùng và tổ chức sản xuất ngành nông nghiệp.

+ Xác định hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất đời sống.

+ Tổ chức và sử dụng lao động.

+ Ước tính đầu tư và hiệu quả kinh tế.

+ Dự kiến tiến độ thực hiện quy hoạch.

1.3.2. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội cấp huyện

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội cấp huyện là một loại hình

quy hoạch tổng hợp, đa ngành với các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện, căn cứ vào

dự án phát triển và phân bố lực lượng sản xuất và phân vùng nông nghiệp tỉnh

(hoặc thành phố) đã được phê duyệt, xác định phương hướng, nhiệm vụ, mục

tiêu phát triển nông nghiệp và xây dựng các biện pháp nhằm thực hiện được



11

các mục tiêu đó theo hướng chun mơn hố, tập trung hố kết hợp phát triển

tổng hợp nhằm thực hiện 3 mục tiêu nông nghiệp là giải quyết lương thực,

thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản xuất khẩu ổn định.

- Hoàn thiện phân bổ sử dụng đất đai cho các đối tượng nhằm sử dụng đất đai

được hiệu quả, đồng thời bảo vệ và nâng cao được độ phì nhiêu của đất.

- Tạo điều kiện để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nơng

nghiệp.

- Tính tốn vốn đầu tư cơ bản và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp

theo quy hoạch.

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội cấp huyện thườngđề cập

đến các nội dung chủ yếu sau đây:

- Xác định phương hướng và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của

huyện.

- Bố trí cơ cấu sử dụng đất đai.

- Xác định cơ cấu và quy mô sản xuất nông nghiệp (phân chia và tính

tốn quy mơ các vùng sản xuất chun mơn hoá, xác định vùng sản xuất thâm

canh cao sản, các tổ chức liên kết nông - công nghiệp, các cơ sở dịch vụ nơng

nghiệp, bố trí trồng trọt, bố trí chăn nuôi).

- Tổ chức các cơ sở sản xuất nông nghiệp.

- Tổ chức công nghiệp chế biến nông sản và tiểu thủ công nghiệp

trong nông nghiệp.

- Giải quyết mối quan hệ giữa các ngành sản xuất có liên quan trong và

ngồi ngành nơng nghiệp.

- Giải quyết mối quan hệ giữa các ngành sản xuất có liên quan trong và

ngồi ngành nơng nghiệp.

- Bố trí cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ nơng nghiệp (thuỷ lợi, giao

thơng, cơ khí, điện, cơ sở dịch vụ thương nghiệp).



12

- Tổ chức sử dụng lao động nông nghiệp, phân bố các điểm dân cư

nông thơn.

- Những cân đối chính trong sản xuất nơng nghiệp (lương thực, thực

phẩm, thức ăn gia súc, phân bón, vật tư kỹ thuật nơng nghiệp, ngun liệu cho

các xí nghiệp chế biến).

- Tổ chức các cụm kinh tế xã hội.

- Bảo vệ môi trường.

- Vốn đầu tư cơ bản.

- Hiệu quả sản xuất và tiến độ thực hiện quy hoạch.

1.3.3. Quy hoạch lâm nghiệp

1.3.3.1. Q trình hình thành cơng tác quy hoạch lâm nghiệp ở nước ta

Quy hoạch lâm nghiệp được áp dụng ở nước ta ngay từ thời kỳ Pháp

thuộc, như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi; điều

chế rừng thông theo phương pháp hạt đều,…

Từ năm 1955 - 1957 tiến hành Sơ thám và mô tả để ước lượng tài

nguyên rừng.

Từ năm 1958 - 1959 tiến hành thống kế trữ lượng rừng miền Bắc.

Cục Điều tra quy hoạch rừng (nay là Viện ĐTQHR) được thành lập từ

năm 1961, là lực lượng chính cùng với các địa phương thực hiện và hồn

chỉnh quy trình quy hoạch lâm nghiệp. Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển của

các nước thì quy hoạch lâm nghiệp ở nước ta hình thành, và phát triển muộn

hơn rất nhiều. Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về kinh tế, xã hội, kỹ thuật và

tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác quy hoạch lâm nghiệp ở nước ta trong

giai đoạn 1960 - 2000 là:Vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng.

Năm 1960 - 1964, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới áp dụng ở miền

Bắc, đáng kể nhất là cơng trình quy hoạch lâm nghiệp khu sơng Hiếu với sự

trợ giúp của chuyên gia Trung Quốc và quy hoạch khu nguyên liệu gỗ trụ mỏ

Quang Ninh do chuyên gia Cộng hồ Dân chủ Đức giúp đỡ. Sau đó một loạt



13

các phương án quy hoạch lâm trường quốc doanh được xây dựng và thông

qua như lâm trường Hữu Lũng (Lạng Sơn), lâm trường Sông Mã...

Đến đầu năm 1970, chuyên gia Thuỵ Điển đã giúp Việt Nam quy hoạch

và xây dựng khu nguyên liệu giấy tại một số tỉnh vùng trung tâm (nay là

Tuyên Quang, Yên Bái, Hà Giang, Thái Nguyên). Khi giải phóng miền Nam

thống nhất đất nước, Bộ Lâm nghiệp đã tăng cường lực lượng lớn từ miền

Bắc vào Nam để phát triển lâm nghiệp. Một trong những việc làm quan trọng

nhất lúc đó là điều tra và quy hoạch lâm nghiệp. Nhờ vậy mà một số khu lâm

nghiệp đã hình thành như khu lâm nghiệp Kon Hà Nừng, khu lâm nghiệp EA

Súp, khu lâm nghiệp Gia Nghĩa, khu lâm nghiệp lâm trường…

Những năm 80 của thế kỷ 20, vai trò và chức năng của rừng được xác

định rõ hơn trên quan điểm gắn kết giữa kinh tế - xã hội - môi trường, đặc biệt

là đa dạng sinh học nên việc quy hoạch phát triển rừng sản xuất, quy hoạch

xây dựng rừng phòng hộ và quy hoạch rừng đặc dụng được quan tâm hơn. Vì

vậy, một loạt các lâm trường, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng

phòng hộ ra đời. Đóng góp vào sự thành công này phải kể đến công lao của

các nhà quy hoạch lâm nghiệp và sự quan tâm đúng mức của các cấp chính

quyền.

Những năm 1990, nhiều tài liệu hướng dẫn về công tác lập quy hoạch

lâm nghiệp đã được xuất bản, như: Giáo trình quy hoạch lâm nghiệp và Điều

chế rừng của các tác giả Lê Sỹ Việt, Vũ Nhâm, năm 1992; Giáo trình Quy

hoạch lâm nghiệp của các tác giả Lê Sỹ Việt, Trần Hữu Viên, năm 1999.

Từ năm 2000 đến nay, công tác quy hoạch lâm nghiệp của nước ta đã

được quan tâm hơn và có nhiều chuyển biến tiến bộ rõ rệt, thể hiện qua các

mốc thời gian ghi dấu ấn quyết định của Nhà nước về công tác quy hoạch lâm

nghiệp:

- Năm 2002, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Quyết

định số 199/QĐ-BNN_PTNT ngày 22 tháng 01 năm 2002 về việc phê duyệt



14

Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001 - 2010, đây là cơ sở đầu tiên

để tổ chức quy hoạch lãnh thổ, tổ chức quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng.

- Năm 2004, Quốc Hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã

thông qua Luật số 29/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm 2004 về bảo vệ và

phát triển rừng, trong đó có riêng Mục 1 của Chương 2 về quy hoạch, kế

hoạch bảo vệ và phát triển rừng (bao gồm 9 điều, từ điều 13 đến điều 21).Sau

đó các Nghị định, thơng tư hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ và phát triển

rừng được ban hành.

- Năm 2005, để triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Bảo vệ và phát

triển rừng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg

ngày 05 tháng 12 năm 2005 về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng (rừng

phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất), trong đó nêu rõ: “ngành lâm nghiệp

cần phải khẩn trương thực hiện việc rà soát, quy hoạch lại, xác định rõ diện

tích các loại rừng để làm cơ sở cho việc tổ chức sắp xếp lại sản xuất trong

ngành lâm nghiệp, thực hiện các chủ trương chính sách về đầu tư, giao rừng,

khoán bảo vệ rừng, sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh

theo Nghị định số 200/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ, khuyến

khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển sản xuất trong ngành

lâm nghiệp…”

- Năm 2006, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số: 23/2006/NĐ-CP

ngày 03 tháng 3 năm 2006 về thi hành luật bảo vệ và phát triển rừng, trong đó

đã dành trọn Chương 2 quy định về quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển

rừng (gồm 09 Điều, từ Điều 10 đến Điều 18), trong đó quy định rõ từ nguyên

tắc lập, trình tự lập, điều chỉnh quy hoạch, nội dung quy hoạch, thẩm định,

phê duyệt, công bố quy hoạch, phân cấp lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch

bảo vệ và phát triển rừng.

- Năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số

18/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2007 Phê duyệt chiến lược phát triển



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×