Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

PHẦN 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nước ta đang bước vào thời kỳ cơng nghiêọ hóa hiện đại hóa đất nước.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đời sống kinh tế xã hội của

người dân đang ngày được nâng cao, nhu cầu đời sống con người ngày một cao

hơn. Để đáp ứng được nhu cầu đó thì một trong những ngành có khả năng sản

xuất ra sản phẩm nhanh nhất, kinh tế nhất là ngành chăn nuôi gia cầm đặc biệt

là ngành chăn ni gà lấy thịt. Nó chiếm một vị trí quan trọng trong chương

trình cung cấp protein động vật cho con người.

Cùng với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật của thế giứoi đã có nhiều giống gà

mới có năng xuất cao, phẩm chất thịt ngon, thời gian nuôi ngắn, chi phí thức ăn

thấp. Trong đó kể đến là giống gà siêu thịt ROS – 308 do công ty CP Việt Nam

phân phối có khả năng sinh trưởng nhanh, chất lượng thịt ngon, phát triển tốt

với điều kiện thời tiết ở Việt Nam.

Ni gà cơng nghiệp có những ưu điểm rất cơ bản: Tăng trọng nhanh, hiệu

xuất chuyển hóa thức ăn cao, quay vòng vốn nhanh và tạo ra lượng hàng hóa

lớn. Vì vậy phải nghiên cứu làm sao cho nó có hiệu quả nhất, giảm chi phí đến

mức thấp nhất. Khi chăn ni gà thịt có xu hướng phát triển mạnh thì dịch bệnh

cũng ngày một tăng làm giảm năng xuất chăn ni gà cơng nghiệp, do đó đòi

hỏi người chăn ni phải có biện pháp xử lý trong khâu phòng chống dịch bệnh

thật tốt. Để đàn gà ni thịt có đủ nhu cầu tối cần thiết trong quá trình sống để

gà ăn khỏe, lớn nhanh, nhờ đó mà người chăn nuôi mới thu được hiệu quả cao

nhất.

Một trong những biện pháp được đề ra là sử dụng các chế phẩm sinh học

để bổ sung trong quá trình chăn nuôi. BioVet là một trong những chế phẩm sinh

học đáp ứng được yêu cầu bổ sung này. Men BioVet bổ sung các vi sinh vật

hữu hiệu, các vitamin và acid amin, kích thích tiêu hóa, tăng tính thèm ăn, tăng

sức đề kháng, phòng ngừa tiêu chảy, giảm mùi hơi phân, có hiệu quả tốt đối với

đương tiêu hóa của gia cầm, làm cơ sở khoa học để khuyến cáo đối với người

chăn nuôi. Để hiểu dõ thêm về tác dụng của men BioVet đối với gà thịt tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tác dụng của men Biovet đến khả năng



35



sinh trưởng và phòng bệnh tiêu chảy ở gà thịt tại huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh

Phúc”.

Mục đích của đề tài:

1. Xác định ảnh hưởng của men BIOVET tới khả năng phòng bệnh tiêu

chảy của giống gà thịt ROS – 308.

2. Đánh giá khả năng sinh trưởng của đàn gà thịt giống ROS – 308 khi

sử dụng men BIOVET.

3. Từ kết quả đã nghiên cứu để khuyến cáo đối với người chăn nuôi gia

cầm trong việc sử dụng loại men BIOVET này.

2.2 Tổng quan tài liệu

2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Trong chăn nuôi hiện nay, bên cạnh sự phát triển không ngừng về chất lượng

và số lượng đàn gà thì dịch bệnh cũng xảy ra nhiều hơn, mạng mẽ hơn cùng với

sự phát triển của nền công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nhiều nhà máy xí

nghiệp mọc lên và thải ra các chất gây ơ nhiễm môi trường và làm ảnh hưởng

không nhỏ đến ngành chăn nuôi nhất là ngành chăn nuôi gia cầm.

Gia cầm có đặc tính là tiêu hóa và hơ hấp nhanh nên khi chuồng trại không

được vệ sinh sạch sẽ hay mơi trường xung quanh bị ơ nhiễm thì làm ảnh hưởng

đến sức khỏe của đàn gia cầm từ đó làm xuất hiện những mầm bệnh gây bệnh

cho gia cầm. Khi bệnh đã phát ra mà không điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến

năng xuất chăn ni, vì vậy khi bổ sung men à vào thức ăn gà sẽ làm cho gà

được nâng cao sức đề kháng với bệnh tật, tăng khả năng sinh trưởng, phòng các

bệnh đường ruột, bệnh hô hấp , bổ sung một số vitamine và axit amin.

Bệnh bạch lỵ: còn gọi là bệnh ỉa phân trắng là một bệnh truyền nhiễm khá

nguy hiểm do vi khuẩn Salmonella pullorum gây nên. Mầm bệnh có thể truyền

nhiễm qua trứng ( gà mẹ mang bệnh thì con được nở ra từ trứng của nó cũng

mang mầm bệnh). Thơng thường gà nhiễm bệnh qua đường tiêu hóa là chủ yếu,

cũng có thể qua đường hơ hấp, gà đã khỏi bệnh vẫn tiếp tục bài thải ra vi khuẩn

ra theo đường phân. Đó là nguồn lây lan quan trọng và nguy hiểm nhất đối với

gà. Bệnh thường ở thể cấp tính trên gà con và mãn tính trên gà lớn. Nếu sức đề

36



kháng yếu, điều kiện ngoại cảnh khơng tốt thì gà sơ sinh sẽ phát bệnh, tỷ lệ

nuôi sống thấp, gà nở ra yếu ớt, chậm lớn ủ rũ, kém ăn, tăng trọng kém.

Bệnh có thể lây lan gián tiếp qua thức ăn, nước uống, chuồng trại vệ sinh

môi trường không đảm bảo, mầm bệnh sẽ dễ dàng vào cơ thể qua đường tiêu

hóa và gây bệnh. Ở giai đoạn đầu vì trùng vào máu gây nhiễm trùng huyết. Gà

con chết, niêm mạc và các cơ quan nội tạng bị sưng và xuất huyết. Nếu bệnh

tiến triển chậm sẽ xuất hiện viêm và hoại tử các phủ tạng, gan sưng màu nhợt

nhạt, tim phổi sưng tụ máu. Manh tràng sưng và xuất huyết, ruột đầy chất lỏng

màu xám, lòng đỏ trong bụng gà con chưa tiêu hết.

Chẩn đoán bệnh: Dựa vào triệu trứng, bệnh tích điển hình có thể chẩn

đốn vi khuẩn học và huyết thanh học (phản ứng ngưng kết), để phát hiện gà

mắc bệnh hay gà mang vi khuẩn làm lây lan bệnh.

+ Cơng tác vệ sinh phòng bệnh: Phải chú ý thường xuyên đến vệ sinh

chuồng trại, máng ăn, máng uống, thay chất độn chuồng. Tẩy uế chuòng trại

băng Formol 2% hoặc Cloramin T 0.5%, dùng vacxin vô hoạt keo phèn tiêm 12 ml/con hoặc kháng sinh Genta – costrim, ...

Bệnh tiêu chảy phân xanh do E.coli phát triển mạnh trong đường tiêu hóa

của gà vì stress do vận chuyển hoặc xáo trộn đàn, tăng tiết độc tố vào máu làm

gà bị trúng độc. Bệnh thường xảy ra ở gà 1 - 120 ngày tuổi, đặc biệt ở gà con 1

- 10 ngày và 4 - 5 tuần tuổi khi vận chuyển đi xa và bị lạnh.

Triệu chứng gà bệnh uống nhiều nước, tiêu chảy phân trắng xanh lẫn bọt

khí, giảm ăn, yếu, lơng dính bết vào nhau, nhiễm trùng huyết cấp tính và chết

đột ngột. Mổ khám thấy fibrin (chất màu trắng ngà) phủ màng bao tim, gan,

màng ruột, túi khí. Viêm ruột, bao hoạt dịch, vòi trứng, rốn và viêm mắt có mủ.

Bệnh cầu trùng: Là do ký sinh trùng lớp đơn bào thuộc giống Eimeria

gây nên và rất phổ biến ở gà, đặc biệt là ở gà nuôi tập chung bệnh gây tác hại

chủ yếu cho gà con, tỷ lệ chết cao, những con khỏi bệnh thường còi cọc, chậm

lớn hồi phục sức khỏe lâu. Gà lớn mắc bệnh ở thể nhẹ hơn, giảm sản lượng

thịt, trứng và là loài động vật mang bệnh.



37



+ Giống Eimeria có lồi cầu tùng khác nhau. Gà thường nhiễm một hay

nhiều lồi cầu trùng. Trong đó có 4 loài thường gây bệnh là: E. tenelle,

E.acervilia, E. brunettis và E. necatrix, với các triệu trứng đặc trưng: Gà ủ rũ,

phân đỏ hoặc nâu sáp (màu nâu) nếu bị nặng phân có thể có lẫn máu, giảm đẻ.

Mức độ bệnh phụ thuộc vào phương pháp nuôi, Nuôi lồng hoặc nuôi trên sàn

bệnh ít xảy ra hơn ở dưới nền, ni theo phương pháp công nghiệp và trộn

thuốc chống cầu trùng vào thức ăn hay nước uống thì bệnh ít hơn là nuôi thả

rong, hoặc cho ăn thức ăn không được phòng bệnh. Bệnh lây chủ yếu qua

đường tiêu hóa, gà con ăn phải noãn nang của cầu trùng nhiễm trong thức ăn ,

nước uống, dụng cụ chăn ni, Nỗn nang vào đường tiêu hóa của gà gặp điều

kiện thuận lợi phát triển gây bệnh. Bệnh tích chủ yếu tập chung ở manh tràng

và ở ruột non, manh tràng sưng màu đỏ sẫm hoặc tím đen, bên trong chứa đầy

máu (đã đông), hoặc nước màu đỏ nhạt, ruột non bị viêm có các đám sần sùi

xuất huyết.

+ Chẩn đốn bệnh cầu trùng: Dựa vào triệu chứng lâm sàng, bệnh tích

mổ khám hay kiểm tra phân tìm nỗn nang cầu trùng qua kính hiển vi.

+ Việc phòng và trị bệnh cầu trùng cho gà là rất quan trọng. Ngồi cơng

tác vệ sinh thú y, vệ sing chuồng trại nên sử dụng thuốc kháng sinh hay một số

chế phẩm để phòng bệnh làm tăng sức đề kháng cho gà bằng cách cho uống

nước.

Do đặc diểm tồn tại thường xuyên của mầm bệnh trong tự nhiên vì vậy

đề phòng khơng cho bệnh nổ ra cần chú ý là tốt cơng tác chăm sóc ni dưỡng,

về sinh thú y, có thể điều trị bằng kháng sinh.

 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng

của gia cầm.

 Sức sống và khả năng chống chịu bệnh tật

Sức sống và khả năng chống chịu bệnh tật cả gia cầm là yếu tố quan trọng

giúp chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao. Sức sống của gia cầm là một tính trạng

di truyền số lượng, nó đặc trưng cho từng cá thể và nó thể hiện ở khả năng

chống chịu bệnh tật., khả năng thích nghi với mơi trường và được thể hiện ở tỷ

38



lệ nuôi sống của đàn gà từ khi sơ sinh đến khi giết thịt. Ngoài ra tỷ lệ ni sống

còn phụ thuộc vào mức độ tỷ lệ giao phối cận huyêt, mức độ giao phối cận

huyết cao thì tỷ lệ nuôi sống giảm, ngược lại sự lai tạo giống cho ưu thế lai sẽ

tăng tỷ lệ nuôi sống, tăng khả năng sinh trưởng.

Theo Hồng Tồn Thắng (1996)[12] thì Marco A.S and Etar (1982) cho rằng

sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác định trước hêt bởi khả năng có

tính di truyền ở động vậtc ó thể chống lại ảnh hưởng xấu của môi trường và ảnh

hưởng khác của dịch bệnh.

 Sự sinh trưởng ở gia cầm

Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Cường (1992)[8] thì sự sinh trưởng là

q trình tích lũy chất hữu cơ do q tình đồng hóa và q trình dị hóa, sự tăng

chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng các bộ phận, tồn cơ thể con vật trên

cơ sở tính di truyền từ đời trước. Sinh trưởng là sự tích lũy dần dần các chất,

chủ yếu là protein, mà tốc độ và sự tích lũy các chất do tốc độ hoạt động của

các gen điều khiển. Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng

hợp protein, nên người ta thường lấy khả năng tăng khối lượng làm chỉ tiêu

đánh giá khả năng sinh trưởng.

 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng

Cũng như các động vật khác, khả năg sinh trưởng của gà chịu ảnh hưởng

của nhiều yếu tố: dòng, giống, tuổi, tính biệt, hướng sản xuất và điều kiện chăm

sóc ni dưỡng.

Các yếu tố: dòng, giống có ảnh hưởng tới q trình sinh trưởng của gia cầm.

Trong cùng một điều kiện nuôi dưỡng, mỗi giống khác nhau có khả năng sinh

trưởng khác nhau.

Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự (1994)[2] sự khác nhau về khối lượng

cơ thể gia cầm là rất lớn. Trong các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng

còn phải kể đến chế độ sinh dưỡng.

Theo Bùi Đức Dũng, Lê Hồng Mận (1995)[5] để phát huy được khả năng

sinh trưởng của gia cầm phải cung cấp đủ thức ăn tối ưu và đầy đủ, chất dinh

dưỡng được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein và axit amin với năng lượng.

39



Ngoài ra cũng cần cung cấp đầy đủ các chất kháng, vitamine và các chất kích

tích sinh trưởng.

Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của gia cầm người ta đưa vào hai chỉ tiêu

chính là:

- Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng, kích thước và thể tích

cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (tiêu chuẩn Việt Nam

2.39.77)[10] sinh trưởng tuyệt đối tính bằng gam/con/ngày. Đồ thị sinh trưởng

tuyệt đối có dạng Parabol.

- Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ % tăng lên về khối lượng, kích thước và thể

tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc ban đầu khảo sát (tiêu chuẩn Việt

Nam 2.40.77)[11].

Ngồi ra mơi trường cũng ảnh hưởng đáng kể đối với khả năng sinh trưởng

của gia cầm.

Nhiệt độ ảnh hưởng lớn đến nhu cầu năng lượng và protein của gà vì vậy

tiêu thụ thức ăn của gà phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường.

Wasburm, K. Wetal (1992)[17] cho biết nhiệt độ cao làm cho gà sinh trưởng

chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại kinh tế lớn ở cá khu vực chăn ni gà

Broiler cơng nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới.

Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng vì rất nhạy

cảm với ánh sáng do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm. Ngồi

ra trong chăn ni cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như: ẩm độ, độ

thông thống, tốc độ gió lùa, nhiệt đội khơng khí và ảnh hưởng của mật độ nuôi

nhốt đến khả năng sinh trưởng của gia cầm.

 Tình hình sử dụng thuốc trong phòng bệnh và làm tăng sức đề kháng của gà

Hiện nay ngồi việc chăm sóc ni dưỡng tốt, đảm bảo quy trình vệ sinh

thú y, vệ sinh chuồng trại thì cơng tác phòng bệnh cho đàn vật ni là rất quan

trọng. Có nhiều loại hóa dược có tác dụng tốt cho phòng một số bệnh do vi

khuẩn, virut gây nên và phòng chống được các bệnh truyền nhiễm, bệnh ký

sinh trùng,...



40



Để đánh giá hiệu lực của men BioVet là một loại chế phẩm mới do Viện

Khoa Học Sự Sống Thái Nguyên nghiên cứu ra, do vậy thí nghiệm trên đây đã

được đặt ra để lựa chọn men dùng cho thích hợp trong việc bổ sung các vi sinh

vật hữu hiệu, vitamine, axit amin và phòng ngừa bệnh đường tiêu hóa cho cơ

thể gà.

Men BioVet là một loại men tiêu hóa sống sử dụng để chộn vào thức ăn,

thành phần của men bao gồm:

- Bacillus sublitis



3.1010 CFU



- Lactobacillus



5.1010 CFU



- Saccharomyces cerevisiae



7.1010 CFU



- Vitamin B1



100mg



- Lysine



5g



- Methionine



3g



- Chất mang vừa đủ



1kg



- Độ ẩm (max)



10%



Cơ chế tác động của men BioVet bao gồm một số loại vi sinh vật hữu

hiệu, vitamine, axit amin trộn vào thức ăn bổ sung cho gia cầm. Men được cân

bằng và tính tốn tỷ lệ các loại vi khuẩn hữu ích và các thành phần khác một

cách vừa đủ phù hợp với nhu cầu của gia cầm chăn nuôi trong điều kiện chăn

nuôi công nghiệp ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.

Chỉ định: bổ sung men BioVet cho gia cầm để kích thích tiêu hóa, hấp

thu tốt thức ăn, tăng trưởng nhanh, tăng sức đề kháng, phòng ngừa tiêu chảy,

giảm mùi hơi của phân. Tăng cường sức đề kháng của cơ thể, có hiệu quả trong

phòng ngừa bệnh hô hấp ở gà, vịt ngan.

Liều dùng : gia cầm 100g/ 100kg thức ăn trộn đều vào thức ăn, cho vật

ni ăn liên tục.

 Vai trò của các vi khuẩn hữu ích

Vi sinh vật hữu ích là hỗn hợp bổ sung có bản chất vi sinh vật sống, có tác

động có lợi đối với vật chủ nhờ các tác động sau:

- Cải thiện hệ vi sinh liên kết với vật chủ hoặc sống tự do trong môi trường.

41



- Cải thiện việc sử dụng thức ăn hoặc tăng cường giá trị dinh dưỡng của

thức ăn.

- Gia tăng khả năng đề kháng của vật chủ đối với mầm bệnh .

- Cải thiện chất lượng của môi trường sống.

Theo Phạm Thị Tuyết Ngân, (2005)[ ] cơ chế tác động chính xác của các

vi sinh vật hữu ích hiếm khi được làm rõ một cách hồn tồn. Có thể tóm tắt 5

cơ chế tác động của vi sinh vật hữu ích như sau:

- Sản sinh ra các hợp chất ức chế vi sinh vật có hại

- Cạnh tranh chất dinh dưỡng và năng lượng với vi sinh vật có hại

- Cạnh tranh chất sắt với vi sinh vật có hại

- Cạnh tranh nơi cư trú với vi sinh vật có hại

- Tăng cường các phản ứng miễn dịch

 Vai trò của vi khuẩn Bacillus sublitis

Bacillus subtilis, còn được gọi là trực khuẩn cỏ khô hoặc trực khuẩn cỏ,

là một loại vi khuẩn Gram dương, catalase dương tính. Thuộc chi Bacillus,

Bacillus subtilis là trực khuẩn hình que, có khả năng tạo bào tử, có khả năng

chịu đựng các điều kiện mơi trường khắc nghiệt.

Hầu hết những lồi B. subtilis khơng độc hại đối với động vật, khả năng

sản sinh kháng sinh và enzym. Enzyme do vi khuẩn B. subtilis tiết ra phân hủy

rất có hiệu quả các chất như carbonhydrate, chất béo và đạm thành những đơn

vị nhỏ hơn. Giống B. subtilis có thể sinh trưởng tốt với nguồn carbon và nitơ

thấp.

Bacillus có thể tạo ra một số chất kháng khuẩn hoặc một vài sản phẩm có

thể khống chế Vibrio harveyi. B. subtilis cũng được tìm thấy có khả năng tiết ra

một số hợp chất diệt khuẩn và diệt nấm. Sản phẩm các kháng sinh được tiết ra

là difficidin, oxydifficidin, bacitracin, bacillin, bacilomycin B có khả năng

kháng các lồi vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí ( Phạm Thị Tuyết Ngân, 2005)[ ].

B. subtilis có thể phân chia đối xứng để tạo thành hai tế bào con (nhị

phân phân hạch), hoặc không đối xứng, tạo bào tử trong điều kiện môi trường

bất lợi như, pH và dung môi, môi trường nghèo dinh dưỡng. Trong mơi trường

42



sống khắc nghiệt, trước giai đoạn hình thành bào tử, các tế bào vi khuẩn có thể

tự tạo ra các chất đề kháng (kháng sinh), hoặc giết chết đồng loại để tìm kiếm

dinh dưỡng.

Tính ổn định cao của B. subtilis trong điều kiện môi trường khắc nghiệt

làm cho vi sinh vật trở thành một trong những ứng cử viên hồn hảo giúp cho

gia cầm tiêu hóa thức ăn tốt và tăng sức đề kháng hiệu quả. Cụ thể:

- B. subtilis có khả năng sản sinh nhiều enzyme, nhưng quan trọng nhất

là amylase và protease, 2 loại enzyme thuộc hệ thống men tiêu hóa.

- B. subtilis có khả năng sinh tổng hợp một số chất kháng sinh có tác

dụng ức chế sinh trưởng hoặc tiêu diệt một số vi sinh vật khác, tác dụng lên cả

vi khuẩn Gram(-), Gram(+) và nấm gây bệnh.

- B. subtilis thường tồn tại trong sản phẩm ở trạng thái bào tử, nhờ vậy

khi uống vào dạ dày, nó khơng bị acid cũng như các men tiêu hóa ở dịch vị phá

hủy. Ở ruột, bào tử nẩy mầm và phát triển thành thể hoạt động giúp cân bằng hệ

vi sinh có ích trong đường ruột, cải thiện hệ thống tiêu hóa, nhất là sau khi sử

dụng kháng sinh kéo dài.

 Vai trò của vi khuẩn Lactobacilus

Những vi khuẩn họ Lactobacillus thường được dùng làm thức ăn bổ sung

cho gia cầm dưới dạng cho ăn trực tiếp vi khuẩn hoặc dưới dạng thức ăn trong

men tiêu hóa như sản phẩm men sống BioVet. Vì nhiểu lý do như nhằm giảm

lượng kháng sinh thông thường đưa vào cơ thể gà, mà trong khi đó khi bổ sung

vi khuẩn thc họ Lactobacillus vào qua thức ăn thì vi khuẩn này lại có khả

năng làm tăng khả năng miễn dịch của cơ thể gà, tăng hấp thu chất dinh dưỡng,

ổn định men tiêu hóa ở đường ruột.

Khi bổ sung vi khuẩn hữu ích này thì có lợi cho đường ruột, giúp ổn định

lượng men và lượng vi khuẩn có lợi trong đường ruột. Giúp ổn định việc tiêu

hóa và hấp thu dưỡng chất của thức ăn đưa vào cơ thể. Chủng vi khuẩn này còn

có tác dụng tăng sức đề kháng, miễn dịch của cơ thể.

Trong quá trình tìm hiểu tại sao Lactobacillus có khả năng tăng cường

miễn dịch, các nhà khoa học đã khám phá ra rằng phần vách tế bào sau khi bị

43



phân giải có hiệu quả điều hòa và kích thích hệ miễn dịch nhiều hơn bội lần do

với vi khuẩn sống. Lactobacillus đặc biệt liên quan đến sự phòng ngừa hay

giảm bớt những rối loạn đường ruột như tính khơng dung nạp được đường

lactose, bệnh tiêu chảy do virus hay vi khuẩn gây ra, táo bón, viêm đường ruột,

dị ứng thức ăn.

Theo Nguyễn Hồi Tao, (2001)[ ] khi cho gà broiler ăn có chứa thành

phần Lactobacillus, tăng trọng đến 35 ngày tăng lên, nhưng không có sai khác

giữa các lơ về mức thức ăn ăn được. Trong những lơ ăn Lactobacillus, khả năng

tiêu hố Ca và P tăng lên, độ nhão của phân cũng như sự phát tán khí ammoniac

trong phân giảm rõ rệt.

Theo E. Santin, A. Maiorka và M. Macari (1999) bổ sung hỗn

hợp Lactobacillus làm cho tăng trọng gà tăng lên đáng kể ( P <0,05) lượng

amylase sau 40 ngày cho ăn [ 65 ]. Kết quả này cũng tương tự như đến phát

hiện của Collington et al. [ 81 ], đã báo cáo rằng bao gồm một hỗn hợp nhiều

các chủng Lactobacillus spp. và Streptococcus faecium ) kết quả hoạt động

enzyme cao hơn đáng kể carbohydrase trong ruột non của gà con . Vi khuẩn

gây men có thể tiết ra các men tiêu hóa, do đó làm tăng hoạt động amylase ruột

[ 82 ,

 Vai trò của vi khuẩn Sac. Cerevisiae

Theo E. Santin, A. Maiorka và M. Macari (1999)[ ] sử dụng kháng sinh như

một chất phụ gia trong khẩu phần ăn của gia cầm để cải thiện tăng trưởng và

còn liên quan đến sự đề kháng của vi khuẩn trong đường ruột. Nghiên cứu này

được thực hiện để kiểm tra tính hiệu quả của một chất mới ( vách tế bào nấm

men Saccharomyces cerevisiae , var. Calsberg- SCCW) thu được từ ngành sản

xuất bia. Thêm vào (ở mức 0,2%) chế độ ăn gà broiler (dựa trên ngô và khô đậu

tương ). Kết quả cho thấy niêm mạc ruột phát triển hơn, trọng lượng cơ thể tăng

cao hơn so với gà không cho ăn. Trong một thí nghiệm khác bằng cách sử dụng

44000 gà thịt được thức ăn có chứa SCCW 0,2%, kết quả cũng cho thấy tăng

cao hơn trọng lượng cơ thể và chuyển hóa thức ăn tốt hơn so với gà thịt khác

không được bổ sung SCCW. Những phát hiện này cho thấy rằng SCCW cải

44



thiện trọng lượng cơ thể đạt được trong gà thịt và rằng hiệu ứng này có thể là

do tác dụng dinh dưỡng của sản phẩm này trên niêm mạc ruột, bởi vì nó làm

tăng chiều cao của nhung mao niêm mạc ruột, đặc biệt là trong thời gian 7 đầu

tiên của một con gà sau khi nở.

 Vai trò của các axit amin

Vai trò của Lysine: Lysine là một α-amino axít thiết yếu của cơ thể động vật.

Về mặt chăn nuôi, trong chăn nuôi gia cầm, gia súc, lysine dùng làm chất phụ

gia đã làm cho vật ni trưởng thành nhanh chóng, mang hiệu quả kinh tế cao.

Người chăn ni ln muốn có được protein thực vật giá trị thấp. Vì vậy thức

ăn chăn ni phải tận dụng protein thực vật làm nguyên liệu, gắng giảm sử

dụng các loại bột cá, bột xương. Nhất là gần đây việc chăn nuôi gia súc trên thế

giới tăng mạnh, dẫn đến bột cá, bột xương khan hiếm và ngày càng trầm trọng.

Ðể giải quyết sự khan hiếm đó, một trong những giải pháp là bổ sung Lysine

qua các chế phẩm.

Lysine giữ vai trò sống cong trong tổng hợp protein, là chìa khóa trong

sản xuất enzime, hoocmon và các kháng thể giúp cơ thể tăng cường sức đề

kháng, chống bệnh tật.

Cơ thể con người và động vật thiếu Lysine cơ thể sẽ khơng hoạt động

bình thường, đặc biệt là ở động vật còn non và trẻ em sẽ xảy ra hiện tượng

chậm lớn. Do vậy việc cung cấp thêm Lysine vào khẩu phần ăn là rất cần thiết.

 Vai trò của Vitamin B1

Dinh dưỡng là một q trình sinh học nhằm duy trì cơ thể và khơng ngừng

đổi mới những vật chất tạo nên cơ thể. Nhữngvật chất mà cơ thể ngùng đòi hỏi

gọi là các chất dinh dưỡng. Tùy theo loại chức năng mà chúng được chia ra

thành các nhóm sau:

- Những chất có hoạt tính sinh học như các Vitamin.

- Ngoài những Vitamin ra để tồn tại được, cơ thể sinh vật nới chung và gia

cầm nói riêng đòi hỏi phải có một nhóm chất rất cần thiết nữa đó là chất

khống. Một số chất khống tham gia vào các thành phần của các chất có hoạt



45



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×