Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 1 CÔNG TÁC PHỤ VỤ SẢN XUẤT

PHẦN 1 CÔNG TÁC PHỤ VỤ SẢN XUẤT

Tải bản đầy đủ - 0trang

phương thức chăn thả; đất ruộng thuận lợi cho trồng lúa nước và các loại cây

màu như ngô, đậu tương,...

Đất đai Tam Đảo thích hợp cho các loại cây trồng như: cây công nghiệp, cây

ăn quả, rừng nguyên liệu, cây dược liệu và trồng lúa, sắn, chè… Tam Đảo cũng

thích hợp cho việc chăn nuôi gia súc, gia cầm, ong lấy mật.

Huyện Tam Đảo có tổng diện tích đất tự nhiên là 23587,62 ha, gồm 2 nhóm

đất chính:

Đất nơng nghiệp với diện tích 19353,41 ha, chiếm 71,63% tổng diện tích đất

tự nhiên. Trong đó, đất chuyên dùng sản xuất là 492,5 ha, đất chưa sủ dụng là

6,75 ha, đât ao hồ 33,2 ha.

Đất phi nông nghiệp là 4234,21ha chiếm 28,37 ha tổng diện tích đất tự

nhiên. 4234,21.

Với diện tích đất nơng nghiệp cấy lúa một năm hai vụ. ngồi ra còn có thể

trồng rau xu xu, khoai, lạc đỗ,.. đây cũng là nguồn cung cấp thức ăn cho ngành

chăn nuôi.

* Giao thơng thủy lợi

- Giao thơng

Ngồi tuyến đường Tam Đảo và quốc lộ 2B chạy qua địa bàn huyện thì

trong mấy năm gần đây chất lượng đường giao thông của huyện được cải thiện

với các con đường liên thôn, liên Huyện và liên tỉnh được cải thiện bằng những

con đường bê tơng hóa, đường nát gạch. Tuy nhiên vẫn còn những đoạn đường

đang trong quá trình xuống cấp chưa được tu sửa và những con đường đất gây

khó khăn cho đi lại khi trời mưa.

Hàng năm, huyện tổ chức tu sửa đường liên thơn, liên huyện lớn những

đoạn dường có lưu lượng giao thông cao để thuận tiện cho việc đi lại, vận

chuyển hàng hóa và giao lưu văn hóa, kinh tế với các vùng khác.

- Thủy lợi

Huyện có hệ thống thủy lợi khá hoàn chỉnh để đảm bảo cho nhu cầu tưới

tiêu trên diện tích đất canh tác của huyện.Hiện nay trên huyện có 3 trạm bơm

nhỏ đủ để cung cấp nước đủ cho việc tưới tiêu trên diện tích đất canh tác địa

2



phương. Ngồi ra huyện còn thường xuyên tu sửa, xây mới và củng cố lạo vét

kênh mương nhằm chủ động việc cung cấp nước cho việc canh tác và sản xuất

trên địa bàn.

1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội

1.1.2.1 Tình hình xã hội

Hiện tại huyện Tam Đảo có 8 xã và 1 thị trấn gồm:

1. Đại Đình

2. Tam Quan

3. Hồ Sơn

4. Hợp Châu

5. Yên Dương

6. Đạo Trù

7. Bồ Lý

8. Minh Quang

9. Thị trấn Tam Đảo

* Dân số nguồn lao động

Huyện Tam Đảo có 8 xã và 1 thị trấn với 32515 hộ dân, dân số tồn huyện

có 95466 nhân khẩu.

Vào thời điểm 31/12/2011 số người trong độ tuổi lao động là 42332 chiếm

tỷ lệ 44,34% dân số tồn huyện.

Bảng 1.1: Cơ cấu hộ gia đình phân loại theo hướng phát triển kinh tế

(Có đến 31/12/2011)

* Đời sống văn hóa

Huyện Tam Đảo nằm ở phía Đơng Bắc của tỉnh vĩnh phúc, cách thành phố

Vĩnh Yên 13km. Có quốc lộ 2B đi qua nên giao thơng rất thuận tiện cho việc

giao lưu văn hóa giữa các vùng với nhau. Vì có tuyến giao thơng này cho nên

trình độ người dân những năm gần đây là tương đối cao.



3



Bảng: Cơ cấu hộ gia đình phân loại theo hướng phát triển kinh tế

(Có đến 31/12/2011)



STT

A

1

2

3

4

5

6

7

8

9



Đơn vị hành chính

B

Đạo Trù

Bồ Lý

Yên Dương

Đại Đình

Tam Quan

Hồ Sơn

Hợp Châu

Minh Quang

TT. Tam Đảo



Tổng số

1

3066

1549

1349

2356

3047

1765

1887

2752

265



Tổng số



Hộ gia đình

Trong đó

Hộ nơng-lâm- Hộ phi nơng

thủy sản

3

2273

1246

1259

1889

2520

1620

1012

2025

82



2

3061

1549

1347

2350

3046

1757

1887

2689

256



4



nghiệp

4

752

278

76

425

483

125

535

257

116



Hộ cơng nhân

viên chức

5

36

25

12

26

43

12

340

407

58



Hộ tập thể

6

5

2

6

1

8

63

9



Các xã, đều có “ Điểm bưu điện văn hóa”. Cơng tác văn hóa – xã hội trên

địa bàn được quản lý chặt chẽ, từng bước đáp ứng nhu cầu của nhân dân và

phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Cơng tác xây dựng, củng cố các tổ chức cơ sở đảng tiếp tục được quan

tâm chỉ đạo có hiệu quả. Cơng tác tư tưởng, tuyên giáo, dân vận; quán triệt,

triển khai thực hiện nghiêm túc đến các đảng viên theo Chỉ thị số 03-CT/TW

của Bộ chính trị về việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo

đức Hồ Chí Minh; tổ chức học tập triển khai thực hiện kết luận Hội nghị lần 3,

lần 4 của BCH TW Đảng (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách xây dựng Đảng

hiện nay”.( Báo cáo kinh tế huyện Tam Đảo) [1]

* Y tế giáo dục

Hiện nay huyện có một bệnh viện trung tâm. Ở các xã đều có trạm y tế

cấp xã thực hiên chăm sóc sức khỏe cho người dân. Các trạm y tế cấp xã này

đều được xây dụng cấp IV và nhà hai tầng. Kết quả tổng kết thực hiện Chỉ thị

số 06-CT/TW, ngày 22/01/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX)

“về củng cố và hồn thiện mạng lưới y tế cơ sở”: cho đến nay 9/9 trạm y tế của

các xã - thị trấn trên địa bàn huyện đạt chuẩn Quốc gia về y tế, với 72 cán bộ y

tế tuyến xã và 110 nhân viên y tế cộng tác viên thơn, làng. Các Chương trình

mục tiêu Quốc gia về y tế được triển khai thường xuyên, liên tục theo đúng kế

hoạch. Trang thiết bị được đầu tư, nâng cấp, dịch vụ y tế, chăm sóc bệnh nhân

ngày càng được nâng cao. Theo báo cáo kinh tế 6 tháng đầu năm 2012 thì:

Cơng tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được duy trì và

nâng cao, 6 tháng đầu năm, khám và chữa cho 57.863 lượt người, cơng tác

phòng chống dịch bệnh thực hiện kịp thời.

Trong huyện có 1 trường THPT cấp huyện, mỗi xã đều có trường THCS,

trường tiểu học và mẫu giáo. Trong số các trường trên có 2 trường THCS vinh

dự được công nhận danh hiệu trường chuẩn cấp quốc gia. Huyện còn xây dựng

một trường chun THCS. Cơng tác giáo dục được quan tâm đầu tư, công tác

giảng dạy được đảm bảo, nâng dần tỷ lệ học sinh khá giỏi ở các bậc học. Tồn

Huyện đã xóa được nạn mù chữ, số học sinh nghỉ học sớm và bỏ học ngày giảm

5



đáng kể so với những năm trước, chất lượng giáo dục được nâng cao hơn với

cơ sở vật chất mới và chương trình dạy mới. Tuy nhiên Huyện còn tồn tại nhiều

khó khăn đó là hiện tượng tiêu cực vẫn thường xuyên diễn ra như các tệ nạn xã

hội: Cờ bạc, chộm cắp, nghiện hút,... làm ảnh hưởng khơng nhỏ đến đời sống

văn hóa tinh thần của người dân trong huyện.

* Du lịch

Với điều kiện tự nhiên ưu đãi có khu du lịch nghỉ mát Tam đảo và khu di

tích Tây Thiên, Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên ngành du lịch đã đóng góp lớn

vào thu nhập của địa phương. Theo báo cáo kinh tế 6 tháng đầu năm 2012:

Tổng giá trị sản xuất thương mại du lịch và dịch vụ đạt 222,973 tỷ đồng tăng

21% so cùng kỳ, 6 tháng đầu năm đã thu hút 56.492 lượt du khách đến với

huyện tham quan, nghỉ dưỡng.

* Điện

Hiện nay Huyện có 20 trạm biến thế lớn nhỏ và mạng lưới điện xương cá

phong tỏa đến tất cả các xã, thơn, xóm để phục vụ cho nhu cầu dùng điện trong

việc lao động, sản xuất, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp và sinh hoạt hàng ngày

của nhân dân. Hiện nay 100% các hộ dân trong huyện được sử dụng điện. Đây

là điều có ý nghĩa to lớn giúp thực hiện chiến dịch cơng nghiệp hóa nơng thơn,

góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân, tạo bước đà cho

q trình cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa nơng nghiệp, nơng thơn trong giai

đoạn sắp tới.

* Mạng lưới thông tin

Hệ thống thông tin liên lạc trên địa bàn ngày càng được thay đổi theo

hướng hiện đại, nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của người dân. Được

trang bị đầy đủ các công cụ để phát thanh truyền thông tin từ huyện đến các xã

và đến tận thôn. Mạng lưới internet được mở rộng tạo một khung cửa mới cho

người dân tiếp xúc với nền văn hóa của các vùng trong cả nước và trên thế giới.

1.1.2.2. Tình hình kinh tế

Tam Đảo là một huyện nông - lâm - nghiệp, dịch vụ và du lịch. Trong thời

gian qua, tình hình kinh tế - xã hội có nhiều biến động, cuộc khủng hoảng kinh

6



tế đã ảnh hưởng và tác động đến tình hình phát triển KT-XH. Song, dưới sự

lãnh đạo, điều hành của Huyện ủy, UBND và sự cố gắng của tồn dân, tình

hình chung trong 6 tháng đầu năm của huyện vẫn tiếp tục phát triển ổn định

(Báo cáo kinh tế huyện Tam Đảo)[1]

Trong 6 tháng đầu năm 2012, giá trị sản xuất (theo giá cố định) trên địa

bàn huyện đạt 291.957 tỷ đồng (tăng10,71% so với cùng kỳ) trong đó: N-L-TS

đạt 123.409 tỷ đồng, tăng 4,53%; CN-XD đạt 82.168 tỷ đồng, tăng 10,06%;

thương mại – dịch vụ đạt 86.380 tỷ đồng, tăng 17,99%. Cơ cấu kinh tế của

huyện đã có nhiều chuyển biến nhưng ngành N-L-TS vẫn chiếm tỷ trọng cao

với 51,59%. Sản lượng lương thực bình quân đầu người là 178kg/người

(giảm 6,15% so với cùng kỳ); giá trị sản xuất bình quân đầu người theo giá thực

tế đạt 15,41 triệu đồng/người; tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới là 18,7%, tỷ lệ

tăng dân số tự nhiên là 1,72% (tăng 0,02% so với cùng kỳ) (Báo cáo kinh tế

huyện Tam Đảo)[1]

1.1.3 Tình hình sản xuất

1.1.3.1 Ngành chăn nuôi

Huyện Tam Đảo là một huyện nông nghiệp, nên chăn nuôi là một ngành

không thể thiếu đối với các hộ nông dân trong huyện. Chăn nuôi để cung cấp

sức kéo trong ngành trồng trọt và là nguồn thực phẩm chủ yếu cho sinh hoạt

hàng ngày.

Sự phát triển của mơ hình trang trại đã thúc đẩy số lượng và chất lượng

chăn nuôi lên cao. Chăn nuôi chủ yếu tập chung vào chăn nuôi gia cầm, thủy

cầm, lợn, ... đã đem về lợi nhuận lớn cho người chăn ni. Trước tình hình phát

triển của chăn ni thì huyện Tam Đảo cũng liên tục thực hiện các buổi tập

huấn kỹ tht chăn ni, hướng dẫn phát triển mơ hình chăn ni. Khuyến

khích đưa khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi nhằm nâng cao về sản lượng và

chất lượng của sản phẩm chăn nuôi. Nhiều hộ đã đầu tư xây dựng chuông trại

chăn nuôi với quy mô lớn.

Dưới đây là tổng đàn gia súc, gia cầm tính đến thời điểm 1/4/2012.

(Số liệu theo cục thống kê Vĩnh Phúc, chi cục thống kê Tam Đảo)

7



Bảng 1.2: Tổng đàn gia súc tính đến thời điểm 1/4/2012

Đàn trâu

Đơn vị hành



Đàn bò



Đàn lợn

Trong đó

Đực

Lợn

Nái

giống

thịt



Tổng



Trâu



Tổng







Tổng



số



thịt



số



lai



số



1167



513



1280



528



13256



1256



9



11991



349



211



1645



1856



4756



774



8



3774



n Dương



740



318



1876



1876



4968



429



9



4530



Đại Đình



398



163



2244



1681



4028



920



18



3090



Tam Quan



215



91



2785



1599



9512



1100



14



8398



328



168



589



589



9694



1151



12



8531



Hợp Châu



559



224



259



259



5066



900



21



4145



Minh Quang



679



278



550



550



6446



1256



23



5167



TT.Tam Đảo



0



0



0



0



0



0



0



0



HTX



0



102



25



2



75



Trang trại



0



181



11



0



170



Cộng



4435



58009



8022



116



49871



chính

Đạo trù

Bồ Lý



Hồ Sơn



1967 13120 8938



Bảng 1.3: Tổng đàn gia cầm, thủy cầm tính đến thời điểm 1/4/2012



8



Đàn gà



Đơn vị hành

chính







(xã)



cơng



Đàn vịt



Đàn



Đàn



ngan



ngỗng



Mái



Tổng



Tổng



Tổng



đẻ



số



số



số



79142



2746



12824



1689



130



4440



69000



1071



5000



1500



45



3949



61364



2312



10800



1200



50



80000



2741



12800



1400



70



10353



160882



1031



4813



1700



87



36637



6223



96700



1423



6646



2733



160



Hợp Châu



33323



5660



87953



1285



6000



2970



70



Minh Quang



25120



4266



66301



2741



12800



3206



110



TT.Tam Đảo



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



470200



0



0



0



0



Mái đẻ



Tổng số



29985



5093



26142



Yên Dương



23249



Đại Đình



30310



Tam Quan



60954



nghiệp

Đạo trù

Bồ Lý



Hồ Sơn



HTX

Trang trại

Cộng



5148

10353



441700 140400



707420 185531 1171542 15349 71683 16398



722



* Chăn ni trâu bò

Tính đến ngày 1/4/2012 thì tổng số trâu trong huyện là 4435 con, số bò là

13120 con. Tuy nhiên mục đích của việc chăn nuôi chủ yếu là sử dụng làm sức

kéo và lấy phân bón để phục vụ cho sản xuất nơng nghiệp. Việc chăm sóc đàn

trâu, bò chưa được người dân quan tâm và chú ý đến nhiều. Chủ yếu là chăn thả

tự do, tận dụng nguồn thức ăn có sẵn trong thiên nhiên và những sản phẩm của

ngành trồng trọt, do vậy đàn trâu bò phát triển chưa được mạnh. Việc dự trữ

thức ăn cho vụ đông chưa đầy đủ nên về mùa đơng thì trâu, bò hay bị đói do hết

9



thức ăn. Đây cũng là nguyên nhân làm cho trâu bò giảm sức đề kháng và hay

mắc bệnh. Mặt khác khâu vệ sinh cuồng trại chưa được tốt, chuồng để phân

bẩn, lầy lội tạo điều kiện cho mầm bệnh tồn tại và phát triển như: giun, sán,

bệnh truyền nhiễm,...

* Chăn nuôi lợn

Hầu hết các hộ đều chăn ni lợn, trung bình mỗi hộ có từ 1 – 2 con, vì

ngành chăn ni lợn nó cung cấp thực phẩm cho người và phân bón cho ngành

trồng trọt. Tính đến ngày 1/4/2012 thì đàn lợn của địa phương lên đến 58009

trong đó có 8022 lợn nái, 116 lợn đực giống, 49871 lợn thịt thương phẩm. Nhìn

vào số lượng lợn nái và lợn đực giống có vẻ khá chênh lệch nhưng cũng có

nguyên nhân của nó. Sự chênh lệch này là do nguồn tinh nhân tạo hiện nay rất

phổ biến và bán đến tận các xóm làng nên việc người chăn nuôi nuôi lợn đực

giống đã giảm nhiều.

* Chăn nuôi gia cầm

Ngành chăn nuôi gia cầm trong huyện phát triển mạnh về cả chất lượng và

số lượng. Chăn nuôi công nghiệp phát triển mạnh với những chuồng ni khép

kín 600 – 700m2. Tính đến 1/4/2012 thì tổng đàn gà của huyện đạt 1.171.542

con trong đó bao gồm cả gà ta, gà thịt công nghiệp, gà đẻ trứng. Đần vịt là

71.683 con gồm cả vịt thịt, vịt đẻ trứng. Ngan là 16.398 con chủ yếu là nuôi lấy

thịt thương phẩm, ngỗng 722 con nuôi theo hướng tận dụng thức ăn thừa.

Đàn gia cầm và thủy cầm của Huyện đang có xu hướng tăng dần qua các

năm. Do trong quá trình chăn nuôi người dân chăn nuôi đã dần làm chủ được về

kĩ thuật, cơ bản như quy trình phòng bệnh, phòng vacxin, vệ sinh phòng bệnh,

nguồn giống cũng có nhiều cơ sở ấp nở uy tín... Hiện nay đã có rất nhiều những

trại lớn đã được đầu tư xây dựng để chăn nuôi gà thịt công nghiệp và gà đẻ

trứng công nghiệp.

1.1.3.2 Ngành trồng trọt

Trồng trọt là ngành không thể thiếu với địa phương để đảm bảo cung cấp

lương thực cho dân bản địa và cung cấp cho các vùng lân cận. Huyện Tam Đảo

giao nhiệm vụ cho từng xã thực hiện việc khốn gọn đến từng hộ gia đình tham

10



gia vào sản xuất lương thực nhằm đảm bảo sản lượng làm ra. Huyện đã có

chương trình đưa máy móc thay sức động vật vào trồng trọt, áp dụng thành

tựucủa chon giống là đưa các giống cây trồng mới vào sản xuất để nâng cao năn

xuất như: giống lúa khang dân, bồi tạp, nhị ưu,... giống ngô: P11, P60, LVN 4,...

các khu vực nương dẫy, đồi đơc thì tiến hành trồng sắn, đậu tương.

Huyện hiện nay đang có thế mạnh là trồng cây su su. Thời gian trước thì

việc trồng su su chỉ được thực hiện trên núi Tam Đảo do cây su su ưa nhiệt độ

lạnh. Hiện nay việc trồng su su được trồng trên cả diện tích đất ruộng dưới

đồng bằng. Giống su su được lấy từ trên núi Tam Đảo xuống để trồng hoặc

được nhập từ Lai Châu. Hiện nay cây su su đang mang lại hiệu quả kinh tế cao

hơn rất nhiều so với trồng lúa và trồng màu.

Với diện tích đất đồi lớn ngồi các vườn cây ăn quả như: vải, nhãn, sồi

thì việc các dự án đưa cây keo lai, cây bạch đàn vào trồng đã được Huyện thực

hiện từ lâu để khơng lãng phí nguồn đất.

1.1.3.3 Công tác thú y

* Công tác vệ sinh phòng bệnh

Để tiếp tục tạo bước đà cho chăn ni phát triển thì cơng tác vệ sinh

phòng bệnhngày càng được chú ý và làm tốt hơn. Với phương châm: “Phòng

bệnh hơn chữa bệnh”, đây là biện pháp tích cực góp phần nâng cao hiệu quả

trong chăn nuôi. Thương xuyên tổ chức vệ sinh tiêu đọc tổng thể, phat quang

bờ bụi, khơi thông cống rãnh, phun thuốc tiêu độc khử trùng. nhất là sau các vụ

mưa bão.

* Phòng bệnh bằng vacxin cho vật nuôi

Được thực hiện liên tục và đồng bộ theo mùa vụ là phòng bệnh bằng

vacxin. Hàng năm dưới sự chỉ đạo của huyện Tam Đảo thì trạm thú y Tam Đảo

đã kết hợp với các xã thực hiện tiêm phòng cho gia súc, gia cầm, thủy cầm

nhằm ngăn chăn không cho dịch bệnh xảy ra.

Hàng năm tổ chức hai đợt tiêm phòng chính là: đợt 1 vào tháng 3 – 4 ( vụ

xuân – hè), đợt 2 vào tháng 9 – 10 ( vụ thu – đơng). Ngồi ra còn có các đợt

tiêm phòng theo tình hình diễn biến của dịch bệnh khi có sự bùng phát bất

11



thường hoặc có xuất hiện những loại dịch bệnh mới. Kết quả tiêm phòng thể

hiện qua bảng 1.4.

* Điều trị bệnh

Hiện nay mạng lưới thú y đã được cải thiện nhiều so với những năm về

trước. Tại các thơn đều có ít nhất là một thú y viên họ sẽ phục vụ, giúp đỡ điều

trị được mỗi khi bà con có gia súc bị bệnh. Mạng lưới các cửa hàng bán thuốc

cũng khá nhiều do vậy ngi dân khơng khó để có thể tìm kiếm thuốc tốt nhất

để diều trị cho con vật ni nhà mình. Điều này đóng góp rất lớn trong việc

phát triển đàn gia súc, gia cầm của địa phương.

1.1.4 Đánh giá chung

Qua diều tra tình hình cơ bản điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội

của huyện chúng tôi tôi rút ra một số nhận xét về những thuận lợi, khó khăn

như sau:

1.1.4.1 Thuận lợi

Là huyện có 8 xã và 1 thị trấn, có nhiều trường học, có khu du lịch nghỉ

mát Tam Đảo nên thuận tiện cho học tập văn hóa và phát triển theo hướng du

lịch dịch vụ.

Với diện tích đất nơng nghiệp, đất rừng lớn thuận tiện cho phát triển nông

nghiệp, lâm nghiệp và phát triển chăn nuôi.

Lợi thế là vùng có truyền thống chăn ni nên rất thuận tiện cho việc phát

triển những trang trại quy mô lớn về nuôi gà , ni lợn.

Huyện có đường giao thơng là quốc lộ 2B và gần với trung tâm kinh tế

thành phố Vĩnh Yên nên thuận tiện cho việc trao đổi hàng hóa và giao lưu văn

hóa giữa các dân tộc.

Đội ngũ cán bộ địa phương rất năng động, có trách nhiệm.



12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 1 CÔNG TÁC PHỤ VỤ SẢN XUẤT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×