Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. Sự cần thiết phải sử dụng phương pháp giáo dục kltc trong trường THPT

II. Sự cần thiết phải sử dụng phương pháp giáo dục kltc trong trường THPT

Tải bản đầy đủ - 0trang

1. Đặc điểm tâm – sinh lý học sinh THPT

1.1. Về phát triển thể chất

Cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của người

trưởng thành, nhưng chưa hồn thiện so với người lớn. Tư

duy ngơn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát

triển mạnh. Ở tuổi này, các em dễ bị kích động, thích thể

hiện là người lớn.



1.2. Về phát triển trí tuệ

- Hệ thần kinh phát triển mạnh . Khả năng quan sát phát triển,

tuy nhiên sự quan sát thường phân tán, chưa tập trung cao .

- Hoạt động tư duy phát triển mạnh. Năng lực tư duy phát

triển đã góp phần nảy sinh hiện tượng tâm lý mới đó là tính

hồi nghi khoa học.

- Thích những vấn đề mang tính triết lý. Các em có khả năng

phán đốn và giải quyết vấn đề một cách nhạy bén. Tuy nhiên

đôi khi kết luận còn vội vàng theo cảm tính.



1.3. Về phát triển nhân cách

 Sự tự ý thức

Là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của HS



THPT. Biểu hiện của sự tự ý thức là nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá

những đặc điểm tâm lý của mình theo chuẩn mực đạo đức của xã hội.

Các em có khuynh hướng phân tích và đánh giá bản thân mình một

cách độc lập mang tính chủ quan. Ý thức làm người lớn khiến các em

thích khẳng định mình, muốn thể hiện cá tính của mình một cách độc

đáo, muốn người khác quan tâm, chú ý đến mình…

Chúng ta cần lắng nghe ý kiến, giúp các em nhìn nhận khách

quan về nhân cách của mình, tự nhận thức và xác định được giá trị,

xác định được điểm mạnh, điểm yếu để tự điều chỉnh hoàn thiện bản

thân, tránh những suy nghĩ lệch lạc, phiến diện hoặc là quá ảo

tưởng hoặc quá tự ty dẫn đến các biểu hiện hành vi không tích cực .



 Sự hình thành thế giới quan

 Các em có nhu cầu tìm hiểu khám phá về tự nhiên, xã hội, về các

nguyên tắc và quy tắc ứng xử, những định hướng giá trị về con người.

 Các em quan tâm đến nhiều vấn đề như: thói quen đạo đức, cái xấu, cái

đẹp, cái thiện, cái ác, quan hệ giữa cá nhân với tập thể, giữa cống hiến

với hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm…

 Tuy nhiên nhiều HS ở độ tuổi này có tư tưởng không lành mạnh như:

coi thường phụ nữ, coi khinh lao động chân tay, ý thức tổ chức kỉ luật

kém, thích hưởng thụ hoặc thụ động, dựa dẫm vào người khác…

Những học sinh này dễ trở thành học sinh “cá biệt” trong lớp.

GV phải khéo léo, tế nhị khi phê phán những biểu hiện tư tưởng

qua thái độ hành vi chưa đúng đắn của HS giúp các em thay đổi

nhận thức, điều chỉnh thái độ hành vi của mình. GV cần tìm hiểu

hồn cảnh, tâm tư tình cảm, suy nghĩ của HS, ngun nhân của

những hành vi khơng tích cực để giúp các em phát triển đúng

hướng.



 Hoạt động giao tiếp

 Nhu cầu sống tự lập, có nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi trong

tập thể. Thích được giao lưu, thích tham gia các hoạt động tập thể.

 Tình bạn đối với các em ở tuổi này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

 Tình u nam nữ bắt đầu nảy nở. Tuy nhiên tình cảm này chưa được

phân định rõ giữa tình yêu và tình bạn. Do vậy, cảm xúc của các em

trong giai đoạn này rất phức tạp “thoáng vui”, “thoắt buồn” nên rất dễ

ảnh hưởng đến học tập, nhiều em không làm chủ được bản thân dẫn đến

học hành sa sút. Tình yêu ở lứa tuổi này nhìn chung là lành mạnh, trong

sáng nhưng cũng là một vấn đề rất phức tạp ảnh hưởng đến việc học tập

của HS.

GV cần hết sức bình tĩnh coi đây là sự phát triển bình thường và tất

yếu trong sự phát triển của con người, tế nhị, khéo léo không nên can

thiệp một cách thô bạo làm tổn thương đến tình cảm và lòng tự trọng

của các em.



2. Thực trạng các biện pháp trừng phạt thân thể và xúc

phạm tinh thần của học sinh trong các trường THPT –

nguyên nhân và hậu quả

Hoạt động 3.



Làm việc nhóm:

Bước 1. Mỗi người trong nhóm hãy kể lại 1 trường hợp TPTTTE

trong thực tiễn mà mình đã trải qua hoặc đã đọc, đã nghe hay

đã chứng kiến

Bước 2. Mỗi nhóm chọn 1 trường hợp điển hình nhất để chia sẻ

trước lớp.

+Việc đó xảy ra ở đâu?

+ Xảy ra như thế nào?

+ Việc đó đã để lại những hậu quả như thế nào đối

với trẻ em? (về sức khoẻ, tính mạng, tâm lý, học tập, cuộc sống

tương lai của trẻ)



 Trừng phạt thân thể trẻ em là các hành vi, thái độ, lời

nói do người lớn hoặc người có quyền gây ra nhằm giáo

dục trẻ nhưng làm tổn thương các em về thể xác hoặc

tinh thần.

 Ở Việt Nam từ trước đến nay, việc sử dụng các biện

pháp trừng phạt thân thể và xúc phạm tinh thần khi HS

mắc lỗi vẫn diễn ra khá phổ biến với nhiều mức độ

và hình thức khác nhau .



Nguyên nhân của việc sử dụng các các biện pháp TPTT

và xúc phạm tinh thần khi học sinh mắc lỗi

Hoạt động 4. Thảo luận nhóm:



Nêu các nguyên nhân của việc trừng phạt

thân thể trẻ em ở Việt Nam.



Nguyên nhân của việc sử dụng các các biện pháp TPTT

và xúc phạm tinh thần khi học sinh mắc lỗi

 Quan niệm sai lầm về giáo dục kỉ luật HS: Một bộ phận

không nhỏ các thành viên trong xã hội còn chịu ảnh hưởng

của tư tưởng phong kiến.

 Nhận thức hạn chế của người lớn (thiếu hiểu biết về tâm sinh

lí lứa tuổi).

 Thiếu sự quan tâm, tình u thương đối với trẻ





GV thiếu phương pháp giáo dục trẻ phù hợp, thiếu kinh

nghiệm trong giáo dục







GV vi phạm đạo đức nghề nghiệp







HS có khó khăn về học tập, khó khăn về điều kiện sống…..



Hậu quả của việc TPTT và xúc phạm tinh thần HS

Hoạt động 5:



Trái tim bị tổn thương

Chuyện của Hằng



-



Phát cho mỗi nhóm một hình trái tim



-



Đọc chuyện



-



Phát giấy A4



Hậu quả của việc TPTT và xúc phạm tinh thần HS

Dù trái tim đã được dán lại, bề mặt trái tim vẫn còn

những vết nứt. Mỗi khi ai đó bị tổn thương, dù là

nhỏ nhất, thì người đó vẫn còn những vết hằn

khơng thể nào xóa bỏ được. Do đó, cần hạn chế tối

thiểu việc gây tổn thương cho người khác, đặc biệt

đổi với trẻ em.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. Sự cần thiết phải sử dụng phương pháp giáo dục kltc trong trường THPT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×