Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Một số tiến bộ kỹ thuật khoa học kỹ thuật để nâng cao hiệu quả chăn nuôi

Một số tiến bộ kỹ thuật khoa học kỹ thuật để nâng cao hiệu quả chăn nuôi

Tải bản đầy đủ - 0trang

nành

Giảm lợi nhuận



Xơ chức năng







Giá so với chất lượng

Globulin miễn dịch

Natri

Chi phí

Kháng sinh (và các chất kháng khuẩn khác, ở đây tất cả đều được gọi chung là

kháng sinh) rất rẻ. Vì giá rẻ nên chúng trở nên phổ biến, nhưng kể từ khi không được

phép sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới, bất kỳ sự lựa chọn thay thế nào cũng rất đắt

đỏ. Trên thực tế, giải pháp thay thế càng hiệu quả thì sẽ càng đắt tiền, cho đến khi các

sản phẩm tương tự được sản xuất để cạnh tranh và bán trên thị trường. Hiện nay, các

sản phẩm đơn lẻ hay hỗn hợp các chất phụ gia vẫn chưa chứng minh được hiệu quả

tương tự như kháng sinh, do đó các giải pháp thay thế vẫn sẽ khá đắt trong tương lai

gần.

Vì vậy, các nhà sản xuất và người dùng khẩu phần không kháng sinh phải mua và

bán những khẩu phần này với giá cao hơn so với giá trước đó. Ở nơi thị trường vẫn

cho phép sử dụng kháng sinh, khẩu phần không kháng sinh có thể được bán ở mức

thấp hơn để kiến tạo một thị trường tiềm năng. Trong trường hợp khác, chẳng hạn như

các nước EU, khẩu phần không kháng sinh của heo con được giữ ở mức vừa phải do

sự cạnh tranh khốc liệt, việc miễn cưỡng mua thức ăn đắt tiền cho heo con, và sự ưa

chuộng khẩu phần ít phức tạp do khủng hoảng kinh tế lan rộng. Tuy nhiên, chất lượng

cũng bị ảnh hưởng khi khẩu phần được cung cấp với giá thấp.

Khẩu phần ăn không chứa kháng sinh tuy đắt tiền nhưng chất lượng cao giúp

giảm thời gian của chu kỳ chăn nuôi. Điều này tốt hơn so với việc sử dụng khẩu phần

ít tốn kém nhưng kéo dài thời gian. Mặc dù thức ăn giá thấp phù hợp trong giai đoạn

kết thúc, nhưng vẫn sẽ tốt hơn nếu chúng ta làm tốt ngay trong giai đoạn đầu tiên, đặc

biệt là giai đoạn sau cai sữa. Vì vậy, tốt nhất nên cho ăn ít mà tốt còn hơn là cung cấp

thức ăn ‘kém chất lượng’.

Nguyên liệu

Đây là yếu tố cần được chú ý nhất, việc tiết kiệm chi phí thường được xếp sau

chất lượng và/ hoặc số lượng nguyên liệu. Giả sử không thay đổi chất lượng nguyên

liệu và vẫn giữ ở mức cao trong thức ăn của heo con, hãy thảo luận về những nguyên

liệu nên được sử dụng khi thức ăn khơng còn chứa kháng sinh kích thích tăng trưởng.

Đầu tiên, ngũ cốc phải là một hỗn hợp cung cấp đủ năng lượng và xơ chức năng,

nhưng khơng được có q nhiều yếu tố kháng dinh dưỡng. Tương tự, hỗn hợp ngơ

(hoặc lúa mì chất lượng tốt) với lúa mạch cũng hoạt động rất hiệu quả. Thêm vào hỗn

hợp này yến mạch, đặc biệt là tấm yến mạch đã được chứng minh là có tác dụng hỗ

trợ cân bằng hệ vi sinh đường ruột nhờ giảm thời gian tiêu hóa và tăng hàm lượng xơ

chức năng giúp tăng vi khuẩn có lợi. Trong một số trường hợp, việc bổ sung

carbohydrase ở mức thích hợp sẽ mang lại lợi ích cho khẩu phần ăn.

Thứ hai, các sản phẩm từ sữa cần phải được đánh giá lại. Lactose có tính nhuận

tràng tự nhiên và điều này cũng đúng đối với sucrose. Như vậy, hàm lượng đường đơn

phải được giảm xuống, nhưng điều này sẽ làm giảm lượng ăn vào – cần sử dụng đến

các phương thức hỗ trợ để đưa lượng ăn trở lại mức bình thường. Trong hầu hết các

khẩu phần ở EU, đặc biệt là ở Bắc Âu và Đông Âu, khẩu phần ăn giai đoạn 1 sau cai

sữa chứa khoảng 10% hàm lượng lactose và không vượt quá 5% trong khẩu phần giai

đoạn 2, đây được coi là những khẩu phần có hàm lượng lactose cao.

18



Thứ ba, bắt buộc phải có thành phần xơ chức năng. Chất xơ này có nguồn gốc

từ các nguyên liệu như bã rau diếp xoăn, bột carob, bã củ cải đường, bã táo ép, vv. Sự

cân bằng và hàm lượng chính xác của từng nguyên liệu là bí mật thương mại giữa các

nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi, sở hữu được chúng dĩ nhiên là điều tốt nhất.

Thứ tư, nguồn protein cần phải tinh khiết trong khẩu phần khơng kháng sinh. Có

nghĩa là chúng phải dễ tiêu hóa và khơng có nhiều yếu tố kháng dinh dưỡng. Khơng

nên dùng khô dầu đậu nành, và một số nguồn protein tương tự như khô dầu canola, bã

hạt cải dầu, khô dầu hướng dương, đậu Hà Lan, đậu faba, vv. Protein đậu nành vẫn có

thể được sử dụng dưới dạng đậu nành nguyên dầu ép đùn hoặc protein đậu nành đậm

đặc (concentrated soy protein). Hiện nay bột cá bị hạn chế về mặt giá vì bột cá chất

lượng tốt có giá thành vượt ngồi tầm của hầu hết các cơng thức thức ăn, trong khi đó

bột cá rẻ khơng phù hợp với thức ăn chất lượng cao của heo con. Còn nhiều nguồn

protein khác có mặt trên thị trường, tương tự như đạm đậu nành đậm đặc - được coi là

nguồn protein tham khảo cho thức ăn của heo con.

Thứ năm, tăng globulin miễn dịch. Đây là thành phần tốt nhất được sử dụng

trong khẩu phần khơng kháng sinh, có trong huyết tương động vật hoặc các kháng thể

có nguồn gốc từ trứng. Sản phẩm globulin miễn dịch có nguồn gốc từ trứng tốt hơn, vì

đây là sản phẩm đặc hiệu được thiết kế để chống lại các mầm bệnh ở heo con, trong

khi globulin từ huyết tương động vật phụ thuộc vào nguồn gốc tác nhân gây bệnh mà

vật nuôi tiếp xúc. Khơng cần phải nói, chi phí sử dụng huyết tương động vật rất cao

vừa để đáp ứng yêu cầu về chất lượng với hàm lượng thích hợp, vừa để tạo ra thức ăn

thành phẩm đáp ứng kỳ vọng của thị trường.

Chất dinh dưỡng

Vi khuẩn, đặc biệt là các vi khuẩn gây bệnh cần protein để phát triển mạnh. Do

đó, khơng chỉ tất cả các nguồn protein có trong thức ăn cần có tỷ lệ tiêu hóa cao nhất

có thể, mà tổng protein (thô) trong thức ăn phải được giới hạn trong khoảng 18-19%

hoặc thậm chí ít hơn, trong tất cả các khẩu phần từ khẩu phần ăn dặm cho đến khẩu

phần giai đoạn trọng lượng 20-30 kg. Để đạt được mục tiêu này cần sử dụng các axit

amin tổng hợp, nhưng chú ý không được sử dụng quá 0.5% L-Lysine HCL. Chất xơ,

như đã đề cập bên trên cũng cần phải được tăng lên. Trước đây, 2% xơ thô được xem

là lý tưởng cho thức ăn heo con, nhưng trong khẩu phần khơng kháng sinh thì hồn

tồn ngược lại.

Giả sử khẩu phần ăn có chứa hỗn hợp xơ chức năng, thì nên có khoảng 3% xơ

thơ, tăng thêm một chút tùy theo độ tuổi của heo, nhưng không bao giờ được vượt quá

4% (phụ thuộc vào độ tuổi, chất lượng thức ăn với việc cân đối chi phí).

Hàm lượng natri nên được giảm xuống còn khoảng 0.3%, giả sử muối cũng có

tính nhuận tràng, tránh việc sử dụng vượt mức whey, bột cá, và huyết tương động vật

cũng mang lại nhiều lợi ích. Ngược lại, nếu khơng thể giảm hàm lượng natri, có thể sử

dụng bất kỳ nguyên liệu nào có khả năng hấp thụ nước cao.

Năng lượng được đề cập cuối cùng, vì sau khi giải quyết hết các vấn đề ở trên,

khẩu phần thức ăn sẽ tự động chứa ít năng lượng, trừ khi khẩu phần chứa hàm lượng

chất béo/dầu cao. Như vậy, 10 MJ/kg năng lượng thuần được coi là đủ cho khẩu phần

không kháng sinh.

2.2. Chế biến thức ăn



19



Hình 2: Trang trại ni heo bằng cám hữa cơ

Quy trình chế biến cám hữu cơ và quy định thành phẩm, để tạo ra những con heo

sạch như sau:

- Ngô được hút vào máy, nghiền nhỏ pha với cám gạo, đậu tương rồi chế với chế

phẩm sinh học M.

- Cám được chế biến cho từng độ tuổi của heo để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng

tốt nhất.

- Cám thành phẩm phải ẩm, nắm lại được, không có mùi mốc, có mùi vị đặc

trưng, khơng sử dụng hóa chất.

- Khi kiểm tra con người có thể ăn được.

Đây là quy trình chế biến thức ăn lên men vi sinh nên thức ăn tương đối an tồn

Quy trình xử lý nước:

- Nước giếng khoan được bơn lên bể lắng

- Xử lý sắt và các loại kin loại nặng

- Đưa vào bể chứa kín để tránh sự xâm nhập các yếu tố bên ngoài

- Nước được truyền đến tận chuồng vật ni

- Hệ thống vòi nước tự động sẽ phun nước khi vật ni ngậm vào

Đây là quy trình để đảm bảo nước không bị nhiễm bẩn, tù đọng.

Cán bộ thú y cho biết rất khó để kiểm tra thức ăn vật nuôi thường xuyên tuy

nhiên do trang trại chế sử dụng thức ăn hữu cơ chứa men vi sinh nên cũng tin tưởng

hơn bởi chỉ cần sơ xuất trong một khâu chế biến đều có thể làm hỏng sự lên men của

thức ăn

2.3. Kỹ thuật cho ăn

Thức ăn có ảnh hưởng quan trọng đến q trình chăn ni heo thịt. Thức ăn giúp

cho con giống phát triển tốt, tùy theo từng giai đoạn phát triển của heo thịt mà cung

cấp khẩu phần hợp lý để đáp ứng đầy đủ dinh dưỡng cho heo thịt.

Mức ăn cho heo như sau:

- Trọng lượng heo 20 kg – 30 kg: cho ăn 1,2 – 1,5 kg/con/ ngày.

- Trọng lượng heo 31kg - 60 kg: cho ăn 1,5 – 2,3 kg/con/ngày.

- Trọng lượng heo 61 kg – 100 kg: cho ăn 2,3- 3 kg/con/ngày.

Hàng ngày cho heo ăn thêm từ 1-2 kg rau xanh:

- Cho ăn đúng bữa, ngày 2-3 lần. Việc cung cấp thức ăn cho heo thịt đúng giờ sẽ

có tác dụng tạo tính thèm ăn, tạo cho heo có phản xạ để tăng tiết các dịch tiêu hóa nên

heo sử dụng và tiêu hóa thức ăn tốt hơn.

20



- Khơng nên thay đổi thức ăn đột ngột, trường hợp phải thay đổi khẩu phần, nên

thay đổi từ từ.

- Nên luôn ln có nước sạch và cho heo uống nước tự do. Nước là 1 nhu cầu rất

cần thiết cho cơ thể của heo, nước giữ vai trò quan trọng trong việc vận chuyển các

chất dinh dưỡng cho cơ thể. Nếu thiếu nước thì sẽ làm hạn chế việc hấp thu các dưỡng

chất, làm cho heo chậm lớn, nhất là trong giai đoạn kết thúc từ 61-100 kg. Vậy ta phải

cung cấp đầy đủ nhu cầu nước cho heo, nguồn nước phải sạch, tốt nhất là sử dụng vòi

nước uống tự động, để cho heo uống tùy theo nhu cầu cơ thể, nếu chưa có vòi uống tự

động thì ta có thể cho heo uống nước sau mỗi bữa ăn như sau:

+ Heo từ 20 –30 kg: 4-5 lít nước / ngày

+ Heo từ 31- 60 kg: 6-7 lít / ngày.

+ Heo từ 61 - 100 kg: 8-10 lít / ngày.

Lưu ý: Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh hay thức ăn tự trộn khơng cần nấu chín mà

cho heo ăn sống. Khi nấu chín thức ăn thì 1 số Vitamin có trong thức ăn sẽ mất đi, khi

nuôi với số lượng lớn mà nấu chín thức ăn thì rất tốn cơng, tốn nhiều chất đốt.

Hiện nay, nhiều hộ gia đình ni lợn sử dụng thức ăn đậm đặc trộn với tấm, bắp

cho heo ăn sống rất thuận lợi, tiết kiệm nhiều chất đốt và thời gian. Chỉ cần lưu ý là

thức ăn sống khi cho ăn cần cho 1 ít nước, hơi ẩm để heo không bị bụi cám khi heo

tranh ăn.

3. Thành tựu ở Việt Nam và thế giới

3.1. Việt Nam



Hình 3: Mơ hình ni heo sạch của anh Võ Duy Sơn (39 tuổi, Quảng Nam) và

Trương Dương Bá Tùng (33 tuổi, Đà Nẵng)

Một số dòng sản phẩm bổ sung khống và vitamin để nâng cao hiệu quả chăn ni

heo:

21



Hình 3: MHSELL-một sản phẩm bổ sung khoáng của VIPHAVET



22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Một số tiến bộ kỹ thuật khoa học kỹ thuật để nâng cao hiệu quả chăn nuôi

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×