Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giới thiệu về cây sả

Giới thiệu về cây sả

Tải bản đầy đủ - 0trang

Sau năm 1975, cây Sả còn được nghiên cứu và trồng trọt ở các tỉnh phía Nam

như miền Đơng Nam Bộ, Tây Nguyên, v.v…

Sả là cây chịu hạn nhưng chịu ngập úng kém. Nhiệt độ thích hợp đối với cây

Sả là 24-28oC. Cây Sả phát triển kém khi nhiệt độ dưới 10 oC. Trên 35oC Sả cũng

sinh trưởng kém. Lượng mưa thích hợp là 1500 – 2000 mm/năm.

Việt Nam có 15 lồi sả, trong đó có 11 lồi có mùi thơm. Về mặt hóa học có 3

nhóm chính:

- Sả cho xitronelal: Sả Java còn gọi là sả xòe (Cymbopogon

winterianus Jawitt), sả Xrilanca còn gọi là sả bẹ (Cymbopogon

nardus (L.) Rendle). Hai loài này được trồng nhiều ở Việt Nam.

- Sả cho geraniol: Sả hoa hồng (Cymbopogon martiniivar motia Burk)

đang được nghiên cứu trồng lớn để khai thác. Sả hoa hồng cho tinh

dầu rất thơm và có giá trị kinh tế cao do thành phần chính là geraniol

lên tới 80%.

- Sả cho xitral: Sả chanh sồm 2 loài: Cymbopogon tortilis A.Camus và

Cymbopogon flexnosus Stapf. Các chủng loại này cũng đang được

nghiên cứu để đưa vào trồng trọt.

2. Công dụng

2.1. Làm rau gia vị

Sả được dùng làm rau gia vị lâu đời ở các nước Châu Á. Sả được sử dụng rộng

rãi như là một loại thảo dược trong món ăn châu Á. Nó có hương vị chanh tinh

tế và có thể được dùng tươi (rất phổ biến) hoặc sấy khô và làm bột.

Ở Việt nam sả không thể thiếu trong các món mắm, món nấu với thịt, cả món ăn

chay như tương, chao.

Ở Ấn Độ cây sả được sử dụng trong các loại trà , súp , và món cà ri . Nó cũng

thích hợp cho gia cầm, cá, thịt bò, hải sản…

Sả thường được dùng như trà ở các nước Châu Phi như Togo và Cộng hòa Dân

chủ Congo và các nước Mỹ Latinh như Mexico.

2.2. Tinh dầu sả dùng như hóa chất cơng nghiệp

2.2.1. Tinh dầu sả dùng như thuốc bảo vệ thực vật

Ở các nước Đông Nam Á, dầu sả (Lemongrass oil) được sử dụng như là một loại

thuốc trừ sâu và một chất bảo quản.Nghiên cứu cho thấy rằng sả dầu có đặc

tính xua đuổi cơn trùng và chống nấm.

Các thành phần hóa học chính của tinh dầu sả là geraniol và citronellol có tác

dụng sát trùng, do đó tinh dầu sả được sử dụng trong xà phòng, nến và nhang

muỗi để xua đuổi cơn trùng như dán, kiến, ruồi, muỗi, rận, rệp…

14



Mặc dù dầu sả có khả năng xua đuổi côn trùng, tuy nhiên dầu sả có tác dụng hấp

dẫn và được sử dụng như "mồi nhử" để thu hút ong mật. Vì một trong những

chất pheromone từ ong chúa tiết ra giống như một chất có mùi của tinh dầu sả.

Do đó trong kỹ thuật nuôi ong mật người ta dùng dầu sả như chất gọi đàn khi

đàn ong mới được chuyển vùng.

Ở Việt nam cây sả được trồng khắp, nhân dân trồng cây sả quanh nhà, ngoài

vườn, xung quanh nhà vệ sinh để xua đuổi ruồi, muỗi, dĩn, bọ chét vừa làm sạch

môi trường, vừa có tác dụng phòng bệnh. Ngồi ra, tinh dầu sả còn khử mùi hơi

trong cơng tác vệ sinh.

Kinh nghiệm dân gian Nam Bộ cho biết khi trồng sả rắn độc không dám đến gần

để trú ẩn hay làm hang.

Ở Ấn Độ, theo kinh nghiệm dân gian, người ta dùng thân là sả đặt trên ngọn cây

dầu cọ để xua đuổi các loài bọ cánh cứng hại cây cọ.

2.2.2. Tinh dầu sả dùng trong công nghiệp

Tinh dầu sả được khai thác trong công nghiệp ngày càng phổ biến, chúng được

dùng trong các sản phẩm dầu thơm y học, dầu thơm mỹ phẩm, sà phòng y tế,

hương liệu thực phẩm…

2.3. Các bộ phận cây sả dùng làm thuốc

2.3.1. Theo Đông y

Sả có tên là Hương mao, có vị the, cay, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng làm ra

mồ hơi, sát khuẩn, chống viêm, hạ khí, thơng tiểu, tiêu đờm để chữa đầy bụng,

đái rắt, chân phù nề, chữa ho do cảm cúm...Tồn cây có mùi thơm đặc biệt.

Ngồi được dùng làm rau ăn, gia vị (nhân dân thường dùng ăn sống hoặc tẩm

ướp cho thơm các món ăn) cây sả còn là vị thuốc chữa bệnh rất hữu hiệu. Bộ

phận dùng làm thuốc là lá, rễ sả dùng tươi, phơi hay sấy khô.

2.3.2. Theo Tây y

Cây sả mới được nhập vào Châu Âu và Châu Mỹ trong thời gian gần đây và

dược tính của nó nhanh chóng được nghiên cứu và khai thác.

Trong y học dân gian của Brazil cho là tinh dầu sả đã giải được lo âu, trầm cảm

và là thuốc chống co giật, nhưng không ảnh hưởng đến sức khỏe con người. các

nghiên cứu ở Brazil trong phòng thí nghiệm đã cho thấy tinh dầu sả có tác dụng

chống oxy hóa, chống viêm. Citronellol là một thành phần tinh dầu từ các loài

sả Cymbopogon citratus, C. winterianus và loài cây giống như sả (Lippia

alba) được cho là có đặc tính chống huyết áp cao. Citronellol đã làm giảm huyết

áp ở chuột nhờ vào tác động của tinh dầu sả vào cơ trơn làm giãn mạch.



15



Trong một thử nghiệm khác kết luận tinh dầu sả (C. citratus) đã được sử dụng

như một phương thuốc rẻ tiền để điều trị nấm miệng ở bệnh nhân HIV/AIDS.



16



PHẦN 2: QUY TRÌNH SẢN XUẤT

I. Quy trình chưng cất tinh dầu sả

Nguyên liệu



Xử lí nguyên liệu



Hơi nước



Nước lạnh



Chưng cất







Hỗn hợp hơi



Phơi/sấy



Ngưng tụ



Chất đốt



Tinh dầu và nước



Phân ly



Nước thải



Nước chưng



Tinh dầu thơ



Xử lí



Tinh chế



Tinh dầu loại

II



Tinh dầu thành

phẩm

17



II. Thuyết minh quy trình

1. Nguyên liệu

Nguyên liệu dùng cho quá trình chưng cất ở đây là lá sả chanh. Thành phần

chính chúng ta cần chưng cất của tinh dầu sả là geraniol (chiếm khoảng 20 40%). Trước khi chưng cất cần phải xử lý nguyên liệu.

2. Xử lý nguyên liệu

Nguyên liệu là củ, lá sả tươi đạt độ chín kỹ thuật, tức là lúc đầu lá (tính từ ngồi

vào) đã khơ từ 5 – 10cm thì cắt, sau khi cắt xong lá sả được phơi héo đến độ ẩm

còn 50 % so với ban đầu. Ở độ ẩm này, lá sả bảo quản được một số ngày ở nơi

cất, hơn nữa, cất lá sả héo sẽ giảm được 35 % nhiên liệu và 27 % thời gian

chưng cất. Trước khi đưa lá sả vào nồi cất, có thể cắt nhỏ lá sả thành từng đoạn

nhỏ từ 2 - 3cm để tăng độ tiếp xúc của lá sả với hơi, cũng cần chú ý loại các tạp

chất như cỏ rác lẫn vào trong quá trình thu hái, khâu cắt nhỏ nguyên liệu cũng

cần chú ý đến việc lớp nguyên liệu xốp có thể làm tắt nghẽn hơi. Giả sử độ ẩm

sau khi xử lý là 45%.

3. Chưng cất

Sau khi nạp liệu xong, vặn chặt các khóa để khóa nắp thiết bị và tiền hành chưng

cất bằng cách cấp hơi cho nồi chưng từ nồi hơi riêng. Giữ nhiệt độ hơi ổn định

để đảm bảo hỗn hợp chưng được giữ ở áp suất cao và nước ngưng chảy đều, liên

tục. Đồng thời mở nước lạnh vào thiết bị ngưng tụ và tiếp tục cấp hơi vào nồi

chưng. Nguyên liệu nạp vào nồi cất phải đảm bảo từ 180 - 200 kg/m 3 thể tích

thiết bị, thời gian chưng cất (lá héo) từ 2.5 - 3 giờ. Cần khống chế nhiệt độ nước

làm lạnh trong khoảng 35 – 400C.

Tại nồi chưng, hỗn hợp được gia nhiệt bằng hơi nước bão hòa đến nhiệt độ sơi.

Ở trong nồi, hơi bốc từ dưới lên vào ống dẫn hơi.

Sau quá trình chưng cất ta thu được bã, bã này sẽ được phơi hoặc sấy để tận

dụng làm chất đốt cho nồi hơi.

4. Ngưng tụ

Hơi được dẫn vào thiết bị ngưng tụ. Tại đây, bên ngoài ống dẫn hơi được lắp đặt

đường ống làm lạnh đi ngược chiều với hơi nóng. Khi hơi tiếp xúc với đường

ống dẫn nước lạnh sẽ bị ngưng tụ, do vậy nồng độ cấu tử dễ bay hơi tăng dần

theo chiều dài ống dẫn hơi. Hơi sau khi được ngưng tụ thành chất lỏng sẽ chảy

vào phễu thủy tinh và đi vào thiết bị phân ly.

5. Phân ly

Dung dịch lỏng thu được gồm có tinh dầu và nước. Tinh dầu sả có trọng lượng

riêng nhẹ hơn nước nên phân lớp nổi lên trên, tách ra sẽ thu được tinh dầu. Tại

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giới thiệu về cây sả

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×