Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: thực trạng tại các cửa hàng xăng dầu thuộc công ty xăng dầu hà sơn bình

CHƯƠNG 2: thực trạng tại các cửa hàng xăng dầu thuộc công ty xăng dầu hà sơn bình

Tải bản đầy đủ - 0trang

12



Bố trí, sắp xếp lao động nhằm giảm thiểu khoảng cách giữa nơi ở và CHXD mà nhân

viên bán xăng làm việc.

Chế độ làm việc theo ca, kíp; phân công cụ thể.

2.2 Phương pháp nghiên cứu thực trạng tại các cửa hàng thuộc công ty xăng dầu Hà

Sơn Bình

Từ mô hình nghiên cứu (Hình 1.1), đề cương bảng hỏi được xây dựng (phụ lục 01) và

từ đó thiết lập bảng hỏi với thang đo Likert 5 mức độ từ điểm 1 – “Hoàn toàn không đồng

ý” tới điểm 5 – “Hoàn toàn đồng ý”. Với tổng thể nghiên cứu là các CHXD trực thuộc văn

phòng công ty xăng dầu Hà Sơn Bình với 573 lao động trực tiếp, như vậy, để mẫu nghiên

cứu có khả năng đại diện cho tổng thể thì cỡ mẫu tối thiểu là 20*5 = 100 mẫu (với 20 là số

quan sát). Như vậy, nghiên cứu được thực hiện với số phiếu phát ra là 150 phiếu/15 cửa

hàng, thu về 112 phiếu (chiếm 74,67% số phiếu phát ra), trong đó có 98 phiếu có chất lượng

(chiếm 87,5% số phiếu thu về).

Thống kê mẫu điều tra cho thấy gần một nửa số công nhân bán xăng dầu đều nằm

trong độ tuổi từ 35 đến dưới 45 và không có lao động nào dưới 25 tuổi, hơn 70% số lao

động là nam. Cụ thể hình 2.1.

Hình 2.1: Biểu đồ tỷ lệ mẫu điều tra theo tuổi và giới tính

Độ tuổi

28.6



28.6



Từ 25 tuổi đến dưới 35 tuổi

Từ 35 tuổi đến dưới 45 tuổi

Từ 45 tuổi trở lên



42.9



Giới tính

28.6



Na

m

Nữ



71.4



13



(Nguồn: Tổng hợp của sinh viên)

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng tại các cửa hàng thuộc công ty xăng dầu Hà Sơn Bình

2.2.1 Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo

Độ tin cậy của thang đo được đánh giá thông qua hệ số Cronbach Alpha. Theo Hoàng

Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), các thang đo có hệ số Cronbach Alpha từ 0,6 là

có thể chấp nhận được và sẽ giữ lại để tiếp tục sử dụng cho các phân tích tiếp theo. Tuy

nhiên, hệ số Cronbach Alpha chỉ cho biết các thang đo có liên kết với nhau hay không mà

không giúp cho việc quyết định nên giữ lại hay bỏ đi chỉ báo nào và do vậy cần sử dụng

thêm hệ số tương quan biến tổng (item – total correclation) để có thêm cơ sở cho việc đưa

ra các quyết định này.

Theo kết quả tính toán, biến phụ thuộc “Kết quả thực hiện công việc” có Cronbach’s

Alpha là 0,787, nằm trong khoảng 0,6 đến 1, do đó các thang đo có liên kết với nhau và là

thang đo tương đối tốt. Bên cạnh đó, những quan sát đo lường của biến này có các hệ số

tương quan biến tổng lớn hơn 0,3 nghĩa là đều đạt yêu cầu.

Các biến độc lập cũng đều có Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,6 (thấp nhất là biến “Các

nhân tố thuộc về Thẩm mỹ học” với giá trị Cronbach’s Alpha là 0,672 ) và mọi quan sát đều

có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,4. Đặc biệt, các thang đo biến “Các nhân tố thuộc

về Tâm – Sinh lý lao động” là tốt nhất với giá trị Cronbach’s Alpha là 0,919.

Tuy nhiên, có duy nhất biến độc lập “Các nhân tố thuộc về Tâm lý – Xã hội” có

Cronbach’s Alpha nhỏ hơn 0 và mọi quan sát của biến này đều có hệ số tương quan biến

tổng nhỏ hơn 0,3. Do đó, “Các nhân tố thuộc về Tâm lý – Xã hội” bị loại bỏ khỏi mô hình.

Điều này là hợp lý do trên thực tế, phần lớn các mối quan hệ giữa những công nhân bán

xăng dầu – lao động phổ thông tương đối đơn giản và gần gũi, gần như không bao giờ có

tranh chấp hay mâu thuẫn; mặt khác, trong câu nhận xét về mối quan hệ với cấp trên, có thể

bảng khảo sát chưa thực sự khai thác triệt để được vấn đề này. Vì vậy, dù có KQ THCV tốt

hay không thì điều kiện về tâm lý – xã hội luôn được NLĐ đánh giá tốt hoặc rất tốt.

Như vậy, việc loại bỏ một số thang đo qua kết quả tính tốn hệ sớ Cronbach’s Alpha là

hợp lý và phù hợp với thực tiễn. Kết quả đánh giá Cronbach’s Alpha các thang đo của các

biến được trình bày cụ thể trong phụ lục 02.

2.2.2 Kết quả phân tích nhân tố - EFA

Để loại bỏ một lần nữa những thang đo không đủ độ tin cậy, giữ lại các thang đo có

độ kết dính cao, có thể gom thành các nhân tố phản ánh chính xác thành phần đo lường các

biến trong mô hình, quá trình phân tích nhân tố được tiến hành 2 lần, kết quả được tổng

hợp trong bảng 2.1 và phụ lục 03. Yêu cầu trong bước này là hệ số KMO (Kaiser – Meyer

– Olkin) phải đạt giá trị từ 0,5 trở lên (0,5 =< KMO <= 1) thể hiện phân tích nhân tố là phù

hợp. Kiểm định Bartlett (Bartlett’s test) có ý nghĩa thống kê (sig < 0,05), chứng tỏ các



14



biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể. Hệ số tải nhân tố (Factor Loading) là

chỉ tiêu đảm bảo mức ý nghĩa thiết thực của EFA, hệ số này phải lớn hơn hoặc bằng 0,5.

Kết quả cho thấy, các thang đo có độ tin cậy khá cao, tuy nhiên, toàn bộ quan sát của

biến “Các nhân tố thuộc về Thẩm mỹ học” và quan sát “Điều kiện vệ sinh” thuộc biến “Các

nhân tố thuộc về Vệ sinh – Y tế” bị loại bỏ. Từ đó, các quan sát còn lại được gom thành 2

biến mới là “Các nhân tố thuộc về Tâm sinh lý và Điều kiện sống của NLĐ” và “Các nhân

tố thuộc về Vệ sinh – Y tế” như hình 2.2. Như vậy từ mô hình ban đầu với 5 biến độc lập,

sau quá trình phân tích nhân tố - EFA, 2 nhân tố về Thẩm mỹ học và Tâm lý – Xã hội đã bị

loại trừ.

Hình 2.2: Kết quả các biến độc lập



Cac nhân tô thuôc vê

Tâm sinh ly lao đông



Cac nhân tô

thuôc vê Tâm

sinh ly và Điêu

kiên sông cua

NLĐ



Cac nhân tô thuôc vê

Điêu kiên sông cua

NLĐ



(-) Điêu kiên vê sinh nơi làm viêc

Cac nhân tô thuôc

Cac nhân tô thuôc vê

vê Vê sinh – Y tê

Vê sinh – Y tê



(Nguồn: Tổng hợp của sinh viên)



Bảng 2.1: Kết quả phân tích nhân tố - EFA

Các hệ số KMO

(hệ số tải nhân tố)



P-value



Phương sai

Số biến

trích

được rút ra



Kết luận



KQ THCV



0,704



0,000



71,840



0



Đủ điều kiện phân tích



Các biến

độc lập



0,671



0,000



84,095



4



Đủ điều kiện phân tích



(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu khảo sát của sinh viên)



2.2.3 Kết quả phân tích tương quan

Từ kết quả kiểm định Cronbach’Anpha và phân tích nhân tố như bên trên, có 2 biến

độc lập trong mô hình nghiên cứu được hiệu chỉnh như sau:

X1: Các nhân tố thuộc về Tâm sinh lý và Điều kiện sống của NLĐ

X2: Các nhân tố thuộc về Vệ sinh – Y tế



15



Để đánh giá mối quan hệ tương quan giữa các biến trong mô hình, bài viết sử dụng

phương pháp tương quan Pearson correlation coefficient. Hệ số tương quan được ký hiệu là

r và có giá trị trong khoảng -1 ≤ r ≤ +1. Giá trị r > 0 thể hiện mối tương quan đồng biến

giữa các biến phân tích và ngược lại giá trị r < 0 thể hiện mối quan hệ nghịch biến. Giá trị r

= 0 chỉ ra rằng các biến phân tích không có mối liên hệ với nhau. Trong đó:

| r | → 1: quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc càng chặt chẽ

| r | → 0: quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc càng yếu.

Kết quả cho thấy hệ số tương quan (r) đều có giá trị > 0, thể hiện các biến có quan hệ

thuận chiều với nhau. Thêm vào đó, | r | > 0.4, và r → 1, cụ thể là r của biến phụ thuộc với 2

biến độc lập X1 và X2 lần lượt là 0,77 và 0,487, nên “KQ THCV” có tương quan rất chặt

chẽ với “Các nhân tố thuộc về Tâm sinh lý và Điều kiện sống của NLĐ” và có tương quan

tương đói chặt chẽ với “Các nhân tố thuộc về Vệ sinh – Y tế”. Tương tự, hệ số tương quan

của 2 biến độc lập là 0,69 nên hai biến này cũng có tương quan chặt chẽ với nhau. (Cụ thể ở

bảng 2.2)

Bảng 2.2: Trung bình, độ lệch chuẩn và hệ số tương quan của các biến



STT



Biến



Trung

bình



Độ lệch

chuẩn



KQ

THCV



1



1



KQ THCV



4.4067



.46311



2



Các nhân tố thuộc về

Tâm sinh lý và Điều

kiện sống của NLĐ



3.3167



1.00692



3



Các nhân tố thuộc về

Vệ sinh – Y tế



3.5450



.99063



Các nhân tố

thuộc về Tâm Các nhân tố

thuộc về

sinh lý và Điều

Vệ

sinh – Y

kiện sống của

tế

NLĐ

.770



.487



-



.690



-



N=98, mức ý nghĩa- sig (2 phía) = 0.00

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu khảo sát của sinh viên)



2.2.4 Kết quả phân tích hồi quy

Nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng biến độc lập lên biến phụ thuộc, bài viết

sử dụng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất – OLS với biến phụ thuộc là “KQ

THCV” của công nhân bán hàng tại các CHXD và 2 biến độc lập trong mô hình nghiên cứu

được hiệu chỉnh từ kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tớ.



16



2.2.4.1 Xây dựng và kiểm định mơ hình hời quy tuyến tính

Mô hình tổng quát: Y = β0 + β1(X1) + β2(X2)

Sử dụng phần mềm phân tích dữ liệu SPSS phiên bản 22.0 để xây dựng mô hình

đánh giá tác động của các biến độc lập mới tới biến phụ thuộc Y, cụ thể hình 2.3

Hình 2.3: Mô hình hồi qui

β1 = 0,814



Các nhân tố thuộc về Tâm sinh lý

và Điều kiện sống của NLĐ



Kết quả thực hiện công việc

Các nhân tố thuộc về Vệ sinh – Y tế

β2 = 0,065

(Nguồn: Sinh viên thực hiện)

Hệ số R2 điều chỉnh (Adjusted R Square) tương đối cao - bằng 0,678 - nghĩa là mô

hình hồi quy tuyến tính đã xây dựng phù hợp với tập số liệu ở mức 67,8%. Tuy nhiên sự

phù hợp này chỉ đúng với dữ liệu mẫu. Để kiểm định xem có thể suy diễn mô hình cho tổng

thể thực hay không ta phải kiểm định độ phù hợp của mô hình, sử dụng kiểm định F trong

bảng phân tích phương sai (ANOVA) với giả thuyết H 0 là β1 = β2 = 0. Kết quả phân tích cho

thấy giá trị Sig. của kiểm định F rất nhỏ (0.000), điều đó tương ứng với việc có cơ sở để bác

bỏ Ho tức là các hệ số hồi quy khác 0. Như vậy mô hình hồi quy tuyến tính là phù hợp với

tổng thể. Đồng thời, giá trị Sig. của kiểm định t của các biến đều bằng 0,000 nên các biến

độc lập đều có ý nghĩa thống kê và có quan hệ tuyến tính với biến phụ thuộc. (tham khảo

phụ lục 04)

2.2.4.2 Kết quả kiểm định đa cộng tuyến

Mô hình hồi quy có hiện tượng đa cộng tuyến khi các biến độc lập trong mô hình

phụ thuộc lẫn nhau và thể hiện được dưới dạng hàm số. Hiện tượng đa cộng tuyến trên thực

tế là khó tránh khỏi, các biến độc lập khó mà không có quan hệ với nhau. Vì vậy, ta chỉ cần

quan tâm đến việc mô hình hồi quy có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến cao hay không, dựa

trên các dấu hiệu: (i) Giá trị của hệ số phóng đại phương sai (VIF - variance inflation

factor), nếu VIF>10 thì mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến cao. (ii) Giá trị của hệ số

tương quan cặp các biến độc lập (r), nếu r >0.8 thì có thể xem như mô hình có đa cộng

tuyến cao. (Nguyễn Quang Dong và Nguyễn Thị Minh, 2013)



17



Dựa trên kết quả về hệ số tương quan trong mô hình, ta có được giá trị r là 0,69 nhỏ

hơn 0,8. Ngoài ra, giá trị VIF < 10, do vậy, mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến

cao. (tham khảo phụ lục 04)

2.2.4.3 Phương trình hời quy

Phương trình hồi quy sau khi phân tích có kết quả như sau:

Y = 0,814(X1) + 0,065(X2)

Điều này có nghĩa với mức ý nghĩa 5% thì 2 nhóm yếu tố cùng tác động đến KQ

THCV và cùng có ảnh hưởng tích cực.

Hệ số tự do β0:

β0 = 0, vì điều kiện lao động là nền tảng để NLĐ thực hiện hoạt động lao động của

mình, có nghĩa là khi NLĐ thực hiện công việc thì bản thân họ đã luôn chịu tác động từ môi

trường làm việc xung quanh (điển hình như các vấn đề về khí hậu). Vì vậy, không thể xác

định được quá trình lao động hay KQ THCV mà không có điều kiện lao động. Do đó, hệ số

tự do trong phương trình hồi quy là 0.

Hệ số β:

β 1: Trong trường hợp biến “Các nhân tố thuộc về Vệ sinh – Y tế” không thay đổi,

nếu biến “Các nhân tố thuộc về Tâm sinh lý và Điều kiện sống của NLĐ” tăng lên 1 đơn vị

thì mức KQ THCV tăng thêm 0,814.

β 2: Trong trường hợp biến “Các nhân tố thuộc về Tâm sinh lý và Điều kiện sống của

NLĐ” không đổi, nếu biến “Các nhân tố thuộc về Vệ sinh – Y tế” tăng lên 1 đơn vị thì KQ

THCV tăng thêm 0,065.

Có thể thấy các yếu tố vẫn tác đợng tḥn chiều như trong dự đốn ban đầu, điều đó

có nghĩa là KQ THCV sẽ tăng thêm khi các nhân tố về Vệ sinh – Y tế, Tâm sinh lý và Điều

kiện sống của NLĐ được cải thiện tớt hơn

.



18



CHƯƠNG 3: KẾT ḶN VÀ MỢT SỚ KHÚN NGHI

3.1 Kết luận

Mô hình sau nghiên cứu có một vài điểm khác biệt so với mô hình lý thuyết ban đầu,

trong đó các nhân tố về Tâm lý – Xã hội và các nhân tố về Thẩm mỹ học bị loại khỏi mô

hình. Điều này là do 2 nhân tố vừa nêu được coi như hai nhóm nhân tố duy trì, theo đó, điều

kiện làm việc xấu thì sẽ khiến cho người lao động có cảm giác tiêu cực cao và khi điều kiện

làm việc nhìn chung tương đối tốt thì giúp người lao động ở trong trạng thái bình ổn. (Ali

Yassin Sheikh Ali et al, 2013).

Bên cạnh đó, thực trạng tại các CHXD thuộc văn phòng công ty Hà Sơn Bình như đã

đề cập ở mục 2.1 cho thấy, các vấn đề về thẩm mỹ học tại từng cửa hàng đã và đang được

quan tâm nhằm cải thiện môi trường xung quanh nơi NLĐ làm việc như: các trang thiết bị

được thiết kế bố trí khoa học và đảm bảo an toàn vệ sinh cũng như an toàn phòng chống

cháy nổ - điều này cũng khiến cho quan sát “điều kiện vệ sinh nơi làm việc” bị loại bỏ,

đồng thời công ty cũng thực hiện nhiều chương trình tạo cảnh quan xanh – sạch – đẹp tại

mọi CHXD. Do đó, khi khảo sát về vấn đề này, các công nhân bán hàng đều cho rằng điều

kiện về thẩm mỹ tốt hoặc rất tốt, dù KQ THCV của họ có cao hay không. Mặt khác, các vấn

đề về tâm lý – xã hội như mối quan hệ giữa các đồng nghiệp hay giữa các cấp - như đã giải

thích ở mục 2.2.1 – cũng luôn được đánh giá cao, không có câu trả lời nào nhận xét mối

quan hệ mâu thuẫn hay căng thẳng. Vì vậy, việc các biến bị loại khỏi mô hình là hợp lý với

điều kiện thực tế tại các CHXD hiện nay.

Cụ thể hơn, kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố thuộc về Tâm sinh lý và Điều

kiện sống của NLĐ - bao gồm: (i) Sự căng thẳng về thể lực; (ii) Sự căng thẳng về thần

kinh; (iii) Trạng thái và tư thế lao động; (iv) Vấn đề nhà ở, đi lại của NLĐ; (v) Chế đợ làm

việc và nghỉ ngơi; (vi) Tình trạng xã hội và pháp luật – có tác động mạnh tới KQ THCV

của công nhân bán xăng dầu hơn cả. Bởi đây là các nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp và rõ nét

nhất tới sức khỏe, tinh thần cũng như khả năng làm việc của NLĐ, đồng thời cũng có các

nhân tố mang tính chất tiền đề không thể thiếu để NLĐ an tâm làm việc như vấn đề nhà ở,

phương tiện đi lại và tình trạng tệ nạn xã hội, pháp luật.

Nhóm nhân tố thứ hai ảnh hưởng tới KQ THCV của công nhân bán xăng dầu thuộc

công ty Hà Sơn Bình là các nhân tố thuộc về Vệ sinh – Y tế. Mặc dù nhóm nhân tố này có

mức độ tác động thấp hơn nhóm thứ nhất (β 2 = 0,065 và β 1 = 0,814) song những tác động

của chúng là không thể phủ định. Nhóm nhân tố này bao gồm: (i) Điều kiện vi khí hậu; (ii)

Tiếng ồn; (iii) Sự ô nhiễm môi trường; (iv) Ánh sáng và chế độ chiếu sáng. Theo nghiên cứu

của Hồ Xuân Linh và Võ Văn Hạnh (2002), nhóm nhân tố này vốn dĩ có tác động mạnh hơn

rất nhiều, song thực trạng tại Hà Sơn Bình chỉ là doanh nghiệp phân phối xăng và các sản

phẩm hóa dầu chứ không bao gồm quá trình khai thác, do đó các đặc tính nặng nhọc, độc

hại do môi trường, khí hậu cũng giảm đi rõ rệt. Mặt khác, như đã trình bày ở mục 2.1, công



19



ty đã chú trọng đầu tư vào các biện pháp bảo hộ lao động nhằm giảm thiểu các tác động về

ô nhiễm môi trường - độc hại, chế độ chiếu sáng thường được đảm bảo duy trì tốt. Từ đó

mà nhóm nhân tố này có tác động thấp hơn hẳn. Tuy nhiên các vấn đề về điều kiện vi khí

hậu như nhiệt độ, độ ẩm và vấn đề tiếng ồn còn nhiều hạn chế và trên thực tế cũng rất khó

để cải thiện.

Như vậy, khi các nhân tố về Tâm sinh lý và Điều kiện sống của NLĐ, các nhân tố về

Vệ sinh - Y tế được cải thiện tốt hơn – cụ thể là giảm căng thẳng thể lực và thần kinh, tư thế

lao động linh hoạt hơn, nơi ở ổn định và đi lại thuận tiện, chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp

lý, giữ vững an ninh và giảm tệ nạn xã hội tại nơi làm việc, cải thiện nhiệt độ và độ ẩm để

không quá cao (thấp), giảm tác động của tiếng ồn và ô nhiễm môi trường, duy trì và cải

thiện chế độ chiếu sáng phù hợp – thì KQ THCV của NLĐ sẽ tốt hơn, tăng năng suất và

hiệu quả công việc.

3.2 Một số khuyến nghi

Hoạt động trong lĩnh vực ngành nghề đặc thù, nặng nhọc, độc hại, đòi hỏi cao về an

toàn phòng cháy chữa cháy và bảo vệ môi trường vì vậy phong trào sáng kiến cải tiến kỹ

thuật ở công ty có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh

doanh, đảm bảo an toàn tuyệt đối tại các CHXD. Nhiều sáng kiến, giải pháp hợp lý hoá

trong kinh doanh, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới đã, đang và sẽ góp phần giải

quyết được những khó khăn, ách tắc; đặc biệt là cải thiện điều kiện làm việc và môi trường

lao động. Các sáng kiến cải tiến kỹ thuật, giải pháp hữu ích sẽ giúp cho tập thể NLĐ nhanh

chóng vươn lên tiếp cận và làm chủ công nghệ trong sản xuất kinh doanh, tạo nền móng

vững chắc cho công ty nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng hợp tác với các bạn hàng

trên thị trường.

Tiếp tục duy trì và tăng cường các biện pháp bảo hộ lao động nhằm cải thiện các điều

kiện về Vệ sinh - Y tế như các trang bị, phương tiện bảo hộ cá nhân, khám sức khỏe định

kỳ, v.v…

Tổ chức thêm các khóa huấn luyện, các chương trình thể dục, thể thao, văn nghệ để

tuyên truyền cho NLĐ tại các CHXD, nhằm trang bị và bổ sung những kiến thức như chính

sách, pháp luật, tổ chức quản lý và thực hiện các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao

động ở cơ sở; các yếu tố nguy hiểm, có hại trong sản xuất và biện pháp khắc phục, phòng

ngừa; hướng tới cải thiện điều kiện làm việc phòng chống bệnh nghề nghiệp.

Nghiên cứu và cải thiện các quy định về thời giờ làm việc – nghỉ ngơi, đặc biệt, hạn

chế hoặc không áp dụng chế độ làm ca đêm, làm thêm giờ đối với một số đối tượng, một số

CHXD mà không cần thiết phải duy trì ca đêm.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: thực trạng tại các cửa hàng xăng dầu thuộc công ty xăng dầu hà sơn bình

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×