Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của điều kiện lao động tới kết quả thực hiện công việc

CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của điều kiện lao động tới kết quả thực hiện công việc

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



cầu tinh thần tồn tại ở nơi làm việc. Mặt khác, “điều kiện làm việc được tạo ra bởi sự tương

tác giữa người lao động với môi trường tổ chức của họ, bao gồm tâm lý cũng như điều kiện

vật lý.” (Gerber et al., 1998, p.44).

Như vậy, “điều kiện lao động là tổng hợp của các nhân tố trong môi trường có tác

động lên con người trong quá trình lao động sản xuất cũng như trong quá trình sinh hoạt

của họ” (Nguyễn Ngọc Quân, 2016, tr78). Theo đó, thực chất của điều kiện lao động là tổng

hợp của mọi nhân tố về tâm sinh lý, về vệ sinh phòng bệnh, về thẩm mỹ, về tâm lý xã hội

và điều kiện sống có liên quan tới nhau, cùng tác động lên cơ thể người lao động, ảnh

hưởng đến sức khỏe, khả năng làm việc và sự phát triển nhân cách, qua đó có thể làm tăng

hoặc giảm KQ THCV.

Đã có nhiều nghiên cứu về tổ chức - định mức lao động nói chung và điều kiện làm

việc nói riêng ở cả trong và ngoài nước. Trong đó, ở Việt Nam, Thế Đạt (1975) đưa ra biểu

hiện của điều kiện lao động là cơ khí hóa và tự động hóa; điều kiện vệ sinh; điều kiện thẩm

mỹ; độ rung, ồn và nhiệt; ô nhiễm và độ ẩm trong không khí; chế độ nước uống khi chịu

nhiệt cao. Còn Lê Minh Thạch và Nguyễn Thị Cảnh (1987) phân điều kiện lao động thành 3

nhóm: điều kiện tâm sinh lý, vệ sinh lao động; điều kiện thẩm mỹ; điều kiện tâm sinh lý xã

hội.

Song tài liệu gần đây hơn của Nguyễn Ngọc Quân (2016) có sự đo lường cụ thể và bổ

sung hơn, gồm 5 nhóm: các nhân tố thuộc vệ sinh – y tế, các nhân tố về tâm – sinh lý lao

động, các nhân tố thuộc về thẩm mỹ học, các nhân tố thuộc về tâm lý – xã hội, các nhân tố

thuộc về điều kiện sống của người lao động. Bài viết sẽ áp dụng mô hình này cùng với các

lý giải về từng khái niệm của các biến trong mô hình vào thực trạng của lao động bán hàng

tại các CHXD.

1.2.1 Các nhân tố thuộc về Vệ sinh – Y tế

Các nhân tố thuộc về vệ sinh – y tế là nhóm nhân tố thuộc về môi trường xung quanh

có ảnh hưởng tới các chức năng sinh lý. Khi điều kiện của môi trường vượt quá các giới hạn

về sinh lý, con người sẽ bị mệt mỏi, sức khỏe giảm sút và thể hiện trực tiếp thông qua

NSLĐ hay KQ THCV. Nhóm nhân tố này bao gồm:

(i) Điều kiện vi khí hậu – là khí hậu trong giới hạn của môi trường làm việc: Nhiệt độ:

quá cao hoặc quá thấp sẽ làm cơ thể mất nước và ḿi khống, làm KQ THCV giảm 4% 50%. Độ ẩm: ảnh hưởng sự bài tiết và khả năng trao đổi chất của cơ thể, đặc biệt trong

ngành kinh doanh xăng dầu, độ ẩm cao làm hơi xăng dầu không khuếch tán được mà tụ lại

xung quanh khu vực bán xăng, tăng nồng độ độc hại.

(ii) Tiếng ồn: là thứ âm thanh hỗn độn gây cảm giác khó chịu cho người nghe, ảnh

hưởng tới thính giác và hệ thần kinh của NLĐ, có thể làm giảm KQ THCV từ 10% đến

20%.



7



(iii) Sự ô nhiễm môi trường: bao gồm bụi và khí độc, tác động mạnh tới sức khỏe

NLĐ, gây bệnh nghề nghiệp, giảm khả năng tái tạo sức lao động. NLĐ tại các CHXD phải

tiếp xúc thường xuyên với hơi xăng dầu vô cùng độc hại, và do các CHXD đều nằm trên

các con đường lớn và đặc biệt trên quốc lộ nên không chỉ nồng độ bụi mà khí thải từ các

phương tiện giao thông cũng rất cao.

(iv) Ánh sáng và chế độ chiếu sáng: Đây là yếu tố vô cùng quan trọng bởi 85% các

thông tin từ môi trường bên ngoài được NLĐ trực tiếp nhận bằng thị giác. Ánh sáng tự

nhiên sẽ tốt hơn ánh đèn nhân tạo, và chế độ chiếu sáng không phù hợp có thể dẫn đến tai

nạn hoặc sự cố.

(v) Điều kiện vệ sinh nơi làm việc: Trường hợp nơi làm việc không sạch sẽ cũng gây

giảm KQ THCV do ảnh hưởng tới sức khỏe NLĐ.

1.2.2 Các nhân tố thuộc về Tâm – Sinh lý lao động

Nghiên cứu của Lamb. S và Kwok (2016) tại Anh cho biết các yếu tố về tâm sinh lý

lao động làm giảm đáng kể KQ THCV, thậm chí một vài trường hợp làm giảm năng suất

đến 14,8%. Sự căng thẳng tác động gián tiếp đến hiệu suất bằng cách gây mệt mỏi, tạo

trạng thái tiêu cực, làm giảm động lực và gây mất tập trung. Những kết quả điều tra cho

thấy áp lực không chỉ làm giảm năng lực nhận thức cho công việc mà còn làm chậm tốc độ

lao động. Đối với NLĐ bán hàng tại các CHXD, tư thế đứng để làm việc cần duy trì liên tục

trong suốt một ca làm việc là 8 tiếng, song khác với lao động sản xuất, họ có thể được “nghỉ

chân” trong trường hợp cửa hàng vắng khách.

Ngoài ra, trong nhóm nhân tố này còn có yếu tố tính đơn điệu, tuy nhiên do đặc trưng

công việc của công nhân bán xăng, họ thường xuyên phải giao tiếp nên yếu tố này không có

sự ảnh hưởng.

1.2.3 Các nhân tố thuộc về Thẩm mỹ học

Tuy không tác động trực tiếp tới sức khỏe như 2 nhóm nhân tố trên nhưng các yếu tố

thuộc nhóm này có tác dụng cải thiện trạng thái tâm sinh lý của NLĐ, gây cảm giác hưng

phấn dễ chịu và có khả năng làm tăng hiệu suất.

(i) Màu sắc: có thể gây ra cảm giác lạnh lẽo, mát mẻ hay ấm áp, nóng bức, kích thíc

phân biệt đồ vật một cách nhanh chóng hoặc cảnh báo nguy hiểm.

(ii) Cây xanh: là một yếu tố thẩm mỹ nhưng đồng thời lại có tác dụng vệ sinh phòng

bệnh. Cây xanh tạo cảm giác mát mẻ, thư thái cho con người, hơn nữa còn có thể lọc khí,

lọc bụi, lọc tiếng ồn và hấp thụ nhiệt.

(iii) Bố trí không gian làm việc: nếu được nghiên cứu trên cơ sở khoa học sẽ vừa tạo

thuận lợi trong quá trình làm việc vừa phù hợp thẩm mỹ, tạo cảm giác gọn gàng, thư thái.



8



Âm nhạc chức năng và kiểu dáng trang thiết bị cũng nằm trong nhóm nhân tố này,

song do đặc trưng công việc ngoài trời với tiếng ồn cao và ít sự lựa chọn về kiểu dáng trang

thiết bị nên 2 yếu tố này được loại trừ.

1.2.4 Các nhân tố thuộc về Tâm lý – Xã hội

Đây là nhóm nhân tố nói về các mối quan hệ giữa người với người tại nơi làm việc.

Nhiều thí nghiệm mang tính chất tâm lý đã chứng minh rằng: Thái độ quan tâm, công minh

của cấp trên với cấp dưới; mối quan hệ chân thành, tin cậy, cởi mở giữa các đồng nghiệp

với nhau; sự thông cảm của xã hội đối với nghề nghiệp mà NLĐ làm, v.v… là những yếu tố

có ảnh hưởng tích cực đối với tâm lý và có thể làm tăng KQ THCV 18-20%. Như vậy,

nhóm nhân tố này bao gồm: (i) tâm lý cá nhân trong tập thể, (ii) quan hệ giữa đồng nghiệp

với nhau, (iii) quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới.

1.2.5 Các nhân tố thuộc về Điều kiện sống của người lao động

Nhóm nhân tố này phần lớn không có tác động trực tiếp tới KQ THCV của NLĐ, tuy

nhiên nó lại là tiền đề cần thiết cho quá trình lao động của mỗi người.

(i) Vấn đề nhà ở, đi lại của NLĐ: Khi có nơi ở ổn định, phương tiện di chuyển thuận

lợi và nhanh chóng thì NLĐ sẽ an tâm làm việc hơn.

(ii) Chế độ làm việc và nghỉ ngơi: Trong trường hợp NLĐ nghỉ ngơi quá ít hoặc làm

việc với cường độ thường xuyên liên lục thì sẽ không đảm bảo tái tạo sức lao động, không

những làm giảm hiệu suất mà tăng tốc độ giảm còn tăng theo thời gian.

(iii) Tình trạng xã hội và pháp luật: Nếu tình trạng tệ nạn xã hội tại nơi NLĐ sinh sống

và làm việc ở mức cao và/hoặc gia tăng thì họ sẽ không thể an tâm làm việc, thậm chí gây

căng thẳng thần kinh và giảm hiệu suất hoặc nghỉ ngày công quá nhiều. Thậm chí đôi khi có

những khách hàng đến gây rối gây mất an ninh trật tự tại các CHXD.

1.3 Tác động của điều kiện lao động tới kết quả thực hiện công việc

Hiệu suất của 1 tổ chức – điều quyết định sự tồn tại và phát triển của chính doanh

nghiệp – phụ thuộc phần lớn vào năng suất lao động và KQTHCV của từng cá nhân. Hơn

nữa, nguồn nhân lực cũng được coi là năng động nhất trong tất cả các yếu tố đầu vào để tạo

ra sản phẩm, có tiềm năng phát triển và còn như chất xúc tác cho mọi nguồn lực khác. Do

đó, năng suất có tầm quan trọng rất lớn đối với mọi doanh nghiệp, dù có thuộc ngành

thương mại hay không. (Yesufu TM, 2000).

Khoảng 86% các vấn đề về hiệu suất hay KQ THCV nằm trong môi trường và điều

kiện lao động của các tổ chức. Cải thiện môi trường làm việc và điều kiện lao động sẽ thúc

đẩy làm tăng năng suất cho người lao động. Ví dụ như cơ sở ý tế đạt tiêu chuẩn sẽ bảo vệ

cuộc sống của người lao động. (Akinyele Samuel Taiwo, 2010). Brenner P. (2004) khẳng

định rằng khả năng nhân viên chia sẻ kiến thức và làm việc tốt phụ thuộc vào điều kiện lao

động của họ, song cuộc điều tra cũng tiết lộ rằng nhiều tổ chức không tận dụng đầy đủ điều



9



kiện lao động và cải thiện chúng để cho phép gia tăng mức độ hợp tác, đổi mới và nâng cao

KQ THCV. Điều kiện làm việc vô cùng quan trọng trong tổ chức lao động khoa học. Nếu

nhân viên có nhận thức tiêu cực về điều kiện làm việc của mình thì họ có thể sẽ vắng mặt,

gặp các bệnh về căng thẳng, năng suất và sự cam kết của họ với tổ chức sẽ có xu hướng

thấp. Ngược lại, điều kiện làm việc tốt sẽ khiến cho người lao động trở nên thân thiện, tin

tưởng, tiết kiệm, có năng suất cao hơn, tăng giao tiếp và sự sáng tạo, đảm bảo sức khỏe cho

người lao động. (Ali Yassin Sheikh Ali et al, 2013)

Cụ thể, ngành dầu khí nói chung bao gồm nhiều quá trình phức tạp mà trong hầu hết

các giai đoạn, người lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ đe dọa sức khỏe của họ như:

nhiệt độ, tiếng ồn, street, bức xạ có hại, thay đổi thời tiết, khí độc, rung động v.v… Bên

cạnh đó, các tác hại của ngành như phát tán khí độc, cháy nổ, tràn dầu, v.v… cũng luôn

luôn có khả năng xảy ra, mà nếu không có các biện pháp phòng ngừa thì sẽ dẫn đến tai nạn

vô cùng nghiêm trọng (Hồ Xuân Linh và Võ Văn Hạnh, 2002). Bài viết chỉ nghiên cứu tại

một công ty con chịu trách nhiệm về mảng phân phối xăng dầu, do đó các tác hại nêu trên

sẽ chỉ được khoanh vùng trong mảng này, bao gồm: nhiệt độ, tiếng ồn, thay đổi thời tiết, khí

độc, khí bụi, cháy nổ, ô nhiễm nước sinh hoạt. Đây chính là những vấn đề cần giải quyết để

cải thiện điều kiện vật lý cho người lao động. Ngoài ra còn có các điều kiện về tinh thần, xã

hội.

Tóm lại, từ những phân tích về các nhóm nhân tố dựa trên lý thuyết của Hồ Xuân Linh

và Võ Văn Hạnh (2002), Nguyễn Ngọc Quân (2016), mô hình nghiên cứu được xây dựng

là:

Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu

Các nhân tố thuộc về Vệ sinh – Y tế



(+)



Các nhân tố thuộc về Tâm – Sinh lý lao động

(+)

Các nhân tố thuộc về Thẩm mỹ học



(+)



Các nhân tố thuộc về Tâm lý – Xã hội



(+)



Các nhân tố thuộc về Điều kiện sống của người lao động



Hiệu suất làm

việc



(+)



(Nguồn: Phân tích và tổng hợp của sinh viên)

Trong đó:



10



Nhóm “các nhân tố thuộc về Vệ sinh – Y tế” bao gồm: Điều kiện vi khí hậu; Tiếng ồn;

Sự ô nhiễm môi trường; Ánh sáng và chế độ chiếu sáng; Điều kiện vệ sinh nơi làm việc.

Nhóm “các nhân tố thuộc về Tâm – Sinh lý lao động” bao gồm: Sự căng thẳng về thể

lực; Sự căng thẳng về thần kinh; Trạng thái và tư thế lao động.

Nhóm “các nhân tố thuộc về Thẩm mỹ học” bao gồm: Màu sắc; Cây xanh; Bố trí

không gian làm việc.

Nhóm “các nhân tố thuộc về Tâm lý – Xã hội” bao gồm: Tâm lý cá nhân trong tập thể;

Quan hệ giữa đồng nghiệp với nhau; Quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới.

Nhóm “các nhân tố thuộc về Điều kiện sống của người lao động” bao gồm: Vấn đề

nhà ở, đi lại của NLĐ; Chế độ làm việc và nghỉ ngơi; Tình trạng xã hội và pháp luật.



11



CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TẠI CÁC CỬA HÀNG XĂNG DẦU THUỘC

CÔNG TY XĂNG DẦU HÀ SƠN BÌNH

2.1 Giới thiệu về công ty xăng dầu Hà Sơn Bình

Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình là một công ty TNHH một thành viên với chủ sở hữu

là Tập đoàn xăng dầu Việt nam (Petrolimex). Thành lập ngày 17 tháng 6 năm 1991 theo

quyết định số 699 của Bộ thương mại trên cơ sở hợp nhất giữa xí nghiệp xăng dầu Hà Sơn

Bình thuộc công ty xăng dầu khu vực I và kho xăng dầu K133 thuộc công ty xăng dầu B12.

Từ ngày 28/06/2010, công ty chính thức chuyển đổi mô hình hoạt động từ công ty Nhà

nước sang công ty TNHH Một thành viên.

Ngành nghề: Kinh doanh xăng dầu và các sản phẩm hóa dầu,... với hệ thống mạng

lưới phân phối được bố trí phủ khắp trên địa bàn 3 tỉnh/thành phố: Hà Nội - Hòa Bình - Sơn

La.

Về lao động: Theo thống kê của phòng tổ chức – hành chính 6 tháng đầu năm 2016:

công ty có tổng số lượng cán bộ công nhân viên là 736 người, trong đó, tổng số lao động

trực tiếp – công nhân bán xăng là 573 người (chiếm 77,85%).

Một số thông tin về công tác đảm bảo điều kiện lao động cho nhân viên bán xăng:

Đầu tư cơ sở vật chất để đảm bảo công tác phòng cháy chữa cháy; trang bị bảo hộ lao

động cho công nhân tại CHXD với chi phí bảo hộ lao động trung bình hàng năm là 3,5 tỷ

đồng. Trong đó, các trang bị bảo hộ ngắn hạn (mũ, khẩu trang, găng tay, giày) được thay

thường kỳ 1-3 tháng/lần, các trang bị bảo hộ dài hạn (quần áo) được thay thường kỳ 1

năm/lần.

Bồi dưỡng bằng hiện vật góp phần phục hồi sức khỏe, tăng sức đề kháng của cơ thể

(chi phí là 15.000 đồng/ người/ ngày)

Thường xuyên thu gom và làm sạch xăng dầu rơi vãi để làm sạch môi trường, giảm

hơi độc trong không khí và đặc biệt hạn chế tai nạn cháy nổ. Đến nay, 100% CHXD của

công ty đã được đầu tư lắp đặt và đưa vào vận hành sử dụng hệ thống thu hồi hơi xăng dầu.

Để xử lý nước thải nhiễm dầu đạt các tiêu chuẩn quy định của Luật Bảo vệ môi

trường, công ty đã áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 29:2010/BTNMT về nước

thải của kho và cửa hàng xăng dầu - được Petrolimex phối hợp với cơ quan chức năng xây

dựng và công bố

Thực hiện tạo cảnh quan xanh – sạch – đẹp tại mọi CHXD, thực hiện vệ sinh thường

xuyên và trồng nhiều cây xanh.

Thiết kế các CHXD (bao gồm bố trí nơi làm việc) phải được các cơ quan có thẩm

quyển phê duyệt trước khi thực hiện xây dựng, để đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy

và môi trường, hạn chế tối đa ảnh hưởng tới khu vực dân cư xung quanh.



12



Bố trí, sắp xếp lao động nhằm giảm thiểu khoảng cách giữa nơi ở và CHXD mà nhân

viên bán xăng làm việc.

Chế độ làm việc theo ca, kíp; phân công cụ thể.

2.2 Phương pháp nghiên cứu thực trạng tại các cửa hàng thuộc công ty xăng dầu Hà

Sơn Bình

Từ mô hình nghiên cứu (Hình 1.1), đề cương bảng hỏi được xây dựng (phụ lục 01) và

từ đó thiết lập bảng hỏi với thang đo Likert 5 mức độ từ điểm 1 – “Hoàn toàn không đồng

ý” tới điểm 5 – “Hoàn toàn đồng ý”. Với tổng thể nghiên cứu là các CHXD trực thuộc văn

phòng công ty xăng dầu Hà Sơn Bình với 573 lao động trực tiếp, như vậy, để mẫu nghiên

cứu có khả năng đại diện cho tổng thể thì cỡ mẫu tối thiểu là 20*5 = 100 mẫu (với 20 là số

quan sát). Như vậy, nghiên cứu được thực hiện với số phiếu phát ra là 150 phiếu/15 cửa

hàng, thu về 112 phiếu (chiếm 74,67% số phiếu phát ra), trong đó có 98 phiếu có chất lượng

(chiếm 87,5% số phiếu thu về).

Thống kê mẫu điều tra cho thấy gần một nửa số công nhân bán xăng dầu đều nằm

trong độ tuổi từ 35 đến dưới 45 và không có lao động nào dưới 25 tuổi, hơn 70% số lao

động là nam. Cụ thể hình 2.1.

Hình 2.1: Biểu đồ tỷ lệ mẫu điều tra theo tuổi và giới tính

Độ tuổi

28.6



28.6



Từ 25 tuổi đến dưới 35 tuổi

Từ 35 tuổi đến dưới 45 tuổi

Từ 45 tuổi trở lên



42.9



Giới tính

28.6



Na

m

Nữ



71.4



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của điều kiện lao động tới kết quả thực hiện công việc

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×