Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Không gian nghệ thuật – Thời gian nghệ thuật

3 Không gian nghệ thuật – Thời gian nghệ thuật

Tải bản đầy đủ - 0trang

nên giá trị thẩm mỹ đặc sắc của thơ ca. Không gian, thời gian nghệ thuật là hai

phương diện quan trọng giúp nhân vật trữ tình giãi bày nỗi niềm, tình cảm của

mình vào trong thơ ca, hai phương diện này góp phần khơng nhỏ trong việc hình

thành chất thơ đậm đà tính nữ.

3.3.1 Khơng gian nghệ thuật

Bước vào thi giới Xuân Quỳnh là ta bước vào tòa lâu đài tâm hồn của một

người đàn bà yêu thơ và làm thơ. Vì thế ta dễ thấy khơng gian nghệ thuật trong

Không bao giờ cuối của là không gian gần gũi với người phụ nữ, hơn nữa với

quan niệm khởi nguyên của thơ ca là sự xúc động chân thành, là nhu cầu bộc lộ

cảm xúc một cách mãnh liệt nhất nên không gian nghệ thuật trong tuyển thơ là

không gian chất chứa đầy tâm trạng bên cạnh không gian rộng vô cùng, không

gian cụ thể đến từng địa danh.

Cảm xúc, tâm trạng của hồn thơ đậm chất nữ tính chi phối mạnh mẽ việc tổ

chức không gian nghệ thuật. Không gian ấy ẩn chứa: chiều cao của khát khao,

chiều dài của nỗi nhớ, chiều sâu của tình yêu.

Tự trong bản thể, tâm hồn Xuân Quỳnh như một cánh chim cô đơn khát

khao chở che, gắn bó, ước ao một tổ ấm bình n nên cõi thơ nữ sĩ có khoảng

khơng gian gắn liền với đời sống hằng ngày, gắn liền với người phụ nữ. Đó là

miền hiện hữu của những đồ vật bình dị đời thường: bình hoa, cái bếp, ngọn đèn,

mắc áo, giá sách, lọ mực, cây bút…Chúng thân thương, mộc mạc như chính

hạnh phúc đời thường giản dị của người phụ nữ, người mẹ, người vợ.

Người ta nhớ hình ảnh cơ hàng phố tần tảo phơi chăn:

“Tháng mười trời trải nắng hanh

Có cơ hàng phố phơi chăn trước thềm

Gió qua lay động bức rèm

Tấm gương trong suốt, ánh đèn nê-ông”

(Thơ viết tặng anh)

Người đàn bà thức cùng giấc ngủ của con với ngọn đèn và những trang thơ:

“Ngọn đèn và trang thơ

Tiếng thở đều con nhỏ

Màu hoa trên cửa sổ

49



Quán nước chè mùa đông”

(Sân ga chiều em đi)

Từ sự trải nghiệm cuộc đời, Xuân Quỳnh luôn nâng niu tình yêu, hạnh phúc

bằng cái nhìn giản dị, thiết thực nhưng vẫn đầy sự xúc cảm từ tổ ấm khiêm

nhường của mình.

“Và hạnh phúc trong bàn tay có thật

Chiếc áo mắc trên tường

Màu hoa sau cửa kính

Nồi cơm reo trên ngọn lửa bếp đèn”

Và:

“Bình hoa đã ngủ trên bàn

Kìa trang sách gấp ngọn đèn thiu thiu…

Ngủ đi vầng trán yêu thương

Bức tranh đã ngủ mặt tường lặng im”

(Hát ru)

Hạnh phúc là một thứ quả ngọt dường như xa xôi lắm, quá tầm tay với, nên

Xuân Quỳnh cứ ao ước, chấp chới với. Ai có thể mơ và cảm nhận được những

điều li ti quá đơn sơ của hạnh phúc như bà:

“Như lúc này anh ở bên em

Niềm vui sướng trong em là có thật

Như chiếc áo trên tường, như trang sách

Như chùm hoa mở cánh giữa hiên nhà...”

(Nói cùng anh)

Mỗi người đi qua cuộc đời dẫu nghèo khó hay sang giàu đều có một nơi

chốn đi về để an trú nương thân. Dù một túp lều tranh hay dinh cơ ngàn phòng

thì mỗi người trong chúng ta đều an hưởng hạnh phúc như nhau, nếu nơi ấy vẫn

âm vang tiếng hát của những trái tim yêu thương, nhân ái, chan hòa. Ngược lại,

nếu thiếu vắng suối nguồn yêu thương, dẫu có trú ngụ trong một tòa lâu đài nguy

nga tráng lệ thì ta cũng chỉ thấy mình lầm lũi trên con đường cát bụi trần ai với

những cuộc hành trình đi – về. Vì thế khát vọng về một hạnh phúc, về một tổ ấm

thơi thúc suốt hành trình đời và thơ Xn Quỳnh, nó góp phần tạo nên hình ảnh



50



về một “mái che” với vô số những biến thể trong thơ Không bao giờ là cuối:

mái phố, mái nhà, căn hầm, nhà ga, bầu trời xanh trong…

“Yêu thương là lòng anh

Bao dung là mái phố…

Trời khi nắng khi mưa

Lại nhớ về mái phố…

Tôi trở về trong mái nhỏ

Sau mỗi lần gian nan

Dưới mái nhà thầm lặng

Nghe nắng trời ngoại ơ…”

(Mái phố)

Hay:

“Em trở lại một mình trên lối- nhớ

Gió trở lại một mình trên mái phố”

(Khơng đề)

Mái phố– căn phòng nhỏ của chúng mình – tổ ấm…là nơi để con thuyền

Xn Quỳnh neo đậu, tránh gió mưa, dơng bão và những đắng đót của cuộc đời

"Căn phòng con riêng của chúng mình

Nước trong phích hoa trong bình gốm cũ"

(Nghe rét đến nhớ về Hà Nội)

Những câu thơ kia được toát lên từ một chất thơ mẫn cảm và giàu có hơn ai

hết: chất thơ từ tổ ấm! Hiện diện thường trực và phong phú trong cảm thức thơ

ca Xuân Quỳnh, tổ ấm là biểu tượng sống động của sự gắn bó và chở che.

Hồn thơ Xuân Quỳnh cũng bộc lộ rõ nét một nỗi khát vọng vươn tới những

phương trời chưa tới, những phương trời xa xôi rộng lớn. Tâm hồn nữ tính tha

thiết, say mê yêu thương đã dựa vào không gian nghệ thuật để mà thỏa ước vọng

vươn tới một bầu xanh bình yên - biểu tượng của những khát khao vươn tới, của

tình yêu, sự bình yên, hi vọng.

“Bầu trời xanh cả lúc nằm mơ

Và hạnh phúc trong bàn tay có thật

….

51



Bầu trời đã trở về

Cao và xanh biết mấy”

(Bầu trời đã trở về)

Để thỏa ước vọng đi xa: “Con thuyền mới căng buồm ra biển rộng”, “Con

đường đi tới miền chưa có đường”, “Phương trời lạ gió vàng cát biển / Con tàu

đi quyết liệt giữa mùa đơng”, “Tiếng còi tàu giục giã chuyến đi xa”…

3.3.2 Thời gian nghệ thuật

Theo Trần Đình Sử “Thời gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ

thuật, thể hiện phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật”…

“Thời gian nghệ thuật là cái thời gian được cảm nhận bằng tâm lý, qua chuỗi

liên tục những biến đổi (biến cố) có ý nghĩa thẩm mĩ xảy ra trong thế giới nghệ

thuật” [13, tr62]. Cá tính thơ nữ tính riêng biệt của Xn Quỳnh có được một

phần là nhờ sự hỗ trợ của yếu tố thời gian nghệ thuật mà trở nên đầy đặn hình

hài. Thời gian trong thi giới Xuân Quỳnh là thời gian của tâm lý, thời gian tâm

trạng và xúc cảm, thời gian quá khứ. Nó tạo ra chiều sâu cho chất thơ tự biểu

hiện. Nó soi tỏ hơn nhân sinh quan, thế giới quan và điệu tâm hồn của cái tơi trữ

tình trong thơ Xuân Quỳnh - cái tôi của một người phụ nữ .

Ta thường gặp trong thơ Xuân Quỳnh sự xáo trộn của dòng chảy thời gian.

Năm tháng khơng trơi chảy theo một chiều bất biến như dòng thời gian hiện

thực, thời gian vật lí, mà quá khứ, hiện tại và tương lai luôn xáo trộn bất ngờ.

Chẳng phải người phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh đi miên man trong cõi vô thức

khơng phân định, mà đó chính là lúc con người ý thức sâu sắc nhất về những suy

ngẫm, trăn trở tự bản thể.

Thời gian cũng mang điệu tâm hồn người. Khát vọng vơ cùng về tình u

và hạnh phúc đời thường khiến cái tôi Xuân Quỳnh chắt chiu từng khoảnh khắc

đời sống, thương nhớ dai dẳng khoảng trời thơ trẻ – quá khứ đã qua: “Quá khứ

đáng yêu quá khứ đáng tơn thờ”. Vì thế mà nhịp điệu thời gian trong thơ thường

tương đối chậm, nhất là những giây phút nhân vật trữ tình sống đắm chìm với

quá khứ. Lúc ấy, dường như tất cả những hình ảnh của quá khứ cứ níu lấy những

xúc cảm của người đọc.

Ta thấy quá khứ tuổi thơ của thi nhân qua hình ảnh bàn tay chai sần:

“Bàn tay em ngón chẳng thon dài

52



Vết chai cũ, đường gân xanh vất vả

Em đánh chắt chơi chuyền thủa nhỏ

Hái rau dền rau rệu nấu canh

Tập vá may, tết tóc một mình

Rồi úp mặt lên bàn tay khóc mẹ”

(Bàn tay em)

Thời gian – quá khứ hiện về khi trái tim thi sĩ đang buồn, mệt mỏi:

“Cửa bệnh viện, ngoài kia là quá khứ

Những vui buồn khao khát đã từng qua

Nào chỉ đâu những chuyện ngày thơ

Con đường gạch ao bèo hoa tím ngắt

Những ơ ăn quan, que chuyền, bài hát

Những mùa hè chân đất, tóc râu ngơ”

(Thời gian trắng)

Đọc những câu thơ trên, chẳng ai là không xúc động. Có lẽ viết về quá khứ,

nhất là quá khứ về tuổi thơ Xuân Quỳnh không thể che giấu được tâm trạng của

mình. Quá khứ như ngọn lửa bùng lên, lan ra miên man trong dòng suy tưởng

của thi sĩ. Vì thế dù là quá khứ nhưng mọi việc dường như cứ đang hiển hiện

trước mắt vậy.

Viết về những nhớ nhung, những đắng đót ở đời nhịp thời gian trong thơ

Xuân Quỳnh dường như ngưng đọng. Nhưng khi viết về những điều hạnh phúc

thì nhịp thời gian trơi đi rất nhanh:

“Đã mùa hoa cúc vàng

Lại một năm sắp hết…

Thế là ba cái Tết

Hai chúng mình có nhau

Dù chưa phải là lâu

Nhưng cũng khơng ngắn ngủi

Hạnh phúc tính bằng năm

Cây tính bằng mùa trái”

(Đêm cuối năm)



53



Những câu thơ trên khơng nhiều nhưng cũng đủ cho ta thấy: thời gian

nhanh hay chậm đều gắn với tâm trạng của nhân vật trữ tình. Vì tâm trạng của

nhân vật mà thời gian thay đồi: nhanh – chậm,…Ngược lại cũng chính nhờ thời

gian mà tâm trạng của nhân vật càng thêm sáng rõ. Thật đúng khi nói: Thời gian

trong thế giới nghệ thuật soi chiếu những biến động nhiều cung bậc của nội tâm

con người. Cái tơi trữ tình của Xn Quỳnh càng âu lo, phấp phỏng về sự nhạt

phai hạnh phúc bao nhiêu, tốc độ trôi chảy của thời gian càng tăng bấy nhiên.

“Qua khứ em không chỉ ngày xưa

Mà ngay cả hôm nay thành quá khứ

Quá khứ của em ở ngoài cánh cửa…

Lúc anh đến, anh đi thành quá khứ”

(Thời gian trắng)

Cái tơi trữ tình lo âu bị ám ảnh bởi nỗi lo và cái chết. Nhưng dù có chết cái

tơi trữ tình ấy vẫn tự hát mà khẳng định rằng: “Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi

rồi” (Tự hát). Và khi đó thời gian trở nên bất lực trước tình u và khát vọng:

“Chẳng có thời gian, chẳng có khơng gian

Chỉ tuổi trẻ, chỉ tình yêu vĩnh viễn”

(Thơ tình cho bạn trẻ)

Thời gian nghệ thuật không phải là yếu tố duy nhất để thể hiện diễn biến

tâm tư tình cảm, nỗi lòng của nhân vật trữ tình nhưng nó là yếu tố hữu hiệu. Thời

gian gấp rút, giục giã hay chậm chạm đều góp phần bộc lộ tâm trạng nhân vật.

Thơ Xuân quỳnh rất giàu tâm trạng, tất cả những gì được nói đến trong thơ bà

đều chứa chan cảm xúc: từ góc phố, căn phòng đến những miền đất đi qua, đến

những sự vật nhỏ bé, tưởng chừng như vô tri vô giác: hạt cát, ngọn cỏ… Chúng

ta cảm nhận tất cả những tâm trạng, cảm xúc thơ ấy khơng chỉ trên bề mặt câu

thơ qua từ ngữ, hình ảnh mà còn phải cảm nhận cả ở yếu tố thời gian nghệ thuật

của thơ. Nói cụ thể hơn, yếu tố thời gian– nhịp độ thời gian sẽ giúp chúng ta hiểu

được những tầng cảm xúc còn ẩn sâu trong những trang thơ của Xuân Quỳnh.



54



KẾT LUẬN



Xuân Quỳnh được xem là nhà thơ nữ hàng đầu của thi đàn Việt Nam nửa

cuối thế kỉ XX, không chỉ bởi số lượng và giá trị của những tác phẩm nữ sĩ để

lại, mà còn bởi cái chất nữ tính thiêng liêng ơm tỏa lên mạch nguồn thơ bà. Từ

tập thơ trong trẻo đầu tay – Chồi biếc (1963), đến những tập thơ tiếp theo Hoa

dọc chiến hào (1968), Gió Lào cát trắng (1974), Sân ga chiều em đi (1982), Hoa

cỏ may (1988),… Xn Quỳnh viết như để tình tự về chính cuộc đời mình, về

những gì thân thuộc của đời sống hằng ngày. Giữa đời thường, Xuân Quỳnh là

người phụ nữ đam mê sống, đam mê yêu, đam mê trong các thiên chức của một

người phụ nữ. Cái bóng ấy đã đổ vào mỗi trang viết của bà, thầm lặng mà lăn dài

suốt cả hành trình thơ.

Tiếng thơ đầy nữ tính của Xuân Quỳnh là sự hội tụ của thiên tính tự nhiên

và ý thức phái tính của một người phụ nữ hiện đại mà vẫn bảo lưu được những

giá trị truyền thống. Người phụ nữ hát khúc du ca về tình yêu và hạnh phúc đời

thường ấy cứ hồn nhiên lặn ngụp vào thơ để giải bày, khao khát mà không hề

biết bản năng của người phụ nữ đang dẫn đường cho chị. Yếu tố nữ tính trở

thành điểm sáng lung linh nhất, thuần khiết nhất trong ñời thơ Xuân Quỳnh như

một lẽ tự nhiên, tất yếu.

Có một cái tơi Xn Quỳnh mang nỗi thao thức, lo âu đầy đa cảm của một

người đàn bà trong cõi thơ. Còn có ở đó một cái tơi Xn Quỳnh đắm đuối, nồng

nàn, da diết và đơn hậu vơ cùng trong tình u. Bao nhiêu cung bậc cảm xúc,

nghĩ suy của những cô gái khi đứng trước nguồn yêu được Xuân Quỳnh giải bày

nhỏ nhẹ mà đằm sâu trong trang viết. Có gì đâu, Xuân Quỳnh không viết hộ

người khác. Nữ sĩ viết bằng những trải nghiệm của chính con tim mình, bằng

những chiêm nghiệm triết lí của người người đàn bà đã đi qua vùng đất thiêng

của tình yêu.

Lấy tổ ấm làm tiêu điểm để nhìn cuộc sống, thơ Xuân Quỳnh đốt cháy lên

cái khát vọng vĩnh hằng của bao người phụ nữ trong cõi đời – khát vọng được

chở che và gắn bó. Cái tơi trữ tình trong thế giới thơ Xn Quỳnh ấp iu, cẩn

trọng gìn giữ đến nơm nớp, khắc khoải cái hạnh phúc của tổ ấm gia đình trong

vai trò của người vợ, người mẹ.

55



Xn Quỳnh có một bản lĩnh nghệ thuật thơ khá vững vàng. Bản lĩnh ấy kết

tinh từ thiên bẩm tài hoa, vốn sống dày dạn và niềm đam mê không cùng với thi

ca. Song chúng tôi lại cảm thấy phẩm chất nghệ thuật trong thơ Quỳnh còn được

ni nấng từ yếu tố nội tại tự nhiên – thiên tính nữ. Chất thơ nữ tính của Xuân

Quỳnh hiện diện ngay trong bề sâu cấu trúc và các yếu tố nghệ thuật. “Dải phổ

giọng điệu” trong thơ Quỳnh là sự thống nhất giữa chất giọng đằm thắm, hồn

nhiên chân thành, sôi nổi, tha thiết,… để cuối cùng hướng về giọng điệu phổ

quát đậm chất nữ tính say mê. Ngay cả ngôn ngữ được nữ sĩ chắt lọc cũng phảng

phất chất tình tự, phức cảm thường có ở cõi lòng của người phụ nữ.

Chúng tơi cứ nhớ đến lời thơ của Phùng Quán khi nghĩ đến Xuân Quỳnh:

“Có những phút ngã lòng – Tơi vịn câu thơ mà đứng dậy” . Người đàn bà ấy đã

nương vào thơ mà đi qua bão giông cuộc đời. Rồi biết bao người đàn bà khác

đọc thơ Xuân Quỳnh mà tìm thấy chính mình, tìm thấy cõi tin u, mà ngấm sâu

cái lẽ sống tận hiến cao đẹp. Phải chăng mỗi người phụ nữ trong đời sẽ mãi như

cánh chuồn báo bão mềm mại, bé bỏng bay về hướng sự sống hiện hữu, bất chấp

gió, bất chấp mưa…



56



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Thị Dư Khánh (1995), Phân tích tác phẩm văn học dưới góc độ thi

pháp, NXB Giáo dục, Hà Nội

2. Lê Đình Kỵ (1964), “Tơ Tằm và chồi biếc”, NCVH, số 1

3. Vân Long sưu tầm và tuyển chọn (2011), Xuân Quỳnh thơ và đời, NXB Văn

học, Hà Nội

4. Nguyễn Thị Đông Mai (1993), Xuân Quỳnh – Một nửa cuộc đời tơi (hồi kí),

NXB KHXH, Hà Nội

5. Nguyễn Đăng Mạnh (1994), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà

văn, NXB Giáo dục, Hà Nội

6. Chu Nga (1973), “Xuân Quỳnh – Một chồi thơ sắc biếc”, TCVH, số 1

7. Vương Trí Nhàn – Phạm Tiến Duật (1985), “Cảm xúc về thời gian – ý thức về

hạnh phúc” (“Trao đổi về thơ Xuân Quỳnh”), TCVN, số 9

8. Vương Trí Nhàn (1993), Xuân Quỳnh và những buồn vui của kiếp hoa dại

(Những kiếp hoa dại), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội

9. Vương Trí Nhàn (2008), “Đời và thơ Xuân Quỳnh”, blog cá nhân:

http://vuongdangbi.blogspot.com/2008/09/i-v-th-xun-qunh.html

10. Vương Trí Nhàn (2008), “Cuộc đời để lại trong thơ”, blog cá nhân:

http://vuongdangbi.blogspot.com/2008/09/xun-qunh-cuc-i-li-trongth.html

11. Xuân Quỳnh (2011), Không bao giờ là cuối, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội

12. Chu Văn Sơn (1993), “Xuân Quỳnh – cánh chuồn trong giông bão”, TCVH,

số 11

13. Trần Đình Sử (2002), Thi pháp học hiện đại, NXB ĐHQG, Hà Nội

14. Nguyễn Thị Minh Thái (1991), “Xn Quỳnh – Một giọng thơ tình ám ảnh”,

Tạp chí Hành trang tri thức, 11/1991

15. Lưu Khánh Thơ (1995), Cảm nhận về thơ Xuân Quỳnh, Xuân Quỳnh – thơ và

đời, NXB Văn hóa, Hà Nội

16. Nguyễn Anh Vũ biên soạn (2012), Xuân Quỳnh tác phẩm và lời bình, NXB

Văn học, Hà Nội



57



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Không gian nghệ thuật – Thời gian nghệ thuật

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×