Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Xuân Quỳnh – Cuộc đời – Duyên nợ thơ ca

2 Xuân Quỳnh – Cuộc đời – Duyên nợ thơ ca

Tải bản đầy đủ - 0trang

mối nhân duyên đã định, Xuân Quỳnh táo bạo quyết định từ giã đồn Văn cơng

để đến với địa hạt thơ ca và sống cùng thơ cho đến hết những tháng ngắn ngủi

của cuộc đời mình. Đây là sự quyết định bao trăn trở của bà. Bà trăn trở, lo lắng

khơng phải vì danh vọng cho mình mà trăn trở vì sợ đi nhầm đường, sợ khơng

làm nên trò trống gì: “Đó, trước mắt tơi là hạnh phúc, là n ấm. Thế mà tôi từ

bỏ tất cả. Tất nhiên trên đời này được cái nọ phải mất cái kia. Nhưng biết mình

có được cái mà mình định đổi khơng? Tơi không ngại gian khổ về vật chất, tôi

chỉ buồn về tình cảm. Chắc anh biết: Tơi, một con bé từ nhỏ ln thiếu thốn tình

cảm, mà bây giờ cũng chẳng hơn gì. Tơi bây giờ như kẻ đứng giữa ngã ba

đường vắng mà trời thì tối, chẳng biết hỏi ai. Giá mà bây giờ có ai bảo hộ tơi

một điều rằng: “Đi con đường này là đúng” thì dù biết có gục ngã giữa đường

tơi vẫn cứ đi. Tơi chỉ sợ mình khơng biết phương hướng rồi sau này cũng ra trò

trống gì, mà cứ lo nghĩ mã thế này thì hết đời…” [3, tr150]. Có đứng ở trong

hồn cảnh của Xuân Quỳnh ta mới hiểu được rằng bà yêu thơ lắm, yêu nhiều lắm

nên mới dũng cảm và táo bạo quyết định như thế.

Năm 1962, bà được chọn đi học khóa bồi dưỡng những nhà viết văn trẻ

khóa I tại trường viết văn Nguyễn Du. Sau khi học xong, bà làm việc tại báo Văn

nghệ, báo Phụ nữ Việt nam. Năm 1963, Xuân Quỳnh có một tổ ấm bé nhỏ khi

kết hơn với anh chàng nhạc cơng của Đồn Văn cơng nhân dân, họ có một cậu

con trai. Cũng thời gian này, bà đã hòa mình vào cuộc chiến tranh gian khó của

dân tộc, đã ru con trên đường đi sơ tán, trong đường hầm, rồi gửi con cho mẹ

chồng để đến với những tuyến lửa Vĩnh Linh, Quảng Bình gió Lào cát

trắng,…để ghi lại những gian khổ trong cuộc sống, chiến đấu của dân tộc bằng

những vần thơ bỏng rát hiện thực. Với những trang thơ ấy bà trở thành một trong

những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ thời chống Mỹ cứu nước.

Những mất mát của tuổi thơ đã khiến cho niềm ao ước về tình u, hạnh

phúc và một mái ấm gia đình ln cháy bỏng trong lòng Xuân Quỳnh. Nhưng

thật buồn khi hạnh phúc đến với bà quá nhọc nhằn. Cuộc hôn nhân với anh

chàng nhạc cơng ở Đồn Văn cơng tan vỡ, bà hụt hẫng và chơ vơ giữa đời như

một đứa trẻ bỗng ngã nhoài ở ngay bước đi chập chững đầu tiên.

Cuộc đời không phải lúc nào cũng quay lưng lại với người đàn bà dành tình

yêu lớn cho thơ – Xuân Quỳnh. Xuân Quỳnh gặp Lưu Quang Vũ, người đàn ông

đã đi qua một mối tình dang dở, người bạn nghề thấu hiểu sự đa mang nghệ sĩ ở



9



con người bà. Và rồi như là sự sắp đặt hữu ý của duyên phận. Năm 1973, Xuân

Quỳnh kết hôn với nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Kết hôn với Lưu Quang Vũ,

Xuân Quỳnh đã phải đối diện với bao gian khó nhưng bù lại bà đã đi tới tận cùng

của tình yêu và hạnh phúc. Bà đã chắt chiu thương yêu chăm lo cho đàn con gà

vịt của mình để chúng ln sống hòa thuận và gắn bó với nhau. Những vần thơ

dào dào cảm xúc của bà cứ lần lượt ra đời. Những trang thơ, những vở kịch của

Lưu Quang Vũ cũng lần lượt ra đời, tài năng và sự nghiệp của Lưu Quang Vũ

được phát triển.

Từ năm 1978 đến lúc mất Xuân Quỳnh làm biên tập viên Nhà xuất bản Tác

phẩm mới. Với tinh thần sáng tác nghiêm khắc, miệt mài bà đã để lại cho hậu thế

một sự nghiệp văn chương đáng kể. Đầu tiên là thơ, sáng tác thơ có các tập: Tơ

tằm – chồi biếc (in chung); Hoa dọc chiến hào; Gió Lào, cát trắng; Lời ru trên

mặt đất; Sân ga chiều em đi; Tự hát; Hoa cỏ may (Giải thưởng văn học 1990 của

Hội nhà văn); Thơ Xuân Quỳnh (1992, 1994); Thơ tình Xuân Quỳnh - Lưu

Quang Vũ (1994). Đặc biệt năm 2011, Nhà xuất bản Hội nhà văn đã cho ra đời

tập thơ Không bao giờ là cuối , đây là cuốn tinh tuyển gồm những sáng tác thơ

hay cùng với di cảo, thủ bút của nữ sĩ Xuân Quỳnh. Các sáng tác cho thiếu nhi:

Cây trong phố–Chờ trăng (in chung); Bầu trời trong quả trứng (Giải thưởng văn

học năm 1982 – 1983); Truyện Lưu – Nguyễn; Bao giờ con lớn; Chú gấu trong

vòng đu quay; Mùa xuân trên cánh đồng; Bến tàu trong thành phố; Vẫn có ơng

trăng khác.

Giữa năm 1988, Xn Quỳnh phải đối diện với căn bệnh tim chớm phát.

Xuân quỳnh qua đời ngày 29/8/1988 trong một tai nạn giao thông tại cầu Phú

Lương, thị xã Hải Dương cùng chồng là nhà viết kịch Lưu Quang Vũ và con trai

út Lưu Quỳnh Thơ.

1.2.2 Duyên nợ thơ ca – Quan niệm thơ ca

Xn Quỳnh sinh ra trong một gia đình có cha và chị gái đều là những

người yêu thơ và thích sáng tác thơ. Thấy cha làm thơ, chị gái làm thơ là Xuân

Quỳnh cũng bắt chước làm thử. Sống trong mơi trường ấy, thói quen làm thơ

được ươm mầm trong Xuân Quỳnh một cách rất tự nhiên. Cha Xuân Quỳnh là

một nhà giáo nhưng u thích nghệ thuật, ơng sáng tác thơ mỗi khi có thể: từ Sài

Gòn ra Hà Nội thăm gia đình ơng có thơ, nhớ q ơng viết thơ hay sung sướng vì

gia đình có thêm cơ con gái Xuân Quỳnh ông viết thơ. Sau khi vào Sài Gòn, cha



10



Xuân Quỳnh đã để lại cho hai chị em bà mấy tủ sách. Theo bà kể “chúng tôi đọc

ngấu nghiến hết cả, có cái hiểu, có cái chẳng hiểu nhưng rất say mê”. “Những

truyện của Nam Cao, Nguyên Hồng mỗi khi đọc tới thấy sao mà giống tôi thế.

Tơi có cảm tưởng là tơi cũng có thể viết được như vậy, một cách dễ dàng. Và tôi

đã khao khát được viết.” “Nhưng say mê hơn cả vẫn là thơ” “Tơi đọc thơ của

Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Tế Hanh, Chế Lan Viên, Anh Thơ, Huy Cận, Xuân

Diệu rất say sưa. Đằng sau những bài thơ bao giờ tôi cũng cảm thấy bao điều kỳ

diệu. Và tôi tin rằng các nhà thơ là những vị thánh. Cho mãi đến bây giờ, tôi vẫn

thấy thơ là một nghệ thuật kỳ diệu nhưng khó mà đi tới, mặc dù vậy vẫn khơng

bao giờ có thể bỏ được thơ!” [9]

Những năm hoạt động ở Đồn văn cơng là một bước đệm tốt giúp cho Xuân

Quỳnh bước vào lãnh địa thơ ca vững vàng. Bà bắt đầu viết thơ nhiều và có dịp

được làm quen với nhiều nhà văn, nhà thơ thời bấy giờ: Vân Đài; Anh Thơ,…

được đến dự buổi trao đổi nhận xét tập thơ Riêng chung của Xuân Diệu. Cứ thế,

mỗi ngày một chút, men rượu thơ ca ngấm dần vào trái tim Xuân. Rồi Xuân

Quỳnh được mời đi học lớp văn nghệ ở Quảng Bá, đi thực tế ở đảo Côtô,…

Duyên nợ giữa Xuân Quỳnh và thi ca không chỉ được ươm mầm từ mơi

trường gia đình mà nó còn được bắt nguồn từ chính nhu cầu khát khao được viết

của Xuân Quỳnh. Ở nơi sâu thẳm nhất của lí trí và con tim, nữ sĩ biết rằng mình

sinh ra để được viết. Trong bản tiểu sử văn học viết ngày 29/8/1982, trả lời cho

đề mục nguyên nhân bắt đầu hoạt động văn học, Xn Quỳnh có ghi: “Vì thích

thú. Làm văn học cảm thấy như mình được sống thêm một cuộc đời khác nữa. Vì

uất ức. Khi mới vào nghề bị xô đẩy, bị khinh rẻ nên tôi quyết phải sống. Mà sống

tức là phải viết” [3, tr137].

Bắt nguồn từ một tâm hồn đa mang, nhạy cảm của một người đàn bà vốn

sinh ra là để dành cho thơ. Người đàn bà ấy long đong với bao giông bão, sóng

gió của cuộc đời nhưng lại có một tâm hồn khát khao tình yêu đến tận cùng, vì

thế trong những lời yêu nồng nàn, đắm say nhất tâm hồn ấy cũng đầy ắp những

phấp phỏng lo âu về sự tan vỡ. Đến với những sáng tác thơ của Xuân Quỳnh

người đọc nhận ra, những cung bậc cảm xúc trong thơ của bà bao giờ cũng được

đẩy lên mức da diết, nồng nhiệt nhất. “Sống tức là phải viết”, người phụ nữ

mỏng manh mang tâm hồn của một thi sĩ lớn đã thật mạnh mẽ khi đón nhận sứ

mệnh thơ giao phó.



11



Nhà phê bình Vương Trí Nhàn từng nhận định: “Ấn tượng về một cái gì tự

nhiên càng rõ rệt hơn khi người ta nhìn vào con đường Xuân Quỳnh đã qua để

đến với văn học” [10]. Ngẫm kĩ, Xuân Quỳnh đã lựa chọn thi ca như một lẽ tất

yếu, thường tình. Vì tự trong máu thịt, con người ấy đã mang chất văn chương

thiên phú. Từ lúc đặt chân vào địa hạt thi ca đến lúc khép lại con đường thơ của

riêng mình, Xuân Quỳnh lưu lại dấu ấn bằng phong cách thơ tự nhiên, chân thật

đáng kinh ngạc. Người phụ nữ ấy không làm thơ mà viết như để kể lại những gì

đã sống, đã trải. Tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh nảy sinh từ hoàn cảnh đời

sống riêng của chính bà. Hiện thực trong thơ Xuân Quỳnh được tái sinh từ hiện

thực đời sống thường nhật. Lấy sự chân thật làm điểm tựa cho cảm xúc sáng tạo,

Xuân Quỳnh làm thơ một cách tự nhiên, bản năng.

Về quan niệm thơ ca, đối với Xuân Quỳnh ý niệm về sự thai nghén để cho

ra đời một tác phẩm dường như rất đơn giản: “Lúc viết những dòng này, tôi như

người phát cuồng. Cứ phải ghi bằng hết ý nghĩ cứ ào ào kéo đến trong đầu

không cần vần vèo gì vội. Còn sắp xếp lại, đặt vấn đề tôi làm sau, việc ấy đơn

giản hơn” [3, tr197]. Khởi nguyên thơ Xuân Quỳnh là sự xúc động chân thành,

nhu cầu bộc lộ cảm xúc một cách mãnh liệt nhất. “Nghĩa là sự làm thơ ăn ở

những xúc động” “Còn hình thức thơ bốn chữ hay thơ tám chữ, chuyện ấy sẽ đến

sau. Làm thơ mà có mỗi cái vần bắt khơng xong, thì còn tính chuyện viết lách

làm qi gì nữa.” [3, tr197-198].

Dễ hiểu vì sao Xuân Quỳnh coi trọng nhất yếu tố tình cảm, cảm xúc trong

thế giới nghệ thuật. Thơ phải là cái gì đó níu nhau chảy ra trong nguồn cơn xúc

cảm, trong giây phút bừng ngộ của tư tưởng nghệ thuật. Thơ phải bật ra từ trong

huyết quản của mình. Với Xuân Quỳnh, làm thơ đầu tiên là để tự thể hiện, tự

khẳng định, để sáng tạo và để nối liền bản thân với đồng loại,vũ trụ. Xuất phát từ

mình, chân thật với chính mình là điều cốt yếu dẫn đường cho sự ra đời của tác

phẩm. Xn Quỳnh thường nhìn thấy chính mình đầu tiên khi nhìn vào con

người và sự vật xung quanh nên bà có thói quen diễn tả tâm trạng của mình qua

thơ đúng đến từng khía cạnh nhỏ nhặt nhất.

1.2.3 Tuyển thơ Không bao giờ là cuối

Tuyển thơ Không bao giờ là cuối dường như đã khái quát được cả cuộc đời

và sự nghiệp thơ của nữ sĩ được nhiều thế hệ đọc giả Việt Nam yêu mến, trân

trọng – Xuân Quỳnh. Với tuyển thơ này người đọc một lần nữa được nhìn lại



12



“đời thơ”, “đời yêu” của người phụ nữ có trái tim “biết ngừng đập lúc cuộc đời

khơng còn nữa / Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi” (Tự hát).

Tuyển thơ bao gồm ba phần. Người đọc sẽ gặp Chồi biếc; Thuyền và biển;

Sóng; Sân ga chiều em đi, Tự hát… những bài thơ man mác buồn mà ngập tràn

hạnh phúc, đắng đót xót xa nhưng không bao giờ vơi yêu thương nồng nàn trong

phần đầu tiên – Dẫu biết chắc rằng anh trở lại. Đến phần hai – Những năm tháng

không yên, ta không khỏi xót xa trước cảnh đất nước chia lìa hai miền Nam –

Bắc:

“Gà gáy sáng thấy tóc đầm nước mắt

Đất nước chia lìa đau cả giấc mơ”

(Gặp cha)

Bầu trời trong quả trứng là phần cuối của tuyển thơ. Phần này gồm những

sáng tác thơ rất tươi vui, dí dỏm dành cho thiếu nhi như: Chuyện cổ tích về lồi

người; Bầu trời trong quả trứng; Bay cao; Tuổi ngựa…

Từ khi ra đời tuyển thơ đã thu hút được nhiều sự chú ý của người đọc bởi ở

đó chứa đựng những tác phẩm hay nhất trong đời thơ Xuân Quỳnh. Những bài

thơ trữ tình giản dị, chân thật, nồng hậu góp phần làm tốt lên tính nữ của tuyển

thơ. Trong tuyển thơ, tính nữ thể hiện rõ nét ở sự tinh tế trong cảm nhận, uyển

chuyển trong cấu tứ, giọng điệu và đặc biệt là ở những xúc cảm sâu thẳm tận

cùng khi bà viết cho nhà viết kịch Lưu Quang Vũ - người đàn ông mà bà không

ngừng yêu và không hết yêu cho tới tận cuối đời; viết cho mẹ, cho cha, cho chị,

cho con, cho những người bà thương yêu.



13



Chương 2: CÁI TƠI TRỮ TÌNH – HIỆN THÂN CỦA TÍNH

NỮ TRONG TẬP THƠ “KHƠNG BAO GIỜ LÀ CUỐI”

Có thể nói, cái tơi trữ tình trong Khơng bao giờ là cuối là tiếng nói đầy xúc

cảm, tinh tế và hồn hậu của nữ thi sĩ Xuân Quỳnh. Thông qua cái tôi trữ tình ấy,

độc giả nhận ra phẩm cách con người, cuộc đời đầy bão giông của Xuân Quỳnh.

Cái tôi trữ tình ấy còn chi phối tới cách cảm, cách nghĩ của thi sĩ về cuộc đời,

nghệ thuật. Trong tuyển thơ, cái tơi trữ tình ấy hố thân vào các nhân vật trữ tình

khác nhau để có thể diễn đạt đầy đủ và sâu sắc nhất khát vọng tìm kiếm sự dũng

cảm, tinh lực cho lao động nghệ. Cái tôi ấy hoá thân thành người cháu với những

rung động tuổi thơ trước tiếng gà trưa như cổ tích, và hơn hết là sự hóa thân vào

người mẹ để hiểu con, để an ủi vỗ về con, là người vợ với những lo toan bận rộn

của cuộc sống thường nhật. Cũng có khi, cái tơi ấy chìm sâu trong những rung

cảm, dự cảm về tình yêu ,về cuộc sống… Mỗi nhân vật trữ tình ẩn giấu cả một

đại dương cảm xúc sâu sắc, nhân vật ấy khám phá bản thân, khám phá thế giới

bằng cái nhìn nhiều chiều, nhiều sắc thái đối nghịch. Bởi thế có thể nói rằng,

hiện thân của tính nữ trong Không bao giờ là cuối là cái tôi nhiều chiều, cái tôi

giữa các mặt đối lập nhau: Khát khao yêu thương, dâng hiến nhưng ẩn chứa sự lo

âu, ám ảnh nên luôn khát khát khao sự chở che, gắn bó.



2.1 Cái tơi u thương, dâng hiến

Phải chăng bởi tấm lòng vị tha vơ biên, sự chân thành là bản chất đời

thường của Xuân Quỳnh mà trong thơ bà dù nhìn ở khía cạnh nào ta cũng thấy

thật ấm áp vì cái tơi nội tâm, cái tơi u thương và giàu trắc ẩn. Cái tơi u

thương đó dễ động lòng trắc ẩn trước những con người nhỏ bé, bất hạnh, côi cút.

Không biết bao nhiêu lần trong Không bao giờ là cuối những tiếng thương da

diết, đầy xúc cảm được vang lên.

Đó là tiếng thương dành cho người chị phương xa vò võ một mình:

“Đã bao mùa gió đổi

Chị đi dạy học xa

Ngày sơ tán, tháng Ba

Mưa rào hầm ngập nước

Em thương về lớp học

14



Có đường hào ra sân…”

(Tháng Ba, viết cho chị)

Là tiếng thương, sự lo sợ cho một cánh chuồn mỏng manh:

“Khơng tìm đâu được chốn nương nhờ

Mỏng mảnh thế làm sao chịu nổi

Chuồn chuồn ơi báo làm chi bão tới

Trời bão lên rồi mày ở đâu?”

(Chuồn chuồn báo bão)

Thương từ con dế bị bỏ rơi:

“…Thương con dế dưới hầm

Những năm bom đạn sống cùng lời ru”

(Lời ru trên mặt đất)

Đến sự phẫn nộ trước cảnh con bò kéo xe bị người chủ đánh bằng xẻng,

người cha kéo lê hai đứa con trên mặt đường bẩn thỉu để đi xin ăn. Rồi rưng

rưng thương cái dáng tảo tần của người mẹ quê mùa lam lũ: “Đau xót bàn chân

phèn chua xót kẽ”, lại thương thân phận một cơ gái lấy chồng nơi chiêm trũng

khơng dễ gì “Gửi ai cho mẹ bát canh cần”… Thế đó, thơ Xuân Quỳnh làm

người ta ấm lòng vì sự đồng cảm, sẻ chia. Trái tim của người đàn bà trong

Không bao giờ là cuối có lúc nào được ngủ n vì sự đa mang?

Thơ về tình yêu là mảng thơ đặc sắc nhất của Xn Quỳnh. Vì “Xn

Quỳnh có một nhân bản yêu đương cực kì mãnh liệt, là một người con gái có thể

sống chết vì tình” [16, tr188], lúc nào cũng sợ khơng thể nói hết được những lời

thương u: “Lời u thương ngàn lần em muốn nói”; “Lòng em thương làm sao

mà nói được”. Có thể nói, địa hạt thơ tình chính là nơi cái tơi u thương, tận

hiến mang điệu tâm hồn tính nữ rõ nét và rất riêng. Cái chất riêng ấy là sự đằm

thắm, bao dung, dịu êm mà dữ dội đến mức táo bạo.

Không giấu giếm khát khao yêu đương của mình. Cũng như bao người phụ

nữ khác, người phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh sống và yêu bằng tất cả sự đắm

đuối, nồng nàn đến vụng dại, cả tin:

“Không sĩ diện đâu, nếu tôi yêu được một người

Tôi yêu anh ta hơn anh ta yêu tôi nhiều lắm

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Xuân Quỳnh – Cuộc đời – Duyên nợ thơ ca

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×