Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 3: NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TÍNH NỮ TRONG TẬP THƠ “KHÔNG BAO GIỜ LÀ CUỐI”

Chương 3: NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TÍNH NỮ TRONG TẬP THƠ “KHÔNG BAO GIỜ LÀ CUỐI”

Tải bản đầy đủ - 0trang

“Mẹ mang về tiếng hát

Từ cái bống cái bang

Từ cái hoa rất thơm

Từ cánh cò rất trắng

Từ vị gừng rất đắng

Từ vết lắm chưa khô

Từ đầu nguồn cơn mưa

Từ bãi sơng cát vắng…”

(Chuyện cổ tích về lồi người)

Trong đoạn thơ, người đọc có cảm tưởng các từ ngữ như gọi nhau, như say,

như tỉnh, biến hóa nhịp nhàng như những lời hát đồng dao xưa. Hơi thở dân gian

vừa hư ảo vừa xác thực tạo nên sự hấp dẫn cho những bài thơ của Xuân Quỳnh.

Quả thật ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh trở nên mềm mại, duyên dáng hơn khi kế

thừa và phát triển những vẻ đẹp của ngôn ngữ ca dao, dân ca.

Trở về với lời ru trong kỷ niệm tuổi thơ là một quy luật tình cảm, con người

càng từng trải những khổ đau, vấp váp trong cuộc sống càng khao khát nhìn

nhận lại những giá trị cũ. Một trong những giá trị ấy là lời ru của mẹ. Là một phụ

nữ đã “đi qua mùa bão gió” và “thác lũ”, Xuân Quỳnh cảm nhận sâu sắc, thấm

thía lời ru xưa. Suốt chặng đường đời của mình nhà thơ cứ vương vấn “Thương

câu hát cũ”, và mong muốn được bù trừ, xoa dịu nỗi đau quá khứ: “Mưa khơng

còn lạnh nữa những lời ru” (Gửi mẹ).

Tắm mình trong dòng suối dân gian, nên dù viết về lời ru nay, lời ru của

thời hiện đại, thơ Xuân Quỳnh vẫn luôn thắm đượm dư vị dân gian, đậm đà chất

trữ tình. Mọi cảm quan nghệ thuật của Xuân Quỳnh về lời ru ln có xu hướng

tìm về dân giã. Thơ ru của bà có giọng điệu nhắn nhủ, ví von, gần với cách nói,

cách cảm thơng thường của người Việt từ xa xưa.

“Rào rào tiếng những bầy ong

Chuyên cần là tiếng cái tằm nhả tơ

Mẹ còn đang bận đưa ru

Cái hoa bận đỏ, cái hồ bận xanh

Hạt cây đang bận nảy mầm

Con quay quay có một mình ngồi kia”

(Lời ru trên mặt đất)

28



“Cái ngủ” được đặt trong môi trường dân gian, môi trường lao động. Thiên

nhiên, tạo vật, con người đều ở trạng thái thức và bận rộn. Con ong làm mật, con

tằm nhả tơ, bơng hoa đỏ hết mình, mặt hồ xanh đến tận cùng, con quay quay

không ngừng nghỉ và mẹ bền lòng đưa ru. Tất cả đều “làm việc” vì giấc ngủ trẻ

thơ. Vả chăng mọi sự phấn đấu trên mặt đất này đều nhằm đạt đến sự bình n

cho trẻ thơ. Đó là một thái độ sống tích cực và nhân đạo truyền thống Việt Nam.

Gắn những quy luật tự nhiên với quy luật xã hội, lời ru Xuân Quỳnh là triết lý

dân gian nhẹ nhàng, dễ hiểu, dễ thấm mà sâu sắc. Nó khơng trơi tuột đi, tan biến

vào giấc mơ, trái lại nó kết đọng và thức tỉnh. Có ai khơng xúc động trước những

câu thơ:

“Mẹ lại hát ru con bài ca đất nước

Vợ cấy chồng cày đồng cạn, đồng sâu

Và yêu nhau cởi áo cho nhau”

Hay:

“Nào là hoa bưởi hoa chanh

Nào câu quan họ mái đình cây đa

Xin đừng bắt chước câu ca

Đi về dối mẹ để mà yêu nhau…”

(Mẹ của anh)

Ta như nhớ lại những câu ca dao: “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu/ Chồng

cày, vợ cấy con trâu đi bừa”, ta như hòa mình vào âm điệu của những câu hát

quan họ trong những lễ hội làng quê Việt: “Yêu nhau cởi áo ối à cho nhau, về

nhà dối rằng cha dối mẹ a..à..a..á..a, rằng a ối a qua cầu, tình tình tình gió

bay…u nhau cởi nón ối à cho nhau, về nhà dối rằng cha dối mẹ a..à..a..á..a,

rằng a ối a qua cầu, tình tình tình gió bay”.

Đối với Xn Quỳnh lời ru con là một miền ký ức xanh màu cỏ, tím hoa

xoan và xào xạc lá tre đường làng. Hình ảnh mẹ và lời ru con ln da diết trong

tiềm thức của nhà thơ:

“Hoa xoan tím ngõ

Cánh cò trắng xố

Như lời ru của mẹ bay về”

(Gửi mẹ)

29



Đó là cánh cò ca dao, cánh cò của nền văn minh lúa nước mang thân phận

người phụ nữ, người mẹ, người vợ với những đức tính hy sinh thầm lặng: “Con

cò lặn lội bờ sông” (ca dao). Lời ru của mẹ đã hố thân vào cánh cò dân gian để

ngàn năm còn chấp chới, chao liệng giữa đời. Cái màu trắng xố ngang trời lúc

mưa giơng, mây tạnh như một lời nhắc nhở về nỗi vất vả gian truân của mẹ.

Sinh ra và lớn lên với tuổi thơ cơi cút, hình bóng mẹ với Xuân Quỳnh thật

xa vời vợi:

“Những lời ru vời vợi canh khuya

Con vẫn nhớ

Lời mẹ hát có đơi bờ cách trở

Có bên này, bên nở ngóng trơng nhau...”

(Gửi mẹ)

Những khúc hát ru của mẹ luôn là niềm hạnh phúc ngọt ngào của tuổi thơ,

nhưng đối với Xuân Quỳnh đó là nỗi thèm khát. Những câu thơ trên nghe thấm

thía nỗi lòng khao khát nghẹn ngào, nức nở của một tuổi thơ mất mát, thiếu vắng

bóng hình mẹ. Mẹ và Xuân Quỳnh xa vời cách trở, mỗi người ở một bến bờ

riêng: “Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mơng bát ngát/ Đứng bên tê

đồng ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông…”

Nhớ thương mẹ, Xuân Quỳnh chỉ biết hút lấy những tinh chất ngọt ngào từ

nhụy của bông hoa văn học dân gian để viết lên những câu thơ của riêng mình

diễn tả nỗi lòng thương nhớ ấy. Lấy ý từ câu ca : “Con gái mà gả chồng gần/ Có

bát canh cần nó cũng mang cho” để viết lên những câu thơ thương mẹ đến xót

ruột vì khơng thể gửi cho mẹ một “bát canh cần”. Và từ trong sâu xa, niềm

thương cảm Xuân Quỳnh dành lại cho chính bản thân mình, thương: “Thân gái

như hạt mưa sa/ Hạt vào gác tía, hạt ra vũng lầy” (Mưa ngâu).

Những câu thơ dân gian đầy màu sắc folklore – một màu Việt cổ thuần tuý

và cả những hình ảnh mang điệu tâm tình của người xưa: thuyền, biển, núi, đèo,

gừng cay, muối mặn…đã ám nhiễm vào tâm trạng thơ Xuân Quỳnh và trở thành

một ám ảnh dai dẳng suốt đời sống và đời thơ của bà. Cái chất truyền thống ấy,

chất dân gian ấy đã góp phần khiến cho những trang thơ của Xuân Quỳnh ngọt

ngào,sâu lắng và đậm đà chất nữ tính.



30



Chảy ra từ mạch nguồn cảm xúc chân thực tự bên trong tâm hồn, ngôn ngữ

thơ trong Không bao giờ là cuối rất giản dị, mộc mạc, trong sáng lan tỏa và lắng

đọng trong tâm cảm người đọc. Đó là thứ ngơn ngữ gọi đúng cảm xúc nữ tính

của điệu thơ, hồn thơ Xuân Quỳnh. Đôi khi, cả khoảng trời tâm hồn đa diện của

Xuân Quỳnh được mở ra chỉ bởi một từ. “Nghe”, “nhớ”, “thương”…những từ

ngữ bình thường ấy lại có tiếng nói riêng trong việc lột tả thế giới nội tâm của

con người. Nếu cái tôi trong thơ không khao khát mãnh liệt sự sống, sao lại phải

lắng nghe những âm thanh đời?! Nếu khơng dạt dào tình u hướng về cõi đời

và người, làm sao lại phải cứ nhớ và thương?! Ngơn ngữ đã gọi tên rất đúng điệu

hồn nữ tính của Xuân Quỳnh.

Là một người sống và yêu hết mình nhưng tầm hồn Xuân Quỳnh lúc nào

cũng khắc khoải, cũng nhớ về miền xưa cũ, hay hồi ức về quá khứ. Bà đã làm

sống dậy những kỉ niệm trong quá khứ bằng những từ ngữ chỉ thời gian: Vẫn,

cứ, như thế, tự bao giờ, xưa, như xưa, thủa nhỏ, từ xưa…

“Ngày xưa má mẹ cũng hồng

Bên anh, mẹ thức lo từng cơn đau

Bây giờ tóc mẹ trắng phau

Để cho mái tóc trên đầu anh đen…

Lời ru mẹ hát thủa nào

Chuyện xưa mẹ kể lẫn vào thơ anh…”

(Mẹ của anh)

Hay:

“Hoa cúc tím trong bài hát cũ

Dẫu vẫn là cung bậc của ngày xưa

Quá khứ đáng yêu, quá khứ đáng tôn thờ

Nhưng đâu phải là điều em luyến tiếc.”

(Có một thời như thế)

Những từ ngữ chỉ thời gian ấy được sắp xếp, đan xen cùng với biết bao hình

ảnh, nó tạo nên chiều sâu cảm xúc trong các bài thơ, khiến cho mỗi trang thơ

như chao nghiêng, xao động trước những khoảnh khắc của cuộc sống. Khi ấy,

cảnh vật, con người không còn đơn điệu mà trở nên sống động, hấp dẫn trước

cuộc đời đầy biến động, chảy trôi: “Hôm nay yêu mai có thể xa rồi” nhưng:

“Sẽ có mãi cơ bé mười sáu tuổi



31



Dẫu tóc em năm tháng dổi thay màu.”

(Sẽ có mãi cơ bé mười sáu tuổi)

Trong Khơng bao giờ là cuối tần số xuất hiện của các từ ngữ chỉ cỏ cây,

khung cảnh thôn quê, tuổi thơ… rất cao. Điểm qua có thể kể đến: mùa thu, con

chim, vườn, núi, sơng, lau cỏ, trời , thuyền, biển, gió, trăng, hoa cau, cây ổi, ngô,

khoai,…Chúng được đặt cạnh các màu sắc như: hồng, xanh, biếc, đỏ, tím, vàng,

trắng. Những yếu tố này kết hợp hài hòa với nhau tạo ra một khơng gian trữ tình

sâu lắng.

Những ưu tư, băn khoăn trăn trở trong thơ được thể hiện thông qua nhiều

câu hỏi với nhiều sắc thái khác nhau. Từ lời thì thầm “Bao giờ hoa ngâu nở” đến

sự sục sôi : “Sóng bắt đầu từ gió? Gió bắt đầu từ đâu…Khi nào ta yêu nhau”, có

khi thoảng thốt: “Chuồn chuồn ơi báo bão làm chi bão tới/ Trời bão lên rồi mày

ở đâu?”, lại có khi nơn nóng: “Đốt lòng em câu hỏi/ u em nhiều khơng anh?”,

có khi lại trầm tư: “Lòng anh là đầm sen/ Hay là nhánh cỏ úa?” và đôi khi lại bi

thiết: “Lời yêu mỏng manh như màu khói/ Ai biết lòng anh có đổi thay?”. Các

câu hỏi ấy có sức gợi vơ cùng mạnh mẽ.

Ta còn gặp trong thơ Xuân Quỳnh một hệ thống những từ có ý nghĩa khẳng

định, tuyệt đối hóa: dẫu, suốt, tận cùng, vĩnh viễn, vô tận, vô cùng, muôn thuở…

“Chỉ tuổi trẻ, chỉ tình yêu vĩnh viễn” hay “Biết yêu anh cả khi chết đi rồi”. Xuân

Quỳnh có xu hướng vĩnh viễn hố tình u, trao cho tình u một sức sống vĩnh

cửu, một giá trị bất diệt. Ta dễ hiểu, dễ lý giải điều đó bởi cái tơi trữ tình trong

thơ Xn Quỳnh ln khao khát tình u mãnh liệt, tình yêu thuỷ chung, một

hạnh phúc thường ngày bình dị nhưng lại bị ám ảnh bởi sự đổi thay trong tương

lai. Do cảnh ngộ riêng, Xuân Quỳnh đến với tình u như một nỗ lực để thốt

khỏi cảm giác rét mướt vì thiếu thốn tình cảm, mong được yêu thương, bù đắp và

chở che.

Có lẽ khát vọng được tận hiến cho yêu thương của người đàn bà đa mang

trong Khơng bao giờ là cuối tìm được ở lớp ngơn ngữ này chỗ nương tựa thích

hợp nhất.

3.1.2 Giọng điệu

Nói về nghệ thuật biểu hiện tính nữ trong Khơng bao giờ là cuối chúng ta

khơng thể khơng nói tới giọng điệu thơ – một dấu hiệu nghệ thuật đặc sắc. Giọng

32



điệu ở đây khơng phải là cách nói mà là cảm xúc, là giọng của tâm hồn. Trong

tuyển thơ người ta dễ dàng nhận ra một giọng thơ không kiểu cách, khơng khiên

cưỡng, mà ln tự nhiên, phóng khống.

Mai Quốc Liên từng nhận xét: “Chưa có ai biểu hiện một sự thương yêu sâu

xa, đằm thắm đến thế trong thơ tình Việt Nam như chị, có lẽ vì rằng trong đời

chị đã chẳng gặp may? Có lẽ chị đã chẳng gặp được người nào có thể đem đến

cho chị cốc nước trong suốt mà chị mong ước làm vợi đi cơn khát? Khơng có lẽ,

khơng đúng thế. Đành rằng tình u ln ln muốn vươn tới lý tưởng trong khi

đó người tình ln ln là con người cụ thể với những giới hạn ngặt nghèo

nhưng khơng phải vì nghịch lý đó của tình u. Vậy ta chỉ có thể giải thích mọi

điều bằng lòng tốt, bằng bản chất yêu thương của con người chị” [16, tr171].

Cũng có lẽ vì vậy, thế giới nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh đã hình thành một

giọng điệu riêng – giọng “hát ru”. Điệu hát ru là sản phẩm tâm hồn của những

người mẹ bao dung, người yêu, người vợ giàu đức hy sinh. Thơ Xuân Quỳnh với

giọng hát ru là một sự kế tiếp nhưng lại mang một dự báo thẩm mỹ. Bà hát ru

mọi người hay cũng chính là hát để ru, để an ủi chính bản thân mình?

Bởi Xn Quỳnh vốn mang cốt cách tâm hồn người phụ nữ Việt Nam

truyền thống: tự nguyện hy sinh hết thảy tất cả vì chồng, vì con. Vì thế bà

thường hay chọn lời ru hoặc lấy cảm hứng từ lời ru làm giọng điệu cho bài thơ

của mình. Trong Khơng bao giờ là cuối, người đọc được thưởng thức một giọng

ru hời ngọt ngào chất chứa bao tình u, sự chăm sóc ân cần, chu đáo:

“Ngủ đi, người của em yêu

Này, con tàu lạ vừa neo bến chờ

Trời đêm nghiêng xuống mái nhà

Biển xanh kia cũng đang mơ đất liền

Anh mơ anh có thấy em

Thấy bơng cúc nhỏ nơi triền đất q”

(Hát ru)

Có tình u nào vị tha đến thế? – ru cho chồng say giấc còn mình thì thao

thức.Trong lời thơ, người đọc thấy tất cả sự vật trong khơng gian căn phòng bé

nhỏ ấy cũng như đang chìm trong giấc ngủ êm đềm: từ trang sách, ngọn đèn, con

tàu, biển xanh, đám mây… Giấc ngủ êm đềm ấy như cõi bình n giữa mênh



33



mơng xao động, như niềm mong ước của thi sĩ về một tổ ấm yên lành để đi đến

tận cùng của tình yêu và hạnh phúc.

“Tay ta nắm lấy tay người

Dẫu qua trăm suối ngàn đồi cũng qua”

(Hát ru)

“Để ngày mai bình minh đến

Buồm chúng ta lại tung cánh ra khơi”

(Ru)

Đối với mỗi đứa trẻ, những câu hát ru của bà, của mẹ luôn là niềm hạnh

phúc ngọt ngào của tuổi thơ vì được yêu thương, chăm bẵm nhưng riêng với

Xuân Quỳnh đó là nỗi thèm khát. Những lời thơ ru con của Xn Quỳnh vì thế

mà nghe thấm thía một nỗi lòng nức nở, nghẹn ngào của một tuổi thơ mất mát.

Có lẽ vì một tuổi thơ cơi cút, thiếu vắng bóng hình mẹ– hình ảnh mẹ chỉ là tấm

hình trên bàn thơ xa xôi hư ảo, mà trang thơ Xn Quỳnh ngân vang lên một tình

u thương vơ bờ bến đối với con thơ. Đứa con là niềm hạnh phúc, là báu vật

đồng thời là nỗi lo toan để người mẹ chăm chút.

“Khi con sinh ra cái tã đã nhuốm xanh

Cái nôi mắc trước hầm trú ẩn.

Lửa đạn giặc sém cành hoa đậu ván

Bên bờ ao con chuồn chuồn mất chỗ chơi”

…Lời mẹ ru không chỉ ngọt ngào

“Cái bống ngủ ngon, cánh cò bay mãi”

Bởi khi bay có cánh cò đã gãy

Trong lúc ngủ say cái bống vẫn giựt mình.”

(Khi con ra đời)

Trong bom đạn tơi bời lời ru trong trang thơ của Xuân Quỳnh vẫn vút cao

lên niềm khát khao của người người mẹ về một tổ ấm cho con. Người mẹ trong

thơ Xuân Quỳnh thương con trong cả những giấc mơ:

“Con thức ban ngày mẹ chở che con

34



Đêm con mơ mẹ làm sao che chở

Trong giấc mơ chỉ mình con bé nhỏ

Chỉ mình con chống chọi với quân thù…”

Trong thơ Xuân Quỳnh có lời ru của bà, của mẹ, có tiếng võng đưa, có bãi

cỏ xanh, có con chuồn chuồn, con dế que kem. Nơi mỗi đứa trẻ sẽ quay về mà

không phải lo sợ điều bất trắc chính là lòng mẹ.

Đối với Xn Quỳnh, thế giới trẻ thơ thật đáng yêu, vui vẻ. Trẻ thơ lúc nào

cũng cần được nâng niu, chở che và bao bọc trong yêu thương, trong Bầu trời vỏ

trứng

“Bầu trời trong quả trứng

Khơng có diều có cắt

Khơng có bão có mưa

Khơng biết đói biết no

Khơng bao giờ biết sợ…”

(Bầu trời trong quả trứng)

Là người mẹ làm thơ, Xuân Quỳnh dành tặng cho người đọc những trang

thơ viết về thiếu nhi với những tình cảm trìu mến, ân cần của người mẹ, tình mẫu

tử thiêng liêng. Những trang thơ viết cho thiếu nhi luôn lấp lánh một giọng điệu

hồn nhiên, tươi vui và dí dỏm.

Là đặc điểm tâm lý nên trẻ nhỏ là chúa hay tò mò, thắc mắc và muốn tìm

hiểu thế giới xung quanh với rất nhiều những câu hỏi ngây thơ, hồn nhiên:

“Vì sao con cóc

Nó hay nghiến răng?

Vì sao con còng

Nó khơng nhắm mắt?

Khơng có chân có cánh

Mà lại gọi: con sơng?

Khơng có lá có cành

Lại gọi là: ngọn gió?

Cái quạt bé như thế

Thì gió ở vào đâu?...

(Vì sao)

35



Ta thấy lấp ló đằng sau câu thơ trên là nụ cười hóm hỉnh, vui sướng của

Xn Quỳnh.

Những giọng nói ví von, bi bô của con trẻ tràn lên những bài thơ viết cho

thiếu nhi của Xuân Quỳnh.

“Con yêu mẹ bằng ông trời…

Con yêu mẹ bằng Hà Nội…

Con yêu mẹ bằng trường học…

Con yêu mẹ bằng con dế”

(Con yêu mẹ)

Không cần những cảm xúc vay mượn như người lớn, trẻ con ln thể hiện

tình cảm theo cách riêng của chúng. Và với trẻ con, hình ảnh con dế còn hơn cả

ơng trời, Hà Nội hay trường học vì con dế ln ln ở bên con. Những ý nghĩ

đột ngột đó của chú bé để lại trong lòng người đọc một hình tượng thơ thật đẹp,

thấm thía tình cảm mẹ con giống như chú bé trong bài thơ Tuổi ngựa:

“Tuổi con là tuổi ngựa

Nhưng mẹ ơi đừng buồn

Dẫu cách núi cách rừng

Dẫu cách sơng cách bể

Con tìm về với mẹ

Ngựa con vẫn nhớ đường”

(Tuổi ngựa)

Vọng lên từ cõi thơ Xuân Quỳnh không chỉ là giọng hát ru ngọt ngào, giọng

ví von, hóm hỉnh mà còn có những thanh âm bàng bạc day dứt, lo âu. Trong

chuỗi giọng điệu đậm chất nữ tính của thơ Xuân Quỳnh, âm hưởng suy tư, thao

thức chính là cái lõi tinh yếu nhất để giúp người đọc nhận ra hơi thơ Xuân

Quỳnh, cũng là sắc điệu đưa thơ nữ sĩ đi đến gần vùng xúc cảm, đồng điệu của

người đọc.

“Em lo âu trước xa tắp đường mình

Trái tim đập những điều khơng thể nói

Trái tim đập cồn cào cơn đói

Ngọn lửa nào le lói giữa cơ đơn”

(Tự hát)

36



Day dứt, lo âu là “điệu hồn” của cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Quỳnh. Lẽ

tất yếu, tâm hồn đó phải đi tìm một chất giọng tương ứng để tái hiện đời sống

nội tâm nhiều cung bậc của chủ thể trữ tình – người đàn bà mang khát vọng lớn

về tình yêu.

Sau những lời ca hát về tình yêu muôn đời và bất tận, người ta thấy bộc lộ

trên trang thơ Xuân Quỳnh một nỗi lo âu về tình yêu mong manh, dễ vỡ trước

cuộc đời, lòng người biến suy, một dự cảm đau đớn về đổ vỡ hạnh phúc trở nên

ám ảnh trong thơ thơ bà:

Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn

Hơm nay u mai có thể xa rồi”

(Nói cùng anh)

Hay:

“Này anh, em biết

Rồi sẽ có ngày

Dưới hàng cây đây

Ta khơng còn bước”

(Chồi biếc)

Ngay cả khi nắm giữ hạnh phúc trong tay người đàn bà ấy cũng đầy lo âu.

Sao vậy? Vì dường như sợ khơng đuổi kịp tuổi thanh niên, sợ không tới được tận

cùng của hạnh phúc, và vì thế người phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh rất trân trọng

tình yêu, hạnh phúc “Gương mặt ấy, lời yêu thủa ấy/ Màu hoa vàng cháy mãi ở

trong em” (Hoa cúc)

Nét riêng khác biệt trong sắc điệu dịu dàng, nữ tính của Xuân Quỳnh là sự

kết hợp hai phạm trù đối lập: đằm thắm mà vẫn mạnh mẽ, nhẹ nhàng mà rạo rực

say mê. Ta gặp ở Thuyền và biển chất giọng thỏ thẻ tâm tình của người con gái:

Em sẽ kể anh nghe

Chuyện con thuyền và biển:

Từ ngày nào chẳng biết

Thuyền nghe lời biền khơi

Cánh hải âu, sóng biếc

Đưa thuyền đi mn nơi.

37



(Thuyền và biển)

Thỏ thẻ đấy nhưng cũng vô cùng cuồng nhiệt và đắm say:

“Những ngày khơng gặp nhau

Lòng thuyền đau – rạn vỡ

Nếu từ giã thuyền rồi

Biển chỉ còn sóng gió

Nếu phải cách xa anh

Em chỉ còn bão tố”

(Thuyền và biển)

Rồi ta lại gặp ở “Sóng” những thanh âm sóng đơi, tương phản ấy:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sóng khơng hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể…”

(Sóng)

Qua hình tượng sóng, người đọc cảm nhận được những rung cảm vơ hình

của tình u trong tâm hồn người con gái đang yêu. Có lúc là “dữ dội” – cồn cào

và da diết nhớ nhung nhưng cũng có lúc thật “dịu êm” – đằm thắm, sâu lắng,

song dù thế nào thì “sóng” ln muốn:

“Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lướn tình u

Để ngàn năm còn vỗ”

(Sóng)

Dải phổ giọng điệu thơ Xn Quỳnh là sản phẩm của một hồn thơ đậm đà

tính nữ. Nếu tính nữ là “chất nhu uyển chuyển” thì những giai âm khác nhau

trong giọng thơ Xuân Quỳnh đều mang dấu ấn này. Khi dịu dàng đằm thắm, lúc

dữ dội đắm say, có lúc lại hồn nhiên dí dỏm và suy tư thao thức… Nhưng dù ở

sắc giọng nào, điệu thơ Xuân Quỳnh cũng lặng lẽ tìm về cội nguồn thiên tính nữ.



38



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 3: NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TÍNH NỮ TRONG TẬP THƠ “KHÔNG BAO GIỜ LÀ CUỐI”

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×