Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2: CÁI TÔI TRỮ TÌNH – HIỆN THÂN CỦA TÍNH NỮ TRONG TẬP THƠ “KHÔNG BAO GIỜ LÀ CUỐI”

Chương 2: CÁI TÔI TRỮ TÌNH – HIỆN THÂN CỦA TÍNH NỮ TRONG TẬP THƠ “KHÔNG BAO GIỜ LÀ CUỐI”

Tải bản đầy đủ - 0trang

Có đường hào ra sân…”

(Tháng Ba, viết cho chị)

Là tiếng thương, sự lo sợ cho một cánh chuồn mỏng manh:

“Không tìm đâu được chốn nương nhờ

Mỏng mảnh thế làm sao chịu nổi

Chuồn chuồn ơi báo làm chi bão tới

Trời bão lên rồi mày ở đâu?”

(Chuồn chuồn báo bão)

Thương từ con dế bị bỏ rơi:

“…Thương con dế dưới hầm

Những năm bom đạn sống cùng lời ru”

(Lời ru trên mặt đất)

Đến sự phẫn nộ trước cảnh con bò kéo xe bị người chủ đánh bằng xẻng,

người cha kéo lê hai đứa con trên mặt đường bẩn thỉu để đi xin ăn. Rồi rưng

rưng thương cái dáng tảo tần của người mẹ quê mùa lam lũ: “Đau xót bàn chân

phèn chua xót kẽ”, lại thương thân phận một cô gái lấy chồng nơi chiêm trũng

khơng dễ gì “Gửi ai cho mẹ bát canh cần”… Thế đó, thơ Xn Quỳnh làm

người ta ấm lòng vì sự đồng cảm, sẻ chia. Trái tim của người đàn bà trong

Khơng bao giờ là cuối có lúc nào được ngủ yên vì sự đa mang?

Thơ về tình yêu là mảng thơ đặc sắc nhất của Xuân Quỳnh. Vì “Xn

Quỳnh có một nhân bản u đương cực kì mãnh liệt, là một người con gái có thể

sống chết vì tình” [16, tr188], lúc nào cũng sợ khơng thể nói hết được những lời

thương yêu: “Lời yêu thương ngàn lần em muốn nói”; “Lòng em thương làm sao

mà nói được”. Có thể nói, địa hạt thơ tình chính là nơi cái tơi u thương, tận

hiến mang điệu tâm hồn tính nữ rõ nét và rất riêng. Cái chất riêng ấy là sự đằm

thắm, bao dung, dịu êm mà dữ dội đến mức táo bạo.

Không giấu giếm khát khao yêu đương của mình. Cũng như bao người phụ

nữ khác, người phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh sống và yêu bằng tất cả sự đắm

đuối, nồng nàn đến vụng dại, cả tin:

“Không sĩ diện đâu, nếu tôi yêu được một người

Tôi yêu anh ta hơn anh ta yêu tôi nhiều lắm

15



Tôi yêu anh dẫu ngàn lần cay đắng…

Và cả anh, anh yêu của riêng em

Khi anh nói yêu em, trái tim em đập chừng mạnh quá

Mạnh đến nỗi em tưởng là nghe rõ

Tiếng tim anh đang đập vì em…”

(Thơ viết cho mình và những người con gái khác)

Ở thơ Xuân Quỳnh, tình yêu còn là tượng trưng cho cái đẹp, cái cao quý,

tượng trưng cho niềm khát khao được tự hoàn thiện mình:

“Em yêu anh, yêu anh như điên

Em viết những bài thơ tình yêu tưởng anh là ý, tứ

Trán em bớt dô ra, bàn tay không vụng nữa

Tay này đây, em may áo cho anh…

Và khi nào anh buồn, em sẽ hát

Bài hát tình u ca ngợi con trai

Khơng chỉ anh nghe, hát cho cả mọi người

Để họ biết thế nào là hạnh phúc… ”

(Thơ viết cho mình và những người con gái khác)

Cái tôi khát khao yêu và dâng hiến trong thơ Xuân Quỳnh luôn ở hai thái

cực đối lập “dữ dội” mà “dịu êm”:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sơng khơng hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể…”

“Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình u

Để ngàn năm còn vỗ”

(Sóng)

Người đàn bà trong Không bao giờ là cuối hiện diện và mang theo sứ mệnh

tự nguyện dâng hiến tình yêu. Người đàn bà ấy chắt chiu từng lượng nhỏ tình



16



thương để đắp xây hạnh phúc và xót xa khi nghĩ đến cảnh người chồng một mình

trên con đường xa ngái:

“Thương chiếc xe anh nhọc nhằn trong gió

Mái nhà nào đêm nay anh dừng chân.”

(Không đề)

Chẳng kể lúc ở gần mà khi xa cách những yêu thương, lo lắng của người

đàn bà ấy vẫn ln ln trìu mến. Sự lo lắng trong lòng đã hóa thành những nỗi

ước ao dịu dàng, đằm thắm rất nữ tính:

“Ước chi làm chiếc nón che anh

Đêm gió lạnh em xin làm ngọn lửa

Áo ướt ai phơi, ba lô ai xếp hộ

Mong sao trời ngừng mưa”

(Không đề)

Người đàn bà trong Không bao giờ là cuối là người đàn bà mang cốt cách

tâm hồn người phụ nữ Việt Nam truyền thống tự xa xưa: người yêu, người vợ,

người mẹ với những thiên chức muôn đời, với đức hy sinh cao cả và vị tha.

“... Trời mưa lạnh tay em khép cửa

Em phơi mền vá áo cho anh

Tay cắm hoa tay để treo tranh

Tay thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc

Năm tháng qua đi mái đầu cực nhọc

Tay em dừng trên vầng trán âu lo...”

(Bàn tay em)

Cái tơi trữ tình trong Không bao giờ là cuối đâu chỉ khát khao, dâng hiến

cho tình u, cho hạnh phúc cá nhân, cái tơi ấy còn hòa mình vào những năm

tháng khơng n của dân tộc để hiến dâng cho đất nước, tổ quôc.

“Tôi sẵn lòng đem hiến cả đời tơi

Cho cát trắng và gió Lào quạt lửa”

(Gió Lào cát trắng)

17



Bởi:

“Lá vàng rụng xuống

Cho đất thêm màu,

Có mất đi đâu

Nhựa lên chồi biếc.”

(Chồi biếc)

Nào có gì là sợ hãi khi cái chết chỉ như là một sự thay đổi nhỏ, như người

lính gác hết phiên, như là vàng thì rụng. Sự thay đổi nhỏ nhưng đầy ý nghĩa. Mỗi

chiếc lá vàng rụng để lại chút nhựa sống cho những chồi non. Chúng ta sống

ngày hôm nay là là do những người đi trước đã chuẩn bị cho chúng ta cũng như

những chồi non được những lá vàng chuẩn bị. Vậy thì sao chúng ta lại không sẵn

sàng chuẩn bị cho những chồi non sau mình? Nhận và trả đó là quy luật tất yếu.



2.2 Cái tôi âu lo, ám ảnh

Sinh ra với một số phận bất hạnh, sớm bị chịu nhiều thiệt thòi về mặt tình

cảm gia đình: mẹ mất sớm, cha lấy vợ… tuổi thơ của Xuân Quỳnh in hằn dấu vết

của sự côi cút, lo toan. Khi mới bước vào đời, Xuân Quỳnh lại gặp phải những

trớ trêu ngang trái – cuộc hôn nhân đầu tiên tan vỡ. Tất cả những điều đó đã

khiến cho trái tim người phụ nữ đa cảm, tha thiết yêu cuộc sống – Xuân Quỳnh

lúc nào cũng thức đập vì những phấp phỏng lo âu, ám ảnh. Nỗi lo âu, ám ảnh

trong cuộc đời đã in vào trong thơ của Xuân Quỳnh. Nó bám riết suốt hành trình

đời và thơ bà, đến mức người đọc có cảm tưởng như đấy chính là điệu hồn, là

phẩm chất của nữ sĩ. Trong thi giới Xuân Quỳnh, ẩn hiện hình ảnh một người

đàn bà mặc áo đen mang khuôn mặt đăm chiêu trong nỗi lo bất tận: lo bão giông,

lo đạn bom, lo trời rét, lo khơng được gắn bó, lo mất tuổi trẻ và phai tàn tình

yêu…

Những nỗi lo bất tận khiến cho nhân vật trữ tình trong thơ tin u mà vẫn

ln hoang mang và hồi nghi phấp phỏng: “Anh mơ, anh có thấy em” (Hát

ru);“Mai xa rồi, anh có nhớ về khơng?” (Trung du) và “Đốt lòng em câu hỏi/

Yêu em nhiều không anh?" (Mùa hoa doi)



18



Biết bao lần nỗi cô đơn của Xuân Quỳnh tuôn trào trên những trang thơ.

Nhân vật trữ tình trong mỗi trang thơ ấy thường đứng một mình trước biển, một

mình trên con tàu, trên sân ga với nỗi cô đơn không thể che giấu:

“Vừa thống tiếng con tàu

Lòng đã Nam, đã Bắc”

(Sân ga chiều em đi)

Hay:

“Lời thương nhớ ngàn lần em muốn nói

Nhưng bây giờ chỉ có sóng và em…”

(Chỉ có sóng và em)

Cuộc sống ngày mai sẽ như thế nào, làm sao mà nói trước được, những

chuẩn mực tình u, hạnh phúc vừa thực lại vừa mong manh dễ vỡ. Chỉ cần một

chút dại dột, vụng về tất cả sẽ vỡ tan.

“Khắp nẻo dăng đầy hoa cỏ may

Áo em sơ ý cỏ găm đầy

Lời yêu mong manh như màu khói

Ai biết lòng anh có đổi thay”

(Hoa cỏ may)

Vì mỏng manh, vì sợ mọi thứ lại vỡ tan nên nhà thơ thường hay thoảng thốt

trước những đổi thay của cảnh vật, những đổi thay của ngoại cảnh dễ khiến trái

tim bé nhỏ ấy chạnh lòng:

“Mùa thu nay sao bão mưa nhiều

Những cửa sổ con tàu chẳng đóng

Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm

Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh”

(Tự hát)



19



Những “bão mưa nhiều” với “cửa sổ con tàu chẳng đóng”, “những dải đồng

hoang và đại ngàn tối sẫm”…tạo ra cảm giác bấp bênh, bất ổn, day dứt, khắc

khoải và lo âu trong trái tim em.

“Em lo âu trước xa tắp đường mình

Trái tim đập những điều khơng thể nói

Trái tim đập cồn cào cơn đói

Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn”

(Tự hát)

Bởi lẽ, đau thương quá nhiều, thế nên bà ln khát khao có được sự trọn

vẹn trong tình yêu và hạnh phúc. Bà đã tin, đã sống vì tình u vĩnh viễn của

mình:

“Chẳng có thời gian, chẳng có khơng gian

Chỉ tuổi trẻ, chỉ tình u vĩnh viễn.”

(Thơ tình cho bạn trẻ)

Thế nhưng là một người đàn bà q nhạy cảm và ln đòi hỏi sự tuyệt đối,

vĩnh cửu trong tình yêu, Xuân Quỳnh lúc nào cũng trăn trở và lo sợ khi nghĩ đến

sự đỗ vỡ. Tâm hồn bà luôn ở trong trạng thái xao động, chờ đợi, băn khoăn và

khơng bình n, vì “Sợ khơng tới được cùng hạnh phúc” (Thành phố lạ). Bà lo

tình yêu sẽ đi qua cuộc đời mình như cơn gió mồ cơi bởi trong suy nghĩ của

Xn Quỳnh, tình đang hiện hữu cũng là tình đang biến mất. Người yêu là một

điều gì xa xăm, khó nắm bắt:

“Anh, con đường xa ngái

Anh, bức vẽ không màu

Anh, ngàn nỗi lo âu

Anh, câu thơ nổi gió…

Mà em người đời thường

Biết là anh có ở!”

(Anh)

Vì khó nắm bắt nên:

“Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn

20



Hơm nay u, mai có thể xa rồi”

(Nói cùng anh)

Vì khó nắm bắt nên hoang mang, lo sợ tất thảy:

“Vẫn con đường tuổi mười lăm

Mặt hồ rộng, gió đùa qua kẽ lá

Lời tình tự ngàn lần trên ghế đá

Biết lời nào giả dối với lời yêu…

Nào hạnh phúc, nào là đổ vỡ

Tơi thấy lòng lo sợ khơng đâu”

(Thơ tình cho bạn trẻ)

Cái tơi trữ tình trong thơ Xn Quỳnh ln luôn bị ám ảnh bởi những dư ba

bất thường của cuộc đời đầy biến động. Vì thế, hơn một lần người ta thấy trong

Không bao giờ là cuối, ý thức thời gian trôi chảy luôn đi cùng với sự ám ảnh tàn

phai nhất là vào những khoảnh khắc giao thời. Đó là sự ám ảnh về tuổi trẻ, số

phận, của lòng người:

“Thời gian đi màu hoa cũ về đâu

Nay trở lại vẫn như còn mới mẻ

Bao mùa thu hoa vẫn vàng như thế

Chỉ em là đã khác với em xưa…

Bao ngày tháng đi về trên mái tóc

Chỉ em là khác với em thôi”

(Hoa cúc)

Em đã khác với em xưa nên hình ảnh mùa thu tàn tạ cứ hiện về trong suy

tưởng của em như một nỗi ám ảnh không dứt:

“Cuối trời mây trắng bay

Lá vàng thưa thớt quá

Phải chăng lá về rừng

Mùa thu đi cùng lá”

(Thơ tình cuối mùa thu)

Đành rằng hồn thơ đa cảm của Xuân Quỳnh hợp với cảm thức mùa thu,

song cái tơi trữ tình trong thơ nữ sĩ quá nhạy cảm với bước đi khẽ khàng của thời

21



gian đến nỗi sức sống rực rỡ của vạn vật mùa xuân không sao che chắn nổi dự

cảm tàn phai:

“Mùa xuân sẽ về đâu

Khi nơi này xuân hết?”

(Mười bảy tuổi)

Điệp khúc ấy cứ lặp đi lặp lại: “Hoa héo trước kì hoa nở” và “Hạnh phúc

đang còn, tình u đã mất”…

Từ ngàn xưa, con người đã lo nghĩ về cái chết, về sự chia lìa, như một nhà

nghiên cứu văn học đã nhận định: “Nỗi day dứt vào bậc nhất trong suy cảm trữ

tình của con người bao đời nay là day dứt về chuyện CÒN – MẤT của những gì

với mình là quý giá thiêng liêng. Người càng giàu tiên cảm, giàu dự cảm lo âu

về mất mát rủi ro, thì day dứt càng ám ảnh hơn” [12, tr21-22]. Thơ Xuân Quỳnh

tràn ngập những suy tư, trăn trở về việc sống – chết. Vì thế, song hành với nỗi

ám ảnh về sự cô đơn, người phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh còn day dứt nỗi sợ

hãi về cái chết, sự mất mát, lìa xa.

Nhìn một cách tổng quan có thể thấy rằng nỗi sợ hãi về cái chết xuất hiện

trong thơ Xuân Quỳnh xoay xung quanh hai vấn đề chính, đó là cái chết của

những con người trong chiến tranh và cái chết của tình yêu và con người trong

tình yêu. Vốn là người đa cảm, Xuân Quỳnh không thể thờ ơ được trước cái chết

của đồng bào mình sau Mười hai ngày gánh chịu những trận mưa bom B52 của

giặc:

“Mười hai ngày cùng tận của lòng đau

Cơ Ngọc Tường chết ở Bạch Mai

Chiếc áo cưới thay cho vải liệm

Gió đơng bắc thổi qua nền gạch vụn

Trên máu người bị giết ở Khâm Thiên.”

Hay những câu thơ đầy quyết tâm:

“Tôi sẵn sàng đem hiến cả đời tôi

Cho cát trắng và gió Lào quạt lửa”

“Sống đất này, chết cũng đất này thôi”…



22



Đọc những câu thơ trên, cái chết xuất hiện không chỉ một lần. Song cách

khắc họa cái chết của Xn Quỳnh khơng đem đến khơng khí bi lụy, bế tắc mà

nổi bật lên là lòng căm thù sâu sắc. Với lòng căm thù ấy, có gì hơn là cầm súng

chiến đấu để trả thù cho những đồng bào vơ tội đã hi sinh?

Xn Quỳnh đã nhìn thấy Thần Chết đang đợi mình. Bà đã biết trước đời

mình như một ngọn đèn le lói sắp tắt. Tháng 6/1988, Xuân Quỳnh bị đau tim

nặng phải vào bệnh viện. Trên giường bệnh, bà làm bài thơ Thời gian trắng thể

hiện rõ sự ám ảnh về cái chết:

“Em ở đây không sớm khơng chiều

Thời gian trắng, khơng gian tồn màu trắng

Trái tim đập sau làn áo mỏng

Từng đập vì anh, vì những trang thơ

Trái tim nay mỗi phút mỗi giờ

Chỉ có đập cho mình em đau đớn

Trái tim này chẳng còn có ích

Cho anh yêu, cho công việc, bạn bè

Khi cuộc đời trơi chảy ngồi kia

Thời gian trắng vẫn ngừng trong bệnh viện

Chăn màn trắng, nỗi lo và cái chết”

(Thời gian trắng)

Dự cảm nhiều về cái chết, về sự chia li trong thơ xuất phát từ những linh

cảm về cuộc đời, số phận nghiệt ngã mà chỉ những người có tâm hồn đặc biệt

mới có. GS. Chu Văn Sơn từng viết: “Cuộc đời và thơ Xuân Quỳnh là một nỗ lực

thoát khỏi chơ vơ định mệnh (…) và phải đến khi tai nạn phũ phàng ập xuống

quá bất ngờ, người đời mới thấy rằng những dự cảm lo âu suốt một đời người,

một đời thơ ấy sao mà linh nghiệm”. [12, tr21-22]

Có thể nói, những cung bậc cảm xúc trong thơ Xuân Quỳnh luôn luôn tồn

tại một nghịch lý càng hạnh phúc thì càng lo âu, và càng lo âu khắc khoải thì

càng đắm say da diết. Người đọc tự hỏi: Viết về cái chết liệu Xuân Quỳnh có hết

âu lo? Có hết không những trăn trở của một trái tim nghệ sĩ? Câu hỏi đó có lẽ sẽ

còn khắc khoải mãi bởi dù nữ thi sĩ có mất đi, thời gian có mãi trơi thì thơ của bà

vẫn còn lại với thời gian, bất tử trong những trang thơ nồng nhiệt, bất tử trong



23



những dự cảm âu lo. Và có lẽ những dự cảm lo âu, sự ám ảnh ấy chính là điều

làm nên điệu hồn thơ Xuân Quỳnh.



2.3 Cái tôi chở che, gắn bó

Hòa nhịp cùng với một cái tơi khát khao yêu thương, dâng hiến nhưng âu lo

là cái tơi chở che, gắn bó – để được gần hơn với yêu thương và con người. Nhìn

từ đặc điểm giới tính, chỉ có những người đàn bà mới dành cả một đời hướng về

tổ ấm, đi tìm sự che chở và mong muốn được chở che.

Cõi đời vốn đã đầy cay cực, xáo động, Xuân Quỳnh lại sinh đúng vào

những năm tháng xáo động, bản thân, ngay từ trứng nước đã đa mang một cõi

lòng khơng n định. Sinh ra đã chịu đựng nỗi chơ vơ, côi cút, rồi trên mỗi bước

đường đời, mặc cảm côi cút cứ truy đuổi sát gót như một thứ bóng đè lên cuộc

đời người phụ nữ này. Vì thế, có thể thấy rằng: cuộc đời và thơ Xuân Quỳnh là

một nỗ lực vượt thoát nỗi chơ vơ định mệnh đó. Cũng vì thế, ln thường trực ở

hồn thơ này, một khao khát đến khắc khoải: khao khát được gắn bó và chở che.

Ai cũng thừa nhận thơ Xuân Quỳnh đậm đà hơi thở cuộc sống đời thường.

Xuân Quỳnh làm thơ hướng vào cuộc sống đời thường, vào mái nhà với những

tình cảm, sự lo toan cho tổ ấm ấy. Bởi, như con chim mất tổ từ thủa ấu thơ nên

Xuân Quỳnh thiết tha muốn vun đắp và gây dựng một tổ ấm yêu thương trọn vẹn

cho mình. Đối với Xuân Quỳnh tổ ấm gia đình là một ốc đảo bình yên để tâm

hồn thi sĩ ẩn náu, tránh những cơn bão cát nóng bỏng và khắc nghiệt của cuộc

đời. Khơng phải khơng có lí khi Chu Văn Sơn gọi đích danh chất thơ Xuân

Quỳnh là “chất thơ từ tổ ấm”. Trong Không bao giờ là cuối, hình ảnh tổ ấm cứ

thấp thống ẩn hiện dưới nhiều dạng thức, mang theo bao nỗi niềm vui buồn của

một người vợ, một người mẹ tận tụy kiếm tìm, chắt chiu gìn giữ hạnh phúc đời

thường.

“Đã xa rồi căn phòng nhỏ của em

Nơi che chở những người thương mến nhất

Con đường nắng dòng sơng trước mặt

Chuyến phà đơng. Nỗi nhớ cứ quay về…”

(Chỉ có sóng và em)

Hay:



24



“Ngày mai trời còn mưa anh ở đâu

Căn gác dột qua kẽ trần đã nứt

Ngày mai trời còn mưa

Bậc thang gác nhà mình ẩm ướt…”

(Ngày mai trời còn mưa)

Có lẽ với Xn Quỳnh tận cùng của hạnh phúc, tận cùng của tình yêu là sự

yên bình của một tổ ấm với những chở che, nương tựa vào nhau. Vì thế trong

Khơng bao giờ là cuối người đọc luôn gặp một người đàn bà với đôi bàn tay gầy

guộc, đầy những vết chai sạn tự nguyện nhóm ngọn lửa ấm trong căn nhà chật

hẹp của mình. Ngọn lửa mà người phụ nữ ấy nhen nhóm là lửa tình u, lửa từ

trong tim, ngọn lửa ấy sẽ không bao giờ tắt lúc nào cũng nồng ấm yêu thương để

sưởi ấm, che chở cho những người thân yêu.

“Sao không cài khuy áo lại anh

Trời lạnh đấy, hôm nay trời trở rét…”

(Trời trở rét)

“Làm mái nhà che những cơn mưa

…Làm ánh lửa giữa rừng khuya phía trước…”

(Thương về ngày trước)

Tổ ấm được bắt đầu từ tình yêu của “anh” và “em”. Tự nguyện gắn bó và

được gắn bó, mong muốn chở che và được chở che, khát vọng của người phụ nữ

trong cõi thơ Xuân Quỳnh bao gồm cả hai chiều cho và nhận ấy. Hóa ra, cái đích

của tình u là sự u thương hồn hậu vơ cùng. “Tay trong tay” – hình ảnh ấy

trở đi trở lại trong thơ Xuân Quỳnh như là hiện thân cho khát vọng gắn bó và che

chở.

“Trong tay anh, tay của em đây

Biết lặng lẽ vun trồng gìn giữ…”

(Bàn tay em)

“Tay ta nắm chặt tay người

Dẫu qua trăm núi ngàn đồi cũng qua”

(Hát ru)

25



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2: CÁI TÔI TRỮ TÌNH – HIỆN THÂN CỦA TÍNH NỮ TRONG TẬP THƠ “KHÔNG BAO GIỜ LÀ CUỐI”

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×