Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Độc tính của các khí và hơi. Những điều kiện làm cơ thể nhiễm độc.

Độc tính của các khí và hơi. Những điều kiện làm cơ thể nhiễm độc.

Tải bản đầy đủ - 0trang

1. Một số khái niệm cơ bản.



1.1. Nhiễm độc theo thời gian.

1.1.1 Nhiễm độc cấp tính.

Nhiễm độc cấp tính là trạng thái nhiễm độc sau khi nhiễm chất độc một thời gian ngắn,

xuất hiện những triệu chứng khác thường rất nghiêm trọng, hoặc có thể gây ra tử vong cho người

hoặc động thực vật nhiễm độc.

Một hình thức nhiễm độc nhanh hơn là nhiễm độc “ Siêu cấp tính “ đây là hình thức diễn

ra rất nhanh, hầu như ngay tức khắc. Thường dẫn đến tử vong sau một thời gian rất ngắn.

1.1.2. Nhiễm độc mãn tính.

Nhiễm độc mãn tính là trạng thái nhiễm độc với liều lượng thấp, chưa gây ra triệu chứng

liền mà phải trải qua một thời gian dài tích lũy chất độc trong cơ thể, đến một mức nào đó làm

biến đổi các q trình sinh lý, sinh hóa bên trong cơ thể mới phát sinh ra triệu chứng ngộ độc.

Ngoài ra đối với con người, ngồi 2 trang thái ngộ độc cấp tính và mãn tính còn có trạng

thái lâu dài hơn, đó là trạng thái gây rối loạn hoạt động của tế bào, làm đột biến gen, biến đổi cấu

trúc gen dẫn tới bệnh ung thư.

2. Các loại khí phổ biến.

2.1. Các khí gây ngạt.

2.1.1. Định nghĩa.

Các khí gây ngạt chính được chia làm 2 loại là: Các khí gây ngạt đơn thuần và các khí

gây ngạt hóa học.

Tác hại chính của các khí gây ngạt là chiếm chỗ của oxi trong khơng khí, làm máu trong

cơ thể không thể vận chuyển được oxi đi nuôi các tế bào sống dẫn đến cơ thể bị ngạt do thiếu

oxi.

2.1.2. Cơ chế.

a) Các khí gây ngạt đơn thuần.

Là các chất khí gây ra các tổn thương như mất tri giác, bất tỉnh, thậm chí gây tử vong

bằng cách chiếm chổ oxi trong khơng khí thở, làm giảm nồng độ O2 trong khơng khí hít vào, làm

lỗng O2 đến mức dưới áp suất riêng phần cần thiết cho việc duy trì sự bão hòa O2 trong máu đủ

cho sự hơ hấp bình thường của các mơ nhằm đảm bảo sự sống.



Ngồi ra các khí này còn có nguy cơ cháy nổ rất cao vì gồm có các khí như: metan, etan,

propan, butan, hidro, axytylen,...

b) Các khí gây ngạt hóa học.

Là các chất khí tuy khơng có tác dụng đuổi O2 ra khỏi phổi nhưng chúng có tác dụng hóa

học trên máu, gây cản trở sự vận chuyển O2 của máu, dù phổi hoạt động tốt, hoặc gây cản trở sự

sử dụng O2 của các mô, dù máu mang nhiều O2 đến. Một số khí gây ngạt hóa học thường gặp

trong công nghiệp như là: Cacbon monooxit, xianogen và các xianua, hidro sunfua, nitrobenzen.

2.1.3. Một số loại khí thường gặp trong đời sống và công nghiệp.

a) Cacbon dioxit (CO2).

Là một chất khí gây ngạt đơn thuần.

Là nguyên nhân của nhiều tai nạn chết người trên thế giới cũng như ở Việt Nam, trong

đời sống cũng như trong công nghiệp.

a.1. Các nguồn tiếp xúc CO2.

Trong đời sống hằng ngày:





Từ sự hơ hấp của con người, do đó khi có nhiều người ở trong một khơng gian

kém thống khí thì CO2 có thể tăng cao hơn bình thường.







CO2 là sản phẩm của q trình đốt cháy hồn tồn các chất hữu cơ thường dùng

hằng ngày như khí đốt, dầu hỏa, củi, than,...







Q trình phân hủy chất hữu cơ cũng như q trình hơ hấp của thực vật củng tạo

ra CO2.







Nói chung, CO2 có nồng độ cao trong khơng khí ở các khơng gian kín, nơi khơng

khí bị tù hãm hoặc kém thống khí.



Trong sản suất cơng nghiệp:





Kỹ nghệ hóa học, chế tạo hoặc sử dụng các hợp chất như: cacbonat, bicacbonat,...

có thể tạo ra nhiều CO2.







Luyện kim trong khơng khí trơ.







Sản xuất rượu bia, nước có ga, nước khống nhân tạo,…







Kỹ nghệ làm lạnh CO2 lỏng hoặc rắn.







Xây dựng các cơng trình ngầm, sâu dưới mặt đất.







Trong các hầm mỏ, đặc biệt là mỏ khai thác than.



a.2. Cơ chế nhiễm độc của CO2.

CO2 sản sinh trong cơ thể vào máu, được máu đem đến phổi và được thải ra theo hơi thở,

theo phản ứng thuận nghịch như sau:

CO2 + O2Hb ↔ CO2Hb + O2

Trong điều kiện khơng khí thở bình thường, máu của cơ thể khi đến phổi mang theo CO2

do cơ thể thải ra dưới dạng CO2Hb (cacbohemoglobin). Ở phổi, CO2Hb phân ly thành CO2 theo

khơng khí thở ra và Hb, Hb kết hợp ngay với O2 của không khí hít vào để thành O2Hb

(oxyhemoglobin) và chuyển đến các tế bào, mô, tổ chức của cơ thể.

Nếu trong không khí có nhiều CO2 thì hiện tượng bình thường trên không xảy ra được

nên O2 không được cung cấp cho cơ thể làm cơ thể bị ngạt.

Như vậy có thể nói ngạt do nhiều CO2 hay ngạt do thiếu O2 xảy ra tương tự.

a.3. Triệu chứng khi nhiễm độc CO2.

Ở nồng độ thấp:





Trầm uất, tức giận.







Ù tai, gây ngất.







Hơ hấp và nhịp tim chậm lại.







Da xanh tím, các đầu chi lạnh, có thể tử vong nhanh.



Ở nồng độ cao:





Gây nhức đầu.







Rối loạn thị giác.







Mất tri giác.







Gây ngừng thở trước khi tim ngừng đập.



a.4. Cấp cứu và điều trị.

a.4.1. Cấp cứu.

Nhanh chóng đưa nạn nhân ra khỏi mơi trường ơ nhiễm, đặt ở nơi thống mát. Làm hơ

hấp nhân tạo…



Chuyển nạn nhân đến cơ sở cấp cứu gần nhất, chăm sóc cẩn thận trên đường di chuyển

nạn nhân.

a.4.2. Điều trị.

Chủ yếu bằng oxi liệu pháp.

Tăng cường thể lực,…

a.5. Dự phòng và phòng tránh.

Việt nam quy định nồng độ tối đa cho phép của CO2: Trung bình 8 giờ là 900 mg/m3,

từng lần tối đa là 1800 mg/m3.

Mỹ quy định TLV (ACGIH 1998) đối với CO2 là 5000 ppm.

Một số quốc gia không quy định nồng độ CO2, nhưng quy định O2 khơng được dưới 20%.

Phòng tránh bằng nhiều cách:





Phải thận trọng khi vào hoặc làm việc trong các khơng gian kín, khơng khí tù hãm

và chưa biết rõ.







Trong khơng gian có nồng độ CO2 cao hoặc O2 thấp thì nhất thiết phải dùng mặt

nạ cách ly (có nguồn khí thở riêng) khi vào hoặc làm việc tại đó.







Người đeo mặt nạ ngồi ra còn cần phải được giám sát chặt chẽ để phòng hờ.







Giải quyết bầu khơng khí tù hãm chủ yếu bằng thơng gió nhân tạo.



b) Cacbon monooxit (CO).

Trên thế giới, nhiễm độc CO thường gặp trong đời sống hằng ngày cũng như trong sản

xuất công nghiệp.

Trong môi trường sản xuất cơng nghiệp, nhiễm độc CO cấp tính được xem như tai nạn

lao động.

Nhiễm độc CO là nhiễm độc nghề nghiệp có trong danh sách bệnh nghề nghiệp ở một số

nước.

Là một khí gây ngạt hóa học.

b.1. Các nguồn tiếp xúc CO.

Khi các chất hữu cơ bị đốt cháy không hoàn toàn tạo ra nhiều CO, như than, đặc biệt là

than đá, giấy, xăng dầu, khí đốt,…



Trong cơng nghiệp gang – thép.

Sản xuất khí đốt từ than đá.

Sản xuất đất đèn (gió đá).

Khí thải của các động cơ nhiên liệu, đặc biệt là đông cơ xăng.

Các nhà máy nhiệt điện sử dụng than đá.

Nổ mìn, cháy nổ,…

Hút thuốc lá.

b.2. Cơ chế nhiễm độc CO.

Cơ chế cũng của nhóm khí gây ngạt hóa học là ngăn cản sự vận chuyển O2 trong máu đến

các tế bào từ đó gây ra ngạt do thiếu O2.

O2Hb + CO → COHb + O2

COHb (cacboxihemoglobin) là một hợp chất bền vững, chất này làm cho O2 không được

vận chuyển đến các tế bào. Sự liên kết hay ái lực của Hb với CO mạnh hơn so với O2 tới 210 –

240 lần, nên COHb rất khó bị phân ly.

Tuy nhiên, phản ứng trên có thể đảo chiều lại theo chiều nghịch, nghĩa là CO có thể bị

tách khỏi COHb dưới tác dụng của O2 áp suất cao hoặc O2 nguyên chất, giải phóng Hb để làm

nhiệm vụ vận chuyển O2 như sau:

COHb + O2 → O2Hb + CO

Ngồi ra còn có CO nội sinh là CO do cơ thể sinh ra cũng góp phần tạo ra COHb trong

máu. CO nội sinh là kết quả của q trình dị hóa của các nhân pyrolic của hemoglobin,

myoglobin, của các xytochrom và các sắc tố khác.

Tuy nhiên tỉ lệ CO nội sinh ở người được đánh giá rất thấp khoảng 0,1 – 1%.

b.3. Triệu chứng khi nhiễm độc CO.

Bao gồm nhiễm độc cấp tính và mãn tính.

b.3.1. Nhiễm độc cấp tính.

-



Nhiễm độc siêu cấp tính.



Chỉ cần hít thở vài lần trong bầu khơng khí có nồng độ CO quá cao cũng đủ gây hôn mê

và gục ngã ngay tại chỗ, Nếu được cấp cứu kịp thời, nạn nhân có thể qua khỏi nhưng vẫn còn

một số triệu chứng nặng trong ít lâu sau như co giật cơ, nhức đầu dai dẳng, chóng mặt,…



-



Nhiễm độc cấp tính thể nặng và nhẹ.



Ở thể nặng, theo sự phát triển của tình trạng thiếu O2 trong máu và mô, ảnh hưởng đến hệ

thần kinh trung ương, giảm dần khả năng phán đoán, rối loạn động tác, rối loạn hô hấp, mất phản

xạ co giật, hô mê, liệt hô hấp và chết.

Nếu được cấp cứu thốt chết, nạn nhân vẫn còn lại một số di chứng như: nhức đầu, rối

loạn tâm thần, nói năng ngọng ngịu, phát âm khó khăn, tổn thương thị giác.

Ở thể nhẹ, gây ra các triệu chứng như: nhức đầu, buồn nôn, rối loạn thị giác,… Nếu

ngừng tiếp xúc thì triệu chứng sẽ hết.

b.4. Cấp cứu và điều trị.

b.4.1. Cấp cứu.

Nguyên tắc chung là đưa nạn nhân ra khỏi môi trường ô nhiễm CO, làm hô hấp nhân tạo

và cho thở O2 càng khẩn trương càng tốt.

Chú ý: Nếu đưa nạn nhân ra khỏi môi trường ô nhiễm CO thì COHb trong máu sẽ được

phân lý từ từ theo cơ chế giải độc tự nhiên.

Tuy nhiên phản ứng đó rất chậm, muốn tăng phản ứng cần cho thở O2 nguyên chất dưới

áp suất cao. Cần kiểm tra, theo dõi cẩn thận. Cấp cứu phải kiên trì, liên tục trong nhiều giờ.

b.4.2. Điều trị

- Nhiễm độc cấp tính.

Áp dụng các biện pháp sau:





Duy trì oxi liệu pháp.







Giữ cho đường hơ hấp thơng suốt (hút đờm rãi,…).







Giữ cân bằng nước – chất điện giải.







Có thể dùng kháng sinh và thuốc trợ lực.







Theo dõi tim (làm điện tâm đồ).



- Nhiễm độc mãn tính.

Cho nghỉ việc, ngừng tiếp xúc với CO, có thể khỏi nhanh chóng nếu bệnh nhẹ.

Cho ngửi O2 nhiều lần ( từ 3 – 4 lần/ngày, mỗi lần 10 – 15 phút).

Có thể dùng hỗn hợp cacbogen sẽ có kết quả tốt hơn (95% O2 + 5% CO2).



b.5. Dự phòng và phòng tránh.

Việt Nam quy định nồng độ tối đa cho phép của CO là trung bình 8h ở mức 20mg/m3,

từng lần tối đa là 40mg/m3.

Mỹ quy định là TLV(ACGIH) của CO là 25 ppm.

Có thể phòng tránh bằng các cách như:





Áp dụng các biện pháp kỹ thuật để CO khơng thốt ra khơng khí nơi làm việc.







Bảo đảm hút thơng gió tốt, cung cấp khơng khí sạch cho cơng nhân.







Nếu bắt buộc phải tiếp xúc với CO thì nhất thiết phải đeo mặt nạ chống CO, tốt

nhất là dùng mặt nạ cách ly.







Khi làm việc mà phải tiếp xúc với CO thì cần phải được tổ chức làm theo nhóm

để dễ dàng quan sát, giúp đỡ khi cần thiết.



c) Axit xianhidric và các xianua.

Axit xianhidric và các xianua đều là các chất cực độc. Chúng được dùng trong sản xuất

cơng nghiệp (luyện kim, hóa học,…), nơng nghiệp,… và thường gây ra các tai nạn nhiễm độc

chết người bất ngờ vì tác dụng độc của chúng rất nhanh chóng.

Đây là khí gây ngạt hóa học.

c.1. Các nguồn tiếp xúc.

HCN được dùng trong chế tạo hóa chất, chất dẻo,...

HCN có mặt trong các khí lò cao, lò cốc,…

HCN được tạo thành khi đốt cháy xenluloit

HCN cũng có thể tạo thành do đốt cháy các chất dẻo, ngay cả polyetylen, nhất là trong

q trình thiêu đốt các rác chất dẻo,…

HCN có thể xâm nhập vào cơ thể bằng mọi đường( hô hấp, da, tiêu hóa,…)

Hơi HCN được hấp thụ nhanh chóng qua phổi.

Dung dịch hoặc hơi HCN có thể qua da nguyên vẹn vào cơ thể.

c.2. Cơ chế nhiễm độc.

HCN, CN—và các nitril đều có cơ chế tác dụng giống nhau do có ion CN--.



Ion CN-- ức chế các men chứa kim loại Fe, Cu, tạo thành phức chất giữa kim loại của men

với gốc CN--.

Men quan trọng nhất bị ức chế là xytochromoxidaza, men này là chuỗi cuối cùng của cơ

chế chuyển các điện tử oxi phân tử.

Gốc CN—kết hợp với Fe3+ của xytochromoxidaza dẫn tới kết quả là sự hô hấp tế bào bị ức

chế. Vì oxi khơng được các tế bào sử dụng nên máu tĩnh mạch gần như bị bão hòa oxi như máu

động mạch.

Nếu nồng độ ion CN—khơng đủ để gây chết thì nó từ từ được tách khỏi sự kết hợp với

xytochromoxidaza và sẽ chuyển thành ion SCN—không độc và được thải loại bởi thận.

Phản ứng cuối cùng này được xúc tác bởi một men khác là enzim rhodanaza, men này

xúc tác phản ứng của gốc CN—với thiosunfat S2O32--, là chất giải độc Na2S2O3 được tiêm vào cơ

thể, để tạo thành các ion sunfit và thioxinat rồi tất cả được thải loại qua nước tiểu theo phản ứng

sau đây:

S2O32-- + CN-- → SO32-- + SCN—

c.3. Triệu chứng nhiễm độc.

c.3.1. Nhiễm độc cấp tính.

-Nhiễm độc siêu cấp tính.

Chỉ cần một vài cái hít thở phải khí HCN hoặc nuốt khoảng dưới 50 đến 100 mg KCN

hoặc NaCN thì tai nạn xảy ra hầu như ngay tức khắc, tử vong do ngừng hơ hấp. Đó là tai nạn

trong sản xuất và đời sống.

- Nhiễm độc cấp tính.

Theo Aubertin, có 4 giai đoạn sau đây:





Giai đoạn kích thích: Nhức đầu, đắng và bỏng miệng, chóng mặt, ngã quỵ, buồn

nơn, thở nhanh.







Giai đoạn suy sụp: Khó thở khi hít vào và thở ra, nạn nhân sững sờ, dễ giận dữ.







Giai đoạn co giật: Co giật kiểu trương lực, giật rung, mất tri giác.







Giai đoạn liệt: Hon mê sâu, trụy tim mạch, mạch yếu và đều, huyết áp tụt, khó thở

tăng lên và cuối cùng là dừng hơ hấp.



Có thể dẫn đến tử vong trong 10 – 15 phút, hoặc khỏi nếu được điều trị kịp thời.

Di chứng: Các di chứng thần kinh dai dẳng như liệt, hội chứng Parkinson.



c.4. Cấp cứu và điều trị.

c.4.1. Cấp cứu.

Sơ tán nạn nhân khỏi môi trường độc hại, giữ ấm cơ thể.

Hô hấp nhân tạo nếu cần (kể cả sử dụng oxi liệu pháp).

Cho dùng thuốc giải độc.

c.4.2. Điều trị.

-Tiêm natri nitrit (NaNO2): Tiêm tĩnh mạch trong 2 – 3 phút một liều 10 ml dung dịch

3%.

Ngừng cho thuốc khi áp suất tâm thu đạt 80 mmHg.

-Tiếp tục tiêm tĩnh mạch 50 ml dung dịch 25% natri thiosunfat với nhịp độ 2,5 đến

5ml/phút.

Sau 30 phút, nếu khơng thấy tình trạng tốt xuất hiện thì nhắc lại NaNO2 và natri

thiosunfat.

c.5. Dự phòng và phòng tránh.

Cần có các biện pháp kỹ thuật nhằm hạn chế tiếp xúc với chất độc và phòng chống ơ

nhiễm khơng khí cũng như ơ nhiễm nước, đất,…

Trang bị phòng hộ đầy đủ và có hiệu quả.

Phải sử dụng mặt nạ phòng độc.

Kiểm tra sức khỏe định kì hằng năm.

Huấn luyện sơ cấp cứu tại chỗ.

2.2 Các chất kích ứng

2.2.1 Định nghĩa

-



Là những chất có tác động ăn mòn và gây phỏng rộp. Chúng gây viêm các bề mặt ẩm ướt

hoặc niêm mạc. Yếu tố nồng độ thường ít ý nghĩa hơn là yếu tố thời gian tiếp xúc.



2.2.2 Phân loại

Theo R. Lauwerys chia các khí kích ứng chủ yếu làm 2 loại:



-



Các chất kích ứng sơ cấp có tác động đến một hay nhiều bộ phận của bộ máy hô hấp

gồm:



+ Các chất kích ứng tác động chủ yếu lên đường hô hấp trên như các aldehit, ammoniac, axit

cromic, …

+ Các chất kích ứng tác động cả trên đường hơ hấp và các mơ phổi: brom, clo, ozon,…

+ Các chất kích ứng tác động đầu tiên trên các phần tận cùng các đường hô hấp và các phế nang:

nito dioxit, photgen, …

-



Các chất kích ứng thứ cấp như H2S, H3P,… ngồi tác dụng cục bộ, chúng còn tác dụng

tồn thân.



Sự phân loại tác động của các hơi khí chỉ có tính chất tương đối vì tác động của chúng sẽ thay

đổi theo nồng độ và thời gian tiếp xúc, và theo các điều kiện thực tế khác. Nói chung mọi chất

kích ứng đều có thể dẫn tới phù phổi, viêm phổi hóa học, có thể gây tử vong ngồi các tác hại

khác…

2.2.3 Một số loại khí thường gặp

a. Amoniac (NH3)

a.1.Tính chất

- Là một chất khí độc, có mùi khai, tan nhiều trong nước.

- NH3 có độ phân cực lớn do phân tử NH3 có cặp electron tự do và liên kết N-H bị phân cực. Do

đó NH3 là chất dễ hóa lỏng.

-NH3 có mùi đặc biệt,làm cay và chảy nước mắt nên người ta dễ phát hiện và phòng tránh.

a.2. Điều chế

- NH3 được sản xuất bằng phương pháp tổng hợp N2 và H2 với nguồn ngun liệu N2 trong khơng

khí.

a.3. Độc tính

- Tác dụng độc chủ yếu của NH3 là kích ứng các đường hơ hấp như mũi, họng, thanh quản, khí

quản, khí NH3 kích ứng rất mạnh đối với mắt.

a.4. Triệu chứng nhiễm độc

-Nhiễm độc cấp tính:

+Bỏng mắt,viêm kết mạc,kích ứng da.



+Lưỡi khơ và phồng rộp.

+Bỏng trong cổ họng,ho,co giật.

+Khó thở một phần do co thắt phản xạ họng.

+Mù từng phần hoặc toàn phần.

+Phù phổi.

+Tử vong do xuất huyết phổi hoặc do mất phản xạ vì khó thở.

-Nhiễm độc mãn tính: thường có các biểu hiện như giảm thị lực,kích ứng mi mắt,viêm mi mắt,..

Có thể có những ảnh hưởng ngoài da, đặc biệt quan trọng ở vùng da tiết nhiều mồ hôi.

a.5. Cấp cứu và điều trị

-Trường hợp hít phải khí NH3 cần đưa nhanh nạn nhân ra khỏi môi trường độc hại, cho nằm nghỉ,

thở oxy, điều trị triệu chứng, quan sát y học liên trục trong 24 giờ trở lên để phát hiện các biến

đổi hô hấp…, nếu xảy ra phù phổi phải điệu trị kịp thời.

-Trường hợp bị ơ nhiễm da cần nhanh chóng rửa sạch bằng nước hoặc dung dịch có tác dụng

trung hòa để bảo vệ da, điều trị triệu chứng..

-Trường hợp bị ô nhiễm mắt phải khẩn trương rửa mắt thật kỹ(rửa nhiều nước và đủ lâu…).

a.6. Nồng độ cho phép

- Nồng độ tối đa cho phép tại Việt Nam :

+ Trung bình 8 giờ : 17 mg/m3

+ Từng lần tối đa : 25 mg/m3

- Theo quy định của Mỹ, TLV trước 1972 là 50 ppm hay 35 mg/m3

b. Clo (Cl2)

b.1.Tính chất

-Clo là một khí có màu vàng xanh ( khi đậm đặc), mùi đặc biệt làm ngạt thở.

-Clo là một nguyên tố có tính oxi hóa mạnh.

-Clo khơng cháy được, ăn mòn mạnh, phá hủy các thiết bị, dụng cụ bằng kim loại để tạo thành

clorua.

-Clo chỉ tồn tại ở dạng nguyên tố trong điều kiện pH dưới 2.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Độc tính của các khí và hơi. Những điều kiện làm cơ thể nhiễm độc.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×