Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
SAIGONBANK không có quy trình tín dụng riêng cho lĩnh vực cho vay BĐS, thẩm quyền xét duyệt và cho vay BĐS cũng tuân thủ theo quy trình tín dụng chung của ngân hàng. Do đó, quy trình cho vay BĐS cho KHCN cũng giống với quy trình cho vay KHCN, bao gồm 18 b

SAIGONBANK không có quy trình tín dụng riêng cho lĩnh vực cho vay BĐS, thẩm quyền xét duyệt và cho vay BĐS cũng tuân thủ theo quy trình tín dụng chung của ngân hàng. Do đó, quy trình cho vay BĐS cho KHCN cũng giống với quy trình cho vay KHCN, bao gồm 18 b

Tải bản đầy đủ - 0trang





Bước 15: Giải ngân







Bước 16: Các nghiệp vụ phát sinh sau giải ngân







Bước 17: Thanh lý hợp đồng tín dụng







Bước 18: Giải chấp tài sản bảo đảm

2.2.2. Đánh giá quy trình

Theo quy trình tín dụng chung (trong Slide bài giảng mơn Tín dụng, ThS.



Trần Chí Chinh, 2014) gồm 6 bước: (i)Tiếp cận khách hàng và lập hồ sơ đề nghị

cấp tín dụng – (ii)Phân tích tín dụng – (iii)Quyết định tín dụng –(iv) Giải ngân –

(v)Giám sát tín dụng –(vi)Thanh lý tín dụng.

Quy trình cho vay bất động sản cho khách hàng cá nhân tại SAIGONBANK

– PGD Thủ Đức cơ bản giống với quy trình tín dụng chung trong lý thuyết.

Quy trình nghiệp vụ cho vay KHCN của SAIGONBANK bao gồm 18 bước,

trong đó có các bước chi tiết về việc phân tích khách hàng trên các khía cạnh: điều

kiện pháp lý, phân tích các yếu tố tài chính và phi tài chính, cùng với thẩm định tài

sản đảm bảo. Tại SAIGONBANK – PGD Thủ Đức, việc thẩm định này vẫn làm đầy

đủ nhưng thực hiện đơn giản hơn, lý do chính là vì cho vay BĐS cho đối tượng

KHCN ở PGD chủ yếu hướng đến mục đích sử dụng vốn là tiêu dùng và khách

hàng có mức thu nhập trung bình và thấp cho nên tổng số vốn ngân hàng giải ngân

cho một hợp đồng tín dụng loại này khơng lớn. Đồng thời, như đã trình bày ở trên,

thì nhân sự của phòng kinh doanh của PGD Thủ Đức chỉ có 2 nhân viên, nên khơng

thể dành q nhiều thời gian cho một hồ sơ được; do đó quy trình cho vay cũng

được rút gọn nhiều để phù hợp. Thời gian thẩm định trên một hồ sơ tại PGD được

rút ngắn lại, góp phần giúp thực hiện giải ngân được nhiều hồ sơ hơn và tăng chỉ số

hài lòng khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng, từ đó tăng chất lượng tín dụng.

2.3.



THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHIỆP VỤ CHO VAY



BĐS CHO KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI SAIGONBANK – PGD THỦ ĐỨC

2.3.1. Thực trạng nghiệp vụ

2.3.1.1. Quy mô, tăng trưởng cho vay BĐS cho KHCN



Trang 5



Giai đoạn 2011 – 2013, tình hình thị trường BĐS khơng có nhiều tiến triển

thuận lợi. Từ đầu năm 2011 đến cuối năm 2013, theo khảo sát của các công ty

nghiên cứu như Savills, CBRE… thị trường BĐS liên tiếp có các sự sụt giảm về cả

giao dịch lẫn giá bán, nhiều dự án giá đã giảm tới 50%, quay về với mức giá tương

đương thời điểm 7 năm trước.

Tuy vây, dư nợ cho vay BĐS cho KHCN tại PGD Thủ Đức vẫn có xu hướng

tăng nhẹ qua các năm từ 2011 – 2013. Dư nợ cho vay BĐS cho KHCN tại

SAIGONBANK – PGD Thủ Đức năm 2011 đạt 21.54 tỷ đồng. Sang năm 2012, dư

nợ tăng lên mức 23.93 tỷ đồng, tăng 11.10% so với năm 2011. Năm 2013, dư nợ

nghiệp vụ này tăng gần 4 tỷ đồng so với năm trước, đạt 27.67 tỷ đồng, tăng trưởng

dư nợ tín dụng là 15.61%. Đây là một kết quả tích cực cho hoạt động của

SAIGONBANK – PGD Thủ Đức. Dư nợ của nghiệp vụ này chiếm khoảng 17.75%

dư nợ cho vay KHCN năm 2011, tỷ lệ này tăng nhẹ lên 18.65% và 19.88% vào năm

2012 và 2013.

BẢNG 2.1 : Dư nợ và tăng trưởng dư nợ cho vay BĐS cho KHCN

Năm

Chỉ tiêu

Dư nợ (tỷ đồng)

Tăng trưởng dư nợ

tín dụng (%)



2011



2012



2013



21.54



23.93



27.67







11.10 %



15.61%



BIỂU ĐỒ 2.1: Dư nợ cho vay BĐS cho KHCN của SAIGONBANK – PGD Thủ

Đức từ 2011 – 2013 (ĐVT: tỷ đồng)



Trang 6



Dư nợ cho vay

30

25

Dư nợ cho vay



20

15

10

5

0



2011



2012



2013



Năm 2012, số lượng giao dịch thành công giảm tới 70% so với năm 2011, và

có nhiều dự án khơng có giao dịch. Thị trường BĐS năm 2012 chứng kiến nhiều dự

án giảm giá, khuyến mãi, thoái vốn và chuyển nhượng. Tỷ lệ giảm giá BĐS năm

2012 lên đến 15 – 20 %, cá biệt biệt thự, liền kề giảm giá 30% so với năm 2011. Thị

trường căn hộ có tình hình giao dịch cũng không khả quan, tỷ lệ giảm giá so với

năm ngối là 15%, do có nhiều dự án giảm giá bán ồ ạt và tâm lý người mua thì vẫn

tiếp tục chờ giá giảm thêm, do giá bán căn hộ còn khá cao so với thu nhập của

người dân. Điểm sáng trong bối cảnh này là một số dự án thuộc phân khúc bình

dân, có giá bán dao động khoảng 1.5 tỷ đồng/ căn hộ thu hút được sự quan tâm của

người mua; ngược lại, các dự án thuộc phân khúc cao cấp thật sự rơi vào khó khăn

(Bộ phận phân tích CafeLand, 2012). Đặc biệt, đây là năm thứ 3 liên tiếp (2009 –

2012), thị trường BĐS tại TP.HCM tiếp tục trong tình trạng trầm lắng. Theo số liệu

của Bộ Xây dựng, thì năm 2012, tại TP.HCM có 10,108 căn hộ chung cư và 1,131

Trang 7



căn nhà ở thấp tầng tồn kho. Trong tình hình khó khăn như vậy, hoạt động tín dụng

BĐS của ngân hàng cũng gặp nhiều trở ngại, dư nợ cho vay BĐS cho KHCN năm

2012 tại SAIGONBANK – PGD Thủ Đức khơng còn tăng nhanh như thời kỳ BĐS

“gây sốt” ở những năm trước, tuy nhiên với sự hỗ trợ của chi nhánh Tân Định,

chính sách tín dụng linh hoạt và sự nỗ lực của chính PGD Thủ Đức đã giúp cho dư

nợ nghiệp vụ này không phải chịu biến động lớn, vẫn tăng nhẹ so với năm 2011.

Sang năm 2013, thị trường BĐS đã bắt đầu ấm dần lên với những tín hiệu

tích cực. Gói hỗ trợ BĐS 30,000 tỷ đồng với lãi suất ấn định là 6%/năm của chính

phủ đã được triển khai. Tính đến giữa tháng 12/2013, giá trị giải ngân gói hỗ trợ này

mới chỉ đạt 555 tỷ đồng, chiếm khoảng 2% tổng giá trị; tuy giải ngân chưa được

nhiều nhưng vẫn tác động tích cực lên tâm lý thị trường trong năm này. Phân khúc

bình dân và nhà giá thấp tiếp tục thu hút được nhiều khách hàng, góp phần làm tăng

thanh khoản thị trường BĐS. Tuy nhiên, thị trường BĐS năm 2013 vẫn tồn tại nhiều

vấn đề từ những năm trước, vẫn chưa tìm được cách giải quyết. Lượng hàng tồn kho

BĐS năm 2013 vẫn trên 100 nghìn tỷ đồng, tâm lý kỳ vọng giá tiếp tục giảm và tiếp

tục chờ đợi vẫn là lựa chọn của phần lớn khách hàng trên thị trường lúc này, bao

gồm cả những người có khả năng về tài chính và có nhu cầu mua căn hộ để ở.

Khách hàng vẫn thấy có sự bất tương xứng giữa thu nhập của họ và giá bất động

sản. (Từ Nguyên, 2012). Tại thị trường BĐS TP.HCM, có khoảng 7600 căn hộ được

chào bán trong năm 2013, tăng gần 80% so với năm 2012. Trong đó ước tính có 5%

căn hộ thuộc phân khúc cao cấp, 17% căn hộ trung cấp, như vậy phân khúc căn hộ

bình dân chiếm gần 80%. Đặc biệt, số căn hộ được chào bán trong 6 tháng cuối năm

tăng mạnh, chiếm đến 70% so với cả năm. Cũng trong năm 2013, có khoảng 5800

căn được hấp thụ, tăng 46% so với năm 2012. Tính đến cuối năm 2013, tại TP.HCM

có hơn 30,000 căn hộ được chào bán, tồn kho hơn 15,000 căn hộ trên thị trường sơ

cấp. (Bộ phận phân tích CafeLand, 2013).

Nhìn chung, thị trường BĐS vẫn chưa có thể nhận định là đã vượt qua thời

kỳ đóng băng, tuy nhiên, với những tín hiệu lạc quan xuất hiện đã giúp cho tình

hình cho vay BĐS năm 2013 tại SAIGONBANK – PGD Thủ Đức có phần khởi sắc

hơn năm 2012. Dư nợ cho vay BĐS cho KHCN tăng 3.74 tỷ đồng , tương đương

tăng 15.61% so với năm trước. Chính sách tín dụng thời kỳ này của

Trang 8



SAIGONBANK là tiếp tục mở rộng thị phần cho vay BĐS tiêu dùng nhưng phải

cẩn trọng để đảm bảo giảm đến mức tối thiểu rủi ro tín dụng – đây là chính sách thắt

chặt nhưng linh hoạt trên Hội sở đưa ra.

2.3.1.2. Cơ cấu dư nợ cho vay BĐS cho KHCN theo thời hạn vay

BẢNG 2.2 : CƠ CẤU DƯ NỢ CHO VAY BĐS CHO KHCN THEO THỜI HẠN

VAY TỪ NĂM 2011 – 2013

Đvt:%

Năm



2011



2012



2013



Ngắn hạn



26.48



36.67



33.25



Trung và dài hạn



73.52



63.33



66.75



Thời hạn



Như đã trình bày ở trên, giai đoạn từ năm 2011 – 2013, thị trường căn hộ

giao dịch giảm sút, nên cũng ảnh hưởng đến việc cho vay với mục đích sử dụng vốn

để mua nhà chung cư, nhà ở hoặc xây dựng BĐS (chung cư, văn phòng,…) để kinh

doanh. Nắm bắt được điều này, SAIGONBANK – PGD Thủ Đức đã chuyển hướng

sang khai thác thuận lợi về địa điểm tọa lạc của mình (gần khu dân cư đơng đúc, có

nhiều cơng nhân và sinh viên trong khu vực lân cận do gần khu công nghiệp và

trường đại học) tập trung vào tiếp cận các đối tượng khách hàng có nhu cầu vay vốn

để sửa chữa nhà để ở hoặc xây dựng, sửa chữa BĐS thành phòng trọ cho thuê với số

tiền cần vay tuy không nhiều, nhưng lại vay trong thời gian ngắn, vòng quay vốn tín

dụng nhanh lên, ngân hàng vừa giảm bớt rủi ro vẫn thu được lợi nhuận. Do đó, tỷ lệ

cho vay BĐS cho KHCN ngắn hạn tăng trong năm 2012, từ 26.48% năm 2011 lên

36.67% năm 2012, tăng gần 10%. Sang năm 2013, thị trường BĐS bắt đầu ấm dần

lên, khách hàng có nhu cầu vay tiền để mua và xây dựng BĐS với giá trị lớn như

biệt thự, căn hộ cũng tăng lên, nên SAIGONBANK – PGD Thủ Đức đã mở rộng

tìm kiếm và tiếp cận thành cơng với những khách hàng đang có nhu cầu vay này, do

đó, tỷ lệ cho vay trung và dài hạn tăng nhẹ năm 2013 từ 63.33% lên 66.75%.

2.3.2. Phân tích chất lượng và hiệu quả nghiệp vụ

2.3.2.1. Chất lượng nghiệp vụ cho vay BĐS cho KHCN

Trang 9



BẢNG 2.3 :Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nghiệp vụ

cho vay BĐS cho KHCN

Đvt:%

Năm



2011



2012



2013



Nợ quá hạn /Dư nợ



7.67



8.54



9.40



Nợ xấu/ Nợ quá hạn



62



41



30



Chỉ tiêu



Hệ số nợ quá hạn cao hơn mức 5% liên tục trong 3 năm và có xu hướng tăng.

Điều này thể hiện mức độ rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng khá cao,

chất lượng cho vay BĐS cho KHCN của SAIGONBANK – PGD Thủ Đức chưa

được tốt. Năm 2011, hệ số nợ quá hạn của ngân hàng ở mức 7.67%, hệ số này tăng

thêm 0.87% vào năm 2012. Năm 2013, hệ số nợ quá hạn tiếp tục tăng lên, bằng

9.4%. Nợ quá hạn đã và đang là gánh nặng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh

của ngân hàng. Ngun nhân chủ quan vì khả năng tài chính của người đi vay giảm,

làm họ khó khăn khi thực hiện trả gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Tình

trạng thị trường BĐS trì trệ, các khách hàng là chủ đầu tư các BĐS không bán được,

không có thể hồn trả khoản vay cho ngân hàng. Tình hình kinh tế khó khăn, người

vay mua nhà ở cũng gặp khó khăn do thu nhập của họ bị giảm sút, nên giảm khả

năng hồn trả. Về phía ngân hàng, do thiếu đội ngũ nhân viên, thực hiện thẩm định

trong thời gian ngắn, nên việc đôn đốc, nhắc nhở khách hàng trả nợ cũng gặp khó

khăn và có nhiều hạn chế trong thu thập thông tin để đánh giá đúng về hiệu quả,

mức độ rủi ro của khoản vay.

Tỷ lệ nợ xấu trên nợ quá hạn tiến triển theo hướng tích cực, giảm dần qua

từng năm. Năm 2011, nợ xấu chiếm đến 62% nợ quá hạn, sau 2 năm, thì tỷ lệ này

giảm xuống chỉ còn 30%, giảm hơn một nửa. Theo báo cáo của Ủy ban Kinh tế

nhận định ngày 22/11/2013 nợ xấu chiếm khoảng 13.5% tổng dư nợ BĐS và có xu

hướng gia tăng cùng với sự đóng băng của thị trường. Nợ xấu được xem như là một

cục máu đông của thị trường BĐS. Tuy nhiên, xét chi tiết, thì lượng nợ xấu BĐS rất

lớn đang đè nặng lên hệ thống ngân hàng đến từ các doanh nghiệp kinh doanh bất

động sản là chính, và một trong những tình trạng khiến nợ xấu trầm trọng thêm là

Trang 10



do nợ đọng xây dựng cơ bản. trong khi khách hàng mục tiêu của cho vay BĐS cho

KHCN SAIGONBANK – PGD Thủ Đức như đã trình bày ở phần trên là khách

hàng có thu nhập trung bình và sử dụng vốn vào mục đích tiêu dùng. Do đó, khi mà

nền kinh tế có những chuyển biến tích cực, GDP tăng lên và lạm phát được kiềm

chế tốt, nguồn thu nhập của khách hàng cũng cải thiện, nên khả năng trả nợ của họ

cũng tăng lên, nợ xấu của ngân hàng cũng giảm xuống trong 2 năm gần đây.

Tuy hệ số nợ quá hạn cao nhưng tỷ lệ nợ xấu trên nợ quá hạn lại thấp chứng

tỏ tuy SAIGONBANK – PGD Thủ Đức trong nghiệp vụ cho vay BĐS cho KHCN

có nợ quá hạn chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng dư nợ, nhưng chủ yếu là những khoản

nợ quá hạn có khả năng thu hồi lớn, nên chất lượng tín dụng của PGD vẫn được

đánh giá là khá tốt.

Xét trên quan điểm khách hàng để đánh giá chất lượng của nghiệp vụ thơng

qua sự hài lòng của họ về dịch vụ sản phẩm được cung cấp bởi ngân hàng.

SAIGONBANK – PGD Thủ Đức nhìn chung đánh giá của hầu hết khách hàng là

khá hài lòng về việc cung ứng dịch vụ của ngân hàng. Thứ nhất, vì ngân hàng có đội

ngũ cán bộ nhân viên nhiệt tình, năng nổ, thân thiện. Dù số lượng nhân viên hạn chế

nhưng bù lại đội ngũ nhân viên PGD năng động và luôn cố gắng giữ mối quan hệ

tốt với khách hàng cũ, đặc biệt là khả năng mở rộng quan hệ giúp doanh số cho vay

tại PGD ngày càng phát triển. Trong tình hình nền kinh tế nói chung nhiều biến

động và thị trường BĐS nói riêng gặp nhiều khó khăn, gần như đóng băng, những

cán bộ tín dụng ở đây đã cố gắng vượt qua và hoàn thành các chỉ tiêu đã đề ra. Thứ

hai, cung cấp dịch vụ sản phẩm nhanh chóng cho khách hàng. thời gian thực hiện

một dịch vụ cho khách hàng cũng được SAIGONBANK rất chú trọng vì đó là một

trong các yếu tố tạo nên sự khác biệt trong mắt khách hàng khi so sánh với ngân

hàng khác.

Với hệ số nợ quá hạn cao như vậy, ngân hàng cần phải có những biện pháp

giảm thấp xuống, để nâng cao chất lượng cho vay BĐS cho KHCN. Việc nâng cao

chất lượng tín dụng sẽ góp phần đảm bảo và làm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng,

thu hút thêm được nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm, dịch vụ, tạo ra

một hình ảnh tốt về biểu tượng và uy tín của ngân hàng cùng sự trung thành của

khách hàng.

Trang 11



2.3.2.2. Hiệu quả nghiệp vụ cho vay BĐS cho KHCN

BẢNG 2.4 : Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả nghiệp vụ cho vay BĐS cho KHCN

Đvt: %

Năm



2011



2012



2013



Lợi nhuận/Chi phí



18



25



31



Hệ số thu nợ



56.67



65.73



85



Chỉ tiêu



Để đánh giá hiệu quả của hoạt động cho vay BĐS cho KHCN đầu tiên xem

xét trên khía cạnh lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận chi phí có xu hướng tăng qua các

năm trong giai đoạn từ 2011 – 2013. Chỉ tiêu này ngày càng lớn thì càng tốt cho

ngân hàng, vì nó chứng tỏ với một mức chi phí bằng năm trước đó, thì ngân hàng lại

thu được lợi nhuận nhiều hơn vào năm nay, nghĩa là khả năng sinh lời từ hoạt động

nghiệp vụ này cho ngân hàng được cải thiện. Nhìn vào bảng số liệu ở trên, có thể

nhận thấy, tỷ suất lợi nhuận chi phí năm 2011 chỉ ở mức 18%, nghĩa là với 100 đồng

chi phí bỏ ra, ngân hàng thu được 18 đồng lợi nhuận. tỷ suất này năm 2012 bằng

25%, với 100 đồng chi phí bỏ ra như năm 2011, ngân hàng lại tạo ra nhiều hơn 7

đồng lợi nhuận so với năm trước. Năm 2013, giá trị của tỷ suất này là 31%, chỉ sau

2 năm, với mức chi phí như nhau thì ngân hàng lại có thể tạo ra lợi nhuận gần gấp

đơi năm 2011. Khi khả năng tạo ra lợi nhuận của ngân hàng tăng, cũng tạo điều

kiện để ngân hàng có thể tích lũy và tạo ra những khoản dự trữ từ lợi nhuận để bổ

sung cho ngân hàng trong tương lai, nâng cao tính an tồn về vốn trong hoạt động

kinh doanh cho ngân hàng, và nâng cao khả năng cạnh tranh.

Hệ số thu nợ phản ánh hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ của ngân hàng, hệ

số này càng lớn càng tốt. Nhìn chung, từ năm 2011 – 2013, hệ số thu nợ diễn biến

theo chiều hướng tích cực, tăng nhanh qua các năm. Cụ thể, năm 2011, hệ số thu nợ

chỉ bằng 56.67%, sang năm 2012 tăng thêm gần 10%, đạt 65.73%. Hệ số thu nợ

tăng nhanh hơn nữa vào năm 2013, đạt 85%, tăng thêm 19.27% so với năm 2012.

Đây là một tín hiệu rất tốt, vì ngân hàng có khả năng thu hồi nợ đầy đủ hơn, nhờ đó

ngân hàng có điều kiện mở rộng khả năng cung cấp tín dụng cũng như các dịch vụ

ngân hàng khác do tạo được thêm nguồn vốn từ việc tăng vòng quay vốn tín dụng.

Trang 12



đồng thời, còn giúp ngân hàng giảm các chi phí thiệt hại do chậm trễ hoặc không

thu hồi được vốn đã cho vay. Nguyên nhân là do SAIGONBANK – PGD Thủ Đức

đã và áp dụng nhiều biện pháp thu hồi nợ, đặc biệt là nợ xấu. Hệ số thu nợ được cải

thiện sẽ góp phần gia tăng nguồn vốn cho vay.

Qua 2 chỉ tiêu trên, nhận xét chung, SAIGONBANK – PGD Thủ Đức trong

giai đoạn khó khăn đã đề ra và thực hiện tốt các biện pháp để có thể vượt qua thời

kỳ khó khăn, nâng cao được hiệu quả tín dụng của nghiệp vụ cho vay BĐS cho

KHCN. Việc nâng cao hiệu quả tín dụng sẽ giúp ngân hàng nâng cao năng lực huy

động vốn và sử dụng vào nền kinh tế hiệu quả nhất.

2.4.



ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CHO VAY BĐS CHO KHÁCH HÀNG CÁ



NHÂN TẠI SAIGONBANK – PGD THỦ ĐỨC

2.4.1. Những kết quả đạt được

2.4.1.1. Doanh số cho vay tăng qua các năm

BẢNG 2.5 Doanh số cho vay từ năm 2011 – 2013

Đvt: tỷ đồng

Năm

Chỉ tiêu

Doanh số cho vay



2011



2012



2013



15.879



17.467



19.85



Năm 2011, được đánh giá là năm khó khăn nhất từ năm 1991, nhưng doanh

số cho vay năm này vẫn đạt được 15.879 tỷ đồng. Doanh số cho vay năm 2012 đạt

17.467 tỷ đồng, tăng 10% so với năm 2011, con số này ở năm 2013 là 19.85 tỷ

đồng, tăng 13.64%. Tốc độ tăng trưởng bình quân của doanh số cho vay trong giai

đoạn 2011 – 2013 là 11.81%. Mức tăng trưởng này là kết quả của sự nỗ lực của toàn

bộ nhân viên tại PGD trong giai đoạn khó khăn của cả nền kinh tế và thị trường

BĐS. Các hợp đồng cho vay BĐS cho KHCN mới trong năm 2011 và 2012 chủ yếu

có mục đích sử dụng vốn là sửa chữa BĐS để sử dụng hoặc kinh doanh.

SAIGONBANK – PGD Thủ Đức trong giai đoạn này cũng rất chú trọng và đã thực

hiện đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Do đó, ngân hàng thu hút được



Trang 13



nhiều khách hàng hơn, vì khách hàng có điều kiện lựa chọn hình thức vay phù hợp

nhất khi vay ngân hàng.

2.4.1.2. Doanh số thu nợ tăng qua các năm

BẢNG 2.6: Doanh số thu nợ từ năm 2011 – 2013

Đvt: tỷ đồng

Năm

Chỉ tiêu

Doanh số thu nợ



2011



2012



2013



9



11.48



16.87



Hoạt động tín dụng của ngân hàng thì khơng chỉ hướng đến mục tiêu sinh lợi

mà còn phải an tồn hiệu quả. Do đó, SAIGONBANK – PGD Thủ Đức khơng chỉ

chú trọng đến doanh số cho vay mà còn quan tâm đến tình hình thu hồi nợ. Việc thu

hồi các khoản nợ đúng với các điều kiện cam kết trong hợp đồng tín dụng được xem

như một trong những mục tiêu quan trọng mà PGD muốn đạt được. Doanh số thu

nợ phụ thuộc vào chính sách tín dụng từng thời kỳ, số nợ cần thu hồi trong kỳ và

khả năng cũng như thiện chí trả nợ của khách hàng.

Như đã trình bày về tình hình BĐS trong giai đoạn từ 2011 – 2013, và nền

kinh tế chung của cả nước cũng khó khăn; do vậy, ảnh hưởng nhiều đến thu nhập

của khách hàng, nên giảm khả năng trả nợ của họ. Theo bảng số liệu về doanh số

thu nợ ở trên, thì doanh số thu nợ của PGD Thủ Đức tăng qua các năm, một kết quả

đáng ghi nhận cho hoạt động của SAIGONBANK – PGD Thủ Đức.

Năm 2011, doanh số thu nợ đạt 9 tỷ đồng, chỉ bằng hơn một nửa doanh số

cho vay, con số này phản ánh phần nào sự khó khăn trong việc thu hồi vốn và lãi

vay trong bối cảnh năm này. Tuy nhiên, với các biện pháp mới đề ra trong công tác

đôn đốc và thu hồi nợ từ khách hàng thực hiện khá hiệu quả cùng với sự bổ sung

nhân sự cần thiết trong năm 2012, thì doanh số thu nợ năm 2012 đã tăng thêm gần 3

tỷ đồng, đạt 11.48 tỷ đồng. Và năm 2013, với thêm một thuận lợi là nền kinh tế có

những chuyển biến tích cực, doanh số thu nợ tăng thêm hơn 5 tỷ đồng so với năm

trước, đạt 16.87 tỷ đồng. Chỉ trong vòng 2 năm, doanh số thu nợ của ngân hàng năm

2013 tăng gần gấp đôi so với năm 2011.

Trang 14



Trong các năm tiếp theo, ngân hàng cần phải tiếp tục phát huy, làm tốt công

tác thu hồi nợ, đôn đốc nhắc nhở khách hàng khi gần đến hạn trả nợ gốc và lãi vay.

2.4.1.3. Những kết quả đạt được khác

Dư nợ tăng qua các năm: Dư nợ ngày càng tăng phản ánh khả năng mở rộng

tín dụng của ngân hàng ngày càng lớn.

Tỷ trọng dư nợ cho vay BĐS cho KHCN trong cho vay KHCN ngày càng

lớn. Đặc biệt, dư nợ của nghiệp vụ cho vay BĐS cho KHCN có mục đích sử dụng

vốn là tiêu dùng chiếm tỷ trọng gần 50% dư nợ cho vay tiêu dùng.

2.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế

2.4.2.1. Những hạn chế

a)



Công tác thẩm định cho vay BĐS cho KHCN thực hiện đơn giản

Theo cán bộ tín dụng tại PGD Thủ Đức, đối với cho vay tiêu dùng nguồn trả



nợ chính là từ thu nhập của khách hàng và doanh số cho vay của mỗi hợp đồng tín

dụng khơng lớn nên khi thẩm định cơ sở thu nhập và mục đích vay xong là có thể

hoàn thiện hồ sơ cho vay được. Cụ thể, để đánh giá nguồn trả nợ và biện pháp để

ngân hàng có thể quản lý được dòng tiền đó cán bộ tín dụng chỉ yêu cầu khách hàng

đảm bảo đầy đủ giấy tờ chứng minh thu nhập, các giấy tờ liên quan đến khoản vay,

giấy tờ bảo đảm... ; nếu khoản vay cần bảo đảm tín dụng thì khách hàng bổ sung

thêm các giấy tờ sở hữu và các giấy tờ khác tùy vào loại tài sản bảo đảm. Sau đó,

cán bộ tín dụng sẽ đến tận nơi để thẩm định mục đích vay và khả năng hồn trả của

khách hàng. Nếu mọi vấn đề đúng theo thỏa thuận vay ban đầu thì hai bên sẽ kí kết

hợp đồng tín dụng.

Với tình hình nợ xấu cho vay BĐS cho KHCN như hiện nay của

SAIGONBANK, tuy vẫn duy trì ở mức chấp nhận được, nhưng ngân hàng vẫn cần

phải cẩn trọng trước mọi quyết định giải ngân hay đầu tư của mình. Tình hình thị

trường BĐS thì vẫn còn nhiều biến động, nền kinh tế tuy có những bước tiến lạc

quan nhưng vẫn chưa ổn định phát triển, trong thời gian này, PGD Thủ Đức phải

chú trọng hơn khi thẩm định các khoản vay mới. Vì ngân hàng chú trọng việc cho

vay với mục đích sử dụng vốn là tiêu dùng, nên công tác thẩm định thu nhập của

khách hàng cần được thực hiện kỹ lưỡng, cẩn trọng hơn. SAIGONBANK – PGD

Trang 15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

SAIGONBANK không có quy trình tín dụng riêng cho lĩnh vực cho vay BĐS, thẩm quyền xét duyệt và cho vay BĐS cũng tuân thủ theo quy trình tín dụng chung của ngân hàng. Do đó, quy trình cho vay BĐS cho KHCN cũng giống với quy trình cho vay KHCN, bao gồm 18 b

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×