Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:

Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Rèn cho học sinh kĩ năng quan sát và ghi chép.

- Làm giàu vốn từ cho học sinh.

- Luyện kĩ năng sử dụng từ ngữ, đặt câu, sử dụng biện pháp nghệ thuật trong

văn miêu tả.

- Cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả nói chung và tả cảnh

nói riêng.

2.2. Một số biện pháp để giải quyết các vấn đề.

Từ kinh nghiệm dạy học của mình, tôi xin đưa ra một số biện pháp để giải

quyết các vấn đề được nêu ở trên giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh như sau:

a. Rèn luyện kĩ năng quan sát cho học sinh.

- Đối tượng của văn miêu tả là những sự vật, sự việc, là thế giới thiên nhiên,

là con người và cuộc sống con người. Đó là một thế giới hết sức đa dạng, phức

tạp và sống động diễn ra quanh ta, thay đổi từng giờ, từng ngày. Vậy không phải

tự nhiên mà học sinh hiểu và nắm được đặc điểm của từng sự vật, sự việc, từng

con người để miêu tả bản chất của nó vì vậy tơi u cầu học sinh phải thường

xuyên quan sát và ghi chép.

- Đối với các em học sinh, khi làm văn miêu tả thì kĩ năng quan sát và ghi

chép những điều đã quan sát được là một trong những việc làm rất cần thiết. Vì

nếu không được quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng thì sẽ xảy ra tình trạng

bịa đặt hình ảnh trong bài, khiến cho những hình ảnh ấy thiếu tính chân thực

hoặc hết sức vơ lí. Nên tơi thường xun tổ chức cho các em quan sát đối tượng

miêu tả qua các tiết học ngoài trời, quan sát thực tế với những bài văn tả cảnh

đẹp quê hương, trường lớp,…

- Muốn quan sát có hiệu quả thì tơi hướng dẫn các em quan sát phải có tính

mục đích, khi các em quan sát phải có cách nghĩ, cách cảm nhận của riêng mình.

Quan sát để làm văn nhằm phản ánh một đối tượng cụ thể, vừa chi tiết, vừa có

tính khái quát. Qua việc quan sát chi tiết tỉ mỉ, học sinh sẽ thấy được bản chất

của sự việc. Nhưng quan sát phải có lựa chọn. Khi quan sát, tơi yêu cầu các em

-6-



tránh những chi tiết rời rạc, tản mạn, mang tính chất liệt kê. Miêu tả một cách

chi tiết nhưng mà phải chọn lọc, lựa chọn những điểm riêng biệt, nổi bật, gây ấn

tượng,… Đó là những chi tiết lột tả được cái thần của cảnh. Tôi cũng yêu cầu

học sinh quan sát kèm ghi chép lại những hình ảnh quan sát được một cách

đầy đủ.

- Ban đầu tơi hướng dẫn học sinh quan sát để tìm ra màu sắc, âm thanh, hình

ảnh tiêu biểu của sự vật và cảm xúc của mình đối với sự vật.

Khi quan sát, tơi khuyến khích các em cần sử dụng đồng thời nhiều giác

quan khác nhau:

+ Quan sát bằng mắt để nhìn ra hình khối sự vật.

+ Quan sát bằng tai để nhận ra âm thanh, nhịp điệu gợi cảm xúc.

+ Quan sát bằng mũi nhằm nhận ra những mùi vị tác động đến tình cảm.

+ Quan sát bằng vị giác, xúc giác để cảm nhận.

Nhờ cách quan sát này mà các em ghi nhận được nhiều ý, nhiều hình ảnh,

đoạn văn, bài văn đa dạng phong phú.

* Ví dụ: Đề bài “Em hãy tả một cơn mưa mùa hè.”

- Tôi hướng dẫn học sinh quan sát bằng các giác quan như sau:

+ Thị giác: Thấy những đám mây biến đổi trước cơn mưa, thấy hạt mưa rơi,

thấy cây cối, con người (trước, trong và sau cơn mưa)...

+ Xúc giác: Gió thổi làm xua tan cái nóng mà nhường chỗ cho luồng khí mát lạnh.

+ Thính giác: Nghe thấy tiếng gió thổi, tiếng mưa rơi, tiếng sấm, tiếng kêu

của ếch nhái...

- Bên cạnh đó, các em học sinh được tơi lưu ý: khi quan sát cần quan sát tỉ

mỉ. Muốn tìm ra ý hay cho đoạn văn, bài văn cần viết học sinh phải quan sát kĩ,

quan sát nhiều lần cảnh đó. Tránh quan sát qua loa sẽ khơng tìm ra ý hay cho bài

văn. Tôi nhấn mạnh cho các em các nội dung:

+ Cần xác định rõ vị trí, thời điểm, thời gian, trình tự quan sát.

-7-



+ Có thể quan sát từ cụ thể đến bao quát hoặc ngược lại.

+ Quan sát từ trong ra ngoài hoặc từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới…

+ Quan sát theo trình tự không gian (từ xa đến gần hay từ gần đến xa).

+ Quan sát theo trình tự thời gian (theo các thời điểm trong ngày, theo mùa

trong năm…).

Tôi minh họa cho học sinh các cách quan sát đó qua các bài tập đọc để các

em hiểu hơn và có thể vận dụng các cách quan sát đó khi viết văn:

* Ví dụ 1: Quan sát từ ngoài vào trong để miêu tả cảnh Đền Hùng.

“Đền Thượng nằm chót vót trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh. Trước đền, những

khóm hải đường đâm bơng rực đỏ, những cánh bướm nhiều màu sắc bay dập

dờn như đang múa quạt xoè hoa. Trong đền dòng chữ vàng Nam Quốc Sơn Hà

uy nghiêm đề ở bức hoành phi treo chính giữa.”

* Ví dụ 2: Quan sát từ dưới lên trên để miêu tả cây hồi.

“Cây hồi thẳng, cao, tròn xoe. Cành hồi giòn, dễ gãy hơn cành khế. Quả hồi

phơi mình xoè trên mặt lá đầu cành” (Rừng hồi xứ Lạng).

* Ví dụ 3: Quan sát theo trình tự thời gian để miêu tả cây thảo quả.

“Thảo quả trên rừng Đản Khao đã chín nục. Chẳng có thứ quả nào hương thơm

lại ngây ngất kì lạ đến như thế. Mới đầu xuân năm kia, những hạt thảo quả gieo

trên đất rừng qua một năm, đã lớn cao đến bụng người. Một năm sau nữa, từ một

thân lẻ, thảo quả đâm thêm hai nhánh mới. Sự sinh sôi sao mà mạnh mẽ vậy.”

b. Làm giàu vốn từ cho học sinh:

Khi trực tiếp giảng dạy các tiết Tập làm văn tơi thấy các em học sinh ít tham

gia phát biểu. Lí do là các em khơng biết thể hiện ý của mình bằng câu văn nào,

hoặc khi viết câu văn còn diễn đạt lủng củng, chưa rõ nghĩa … bởi lẽ vốn từ của

các em còn q ít. Chính vì thế tơi dùng biện pháp làm giàu vốn từ cho các em

trong các giờ sinh hoạt câu lạc bộ và qua các phân môn Tập đọc, Luyện từ và

câu và từ các nguồn tài liệu sách, báo, truyện,….

-8-



- Làm giàu vốn từ qua phân môn Tập đọc: Số lượng từ ngữ miêu tả ở các bài

thơ, bài văn rất phong phú đồng thời cách sử dụng chúng rất sáng tạo nên khi

dạy Tập đọc tôi đã chỉ ra các từ ngữ miêu tả, cách sử dụng biện pháp tu từ, cách

đặt câu trong một vài trường hợp đặc sắc để phân tích cái hay, sự sáng tạo của

nhà văn khi dùng chúng. Việc phân tích này giúp các em tiếp cận đựơc với các

văn bản nghệ thuật, tiếp cận với kĩ năng viết văn một cách thường xuyên và có

chất lượng mà lại nhẹ nhàng khơng áp đặt.

- Hướng dẫn học sinh tích lũy vốn từ qua phân mơn Luyện từ và câu: Ở lớp

5 phân môn Luyện từ và câu là phân mơn có thể giúp học sinh làm giàu vốn từ

nhiều nhất. Đặc biệt là các tiết: Mở rộng vốn từ; Từ đồng âm; Từ nhiều nghĩa;

Từ trái nghĩa. Trong các tiết này có các bài tập mở rộng vốn từ rất cụ thể, thiết

thực như tìm từ, ghép từ, dùng từ đặt câu, sắp xếp các từ thành nhóm miêu tả

(nhóm miêu tả đặc điểm của cảnh vật, nhóm miêu tả hoạt động)... Tơi khuyến

khích các em tìm được càng nhiều từ theo yêu cầu càng tốt.

* Ví dụ 1: Tìm những từ ngữ miêu tả sóng nước. Đặt câu với một trong các

từ ngữ vừa tìm được

a. Tả sóng nước. M: ì ầm

b. Tả làn sóng nhẹ. M: lăn tăn

c. Tả đợt sóng mạnh. M: cuồn cuộn

( Bài tập 4 - SGK Tiếng Việt 5 - trang 78).

Để giúp các em làm giàu vốn từ của mình qua bài tập trên, tơi hướng dẫn các em

thực hiện như sau:

+ Cho học sinh đọc yêu cầu của bài.

+ Tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm để tìm từ, đặt câu ra phiếu học tập.

+ Gọi đại diện các nhóm báo cáo. Yêu cầu nhóm khác nhận xét theo các tiêu

chí sau: Những từ ngữ tìm được đã phù hợp với yêu cầu của từng nhóm từ chưa.

Câu văn đặt đã đúng chưa.

-9-



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×