Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tên sáng kiến:“Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 giải bài toán có lời văn theo mô hình trường học mới”

Tên sáng kiến:“Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 giải bài toán có lời văn theo mô hình trường học mới”

Tải bản đầy đủ - 0trang

TĨM TẮT SÁNG KIẾN

1. Hồn cảnh nảy sinh sáng kiến.

Như chúng ta đã biết, mơn tốn là một trong những mơn học quan trọng

trong chương trình tiểu học. Mơn tốn ở tiểu học bước đầu hình thành phát

triển năng lực trừu tượng hóa, khái qt hóa, kích thích trí tưởng tượng, gây

hứng thú học tập toán phát triển khả năng tư duy, suy luận biết diễn đạt đúng

bằng lời, góp phần rèn luyện phương pháp học tập. Bởi vậy việc giải tốn có

lời văn cần xác định rõ ràng ngay từ đầu cấp. Việc giải tốn có lời văn và kĩ

năng giải toán là nền tảng vững chắc cho các em học tốt ở lớp 2 và cả sau này.

Qua thực tế giảng dạy lớp 2 theo Mơ hình trường hoc mới tơi nhận thấy

"Giải tốn có lời văn" là mạch kiến thức khó nhất với học sinh. Vốn từ, vốn

hiểu biết và kĩ năng đọc hiểu, khả năng tư duy còn kém, chưa đáp ứng được

u cầu trình bày, kĩ năng suy luận và phân tích đề còn hạn chế. Với lí do trên

tơi đã chọn đề tài:

" Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 giải bài tốn có lời văn theo Mơ

hình trường học mới"

2.Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến.

- Về cơ sở vật chất: Có phòng học riêng,rộng rãi ,thống mát,đủ ánh sáng,bàn

ghế đúng quy cách, đầy đủ trang thiết bị dạy học...

- Về phía giáo viên: Giáo viên phải nắm vững chương trình,chuẩn kiến thức ,

kĩ năng,mục tiêu bài dạy...

- Về phía học sinh:Học sinh phải có đầy đủ sách vở.Xác định được nhiệm vụ

học tập.

- Về phía phụ huynh: Quan tâm tạo điều kiện tốt nhất cho con em học

tập.Thường xuyên phối hợp với giáo viên trong quá trình giáo dục con em

mình.

- Thời gian: Năm học: 2016 -2017.

- Đối tượng: Giáo viên dạy lớp 2 và học sinh lớp 2 ở các trường Tiểu học.

3. Nội dung sáng kiến



- Điều tra thực trạng kết quả đạt được của học sinh khối 2 về kĩ năng giải

tốn có lời văn.

- Tích cực đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với

mỗi tiết dạy trong từng hoạt động với các nội dung cụ thể:

+ Hướng dẫn học sinh hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc giải

tốn có lời văn. Tăng cường cho học sinh hoạt động thực hành,vận dụng kiến

thức làm tốt các bài tập.

+ Đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của học sinh.

Qua quá trình giảng dạy và thực hiện giải pháp này với lớp 2 tôi chủ

nhiệm, tôi thấy các em đã làm quen với phương pháp học mới và đã đi vào nề

nếp học tập. Trong tiết học tôi thấy nhẹ nhàng hơn, tất cả các đối tượng học

sinh trong lớp đã biết trình bày hồn chỉnh bài tồn có lời văn. Nhiều em học

khá giỏi có câu trả lời sáng tạo phù hợp với yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng.

4. Kết quả đạt được.

- Năm học 2016 -2017 tôi đã và đang thực hiện , áp dụng thành công kinh

nghiệm này tại trường nơi tôi công tác. Tôi cũng đã chia sẻ với các đồng

nghiệp trong khối cùng thực hiện và bước đầu cũng đã gặt hái được những

thành công nhất định.

5. Đề xuất , kiến nghị

- Giáo viên cần nắm vững nội dung chương trình của mơn học và chuẩn kiến

thức kĩ năng. Tích cực nghiên cứu đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức

dạy học phù hợp với đối tượng hoc sinh.

- Các nhà trường, phòng giáo dục đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường chuyên đề

, hội thảo, hội giảng, báo cáo kinh nghiệm hay đẻ giáo viên có điều kiện học

tập nâng cao trình độ,chun mơn nghiệp vụ.



MƠ TẢ SÁNG KIẾN

1. Hồn cảnh nảy sinh sáng kiến

Mơ hình trường tiểu học mới tại Việt Nam (Dự án GPE- VNEN) được áp

dụng từ năm học 2010 - 2011 tại một số địa phương, hiện nay được mở rộng

cả nước. Dự án về trường học kiểu mới nhằm xây dựng mô hình nhà trường

tiên tiến, hiện đại phù hợp với mơi trường phát triển và đặc điểm của giáo dục

Việt Nam hiện nay. Năm học 2016 – 2017, trường chúng tôi là 1 trong 6

trường của huyện tham gia dạy thí điểm theo Mơ hình trường Tiểu học mới

(VNEN) đối với khối 2, 3 .

Đây là mơ hình khơng những đổi mới về tổ chức lớp học, về trang trí lớp

mà quá trình dạy học cũng được đổi mới từ dạy - học cả lớp sang dạy - học

theo nhóm. Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, tăng cường phát huy tính

tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Lấy học sinh làm trung tâm trong

các hoạt động dạy học giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức và tạo mọi điều

kiện tốt nhất để mọi học sinh được tham gia vào quá trình học tập. Học sinh

được học ở mơi trường học tập thân thiện, thoải mái, khơng gò bó, gần gũi

bạn bè thầy cơ, được sự giúp đỡ của bạn bè trong nhóm, trong lớp và thầy cơ

giáo. Ngồi ra mơ hình trường Tiểu học mới còn giúp học sinh rèn phương

pháp: “Tự học, tự giác, tự quản, tự trọng, tự tin, tự đánh giá, tự hợp tác” rèn

luyện kỹ năng, vận dụng kiến thức vào thực tế, nhằm nâng cao chất lượng

giáo dục toàn diện.

Như chúng ta đã biết, mơn tốn là một trong những mơn học quan trọng

trong chương trình tiểu học. Mơn tốn ở tiểu học bước đầu hình thành phát

triển năng lực trừu tượng hóa, khái qt hóa, kích thích trí tưởng tượng, gây

hứng thú học tập toán phát triển khả năng tư duy, suy luận biết diễn đạt đúng

bằng lời, góp phần rèn luyện phương pháp học tập. Bởi vậy việc giải toán có

lời văn cần xác định rõ ràng ngay từ đầu cấp. Việc giải tốn có lời văn và kĩ

năng giải toán là nền tảng vững chắc cho các em học tốt ở lớp 2 và cả sau này.

Qua thực tế giảng dạy lớp 2 theo Mơ hình trường hoc mới tơi nhận thấy

"Giải tốn có lời văn" là mạch kiến thức khó nhất với học sinh. Vốn từ, vốn

hiểu biết và kĩ năng đọc hiểu, khả năng tư duy còn kém, chưa đáp ứng được



yêu cầu trình bày, kĩ năng suy luận và phân tích đề còn hạn chế. Với lí do trên

tơi đã chọn đề tài:

" Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 giải bài tốn có lời văn theo Mơ

hình trường học mới"

2.Cơ sở lí luận

- Người giáo viên muốn dạy tốt phải nắm vững chương trình, nắm vững

đặc trưng của mơn tốn, chuấn bị tốt các phương tiện, các đồ dùng cần thiết

cho tiết học. Ln chọn cho mình phương pháp dạy phù hợp nhất cho từng

bài tốn. Và bên cạnh đó người giáo viên phải nắm vững phương pháp dạy

học mới theo mơ hình trường học mới Việt Nam.

- Các em học sinh muốn học tốt thì trước hết phải tập trung học tập, phải

suy nghĩ kĩ và đọc đề toán nhiều lần. Tuy nhiên trong thực tế ý thức học tập

ở học sinh lớp 2 còn thấp, khơng chịu đọc đề vì các em còn nhỏ, đặc điểm

tâm sinh lý chưa ổn định, còn ham chơi. Việc dạy học theo mơ hình trường

học mới học sinh phải ngồi học theo nhóm nên các em các em dễ quay cóp

khi làm bài nên từ đó suy tính ỷ lại khơng chịu tập trung suy nghĩ.

- Những bài tốn có lời văn ở lớp 2 là những bài tốn thực tế, nội dung bài

tốn thơng qua những câu nói về những quan hệ tương đương và phụ thuộc,

có liên quan đến cuộc sống hằng ngày. Cái khó ở đây là làm thế nào để lược

bỏ những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất tốn học của bài tốn.Hay

nói một cách khác làm sao phải chỉ ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố

toán học chứa đựng trong bài văn và tìm ra được những câu lời giải, phép

tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bài tốn.

3. Thực trạng của vấn đề.

Qua một năm giảng dạy lớp 2 theo mơ hình trườn học mới, tơi nhận thấy

học sinh khi giải tốn có lời văn thường rất chậm so với các dạng bài tập

khác. Các em rất lúng túng khi viết câu lời giải tuy rằng các em biết ghi

phép tính đúng. Nhiều em nêu câu lời giải khơng phù hợp với u cầu đề

tốn đặt ra. Tất cả các nhóm khi làm đến dạng tốn có lời văn đều đưa thẻ

cứu trợ để giáo viên đến hướng dẫn.

- Để giải được các bài tốn có lời văn,trước hết các em phải có các kĩ năng

đọc, viết số, kĩ năng đặt tính, kĩ năng vận dụng các tính chất của phép tính,

kĩ năng tự kiểm tra.

- Tập cho học sinh từng bước biết xem xét các đối tượng tốn dưới nhiều

hình thức khác nhau và tập diễn đạt theo lời văn của mình.

- Hình thành cho học sinh làm quen với các thao tác tư duy, phân tích, tổng

hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa, cụ thể hóa, ...

- Hình thành và phát triển ở các em các năng lực quan sát, ghi nhớ, tưởng

tượng, tư duy qua bài toán.



- Việc đặt lời giải ngay từ lớp 1, lớp 2 đối với học sinh là một khó khăn lớn

với người giáo viên, do đó trong giờ học tốn bên cạnh việc tìm tòi và sáng

tạo tìm câu lời giải của học sinh thì mỗi giáo viên cần động viên và giúp đỡ

các em khi các em cần cứu trợ bằng cách dùng những câu hỏi gợi mở như:

Bài tốn cho biết gì? Bài tốn u cầu gì? Và dựa vào u cầu của đề tốn

mỗi em nêu lên lời giải. Trên thực tế chúng ta thấy vẫn còn nhiều em ghi câu

lời giải chưa đúng, chưa hay và cũng có một số em khơng ghi lời giải.

Nguyên nhân này không thể đổ lỗi cho học sinh mà phấn lớn là do phương

pháp dạy học, cách áp dụng cũng như truyền đạt của người giáo viên chưa

đạt u cầu.

- Trong giờ học Tốn, bên cạnh việc tìm tòi và sáng tạo phưong pháp dạy

phù hợp với yêu cầu bài học và đối tượng học sinh, mỗi giáo viên cần phải

giúp các em có phương pháp lĩnh hội tri thức Tốn học . Học sinh có

phương pháp học Tốn phù hợp với từng dạng bài Tốn thì việc học mới đạt

kết quả cao, Từ đó khuyến khích tinh thần học tập của các em cao hơn.

3.1 Thực trạng ban đầu của lớp 2B:

Đầu năm học 2016- 2017, tôi được phân cơng chủ nhiệm lớp 2B

Lớp 2B có 28 học sinh, trong đó có 14 em nữ.

Chất lượng đầu năm:

Toán: Giỏi: 10 em =35,7 % ; K: 12 em = 42,9% ;

TB: 5 em = 17,8.%; Y: 3 em = 10,7%

Tuy 100% các em có đầy đủ bố mẹ, có một em thuộc diện gia đình nghèo

và đa số các em là con gia đình nơng dân, cha mẹ ít quan tâm đến việc học

hành của con em mình. Thực sự đây là lớp mà GV chủ nhiệm nào khi gặp

cũng cần có sự quan tâm và lo lắng.

.Nhìn chung phụ huynh chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học

Tốn nói chung và việc giải tốn có lời văn nói riêng của học sinh nên phụ

huynh chưa có sự đầu tư đúng mức. Đầu năm học, đối với chương trình mơn

tốn lớp 2. Nhìn chung các em đều thực hiện được các phép tính cộng, trừ

có nhớ trong phạm vi 100, nắm được tên gọi, thành phần và kết quả phép

cộng, trừ, hay tìm x trong bài tốn, nhưng ở phần giải tốn có lời văn thì lớp

2B có 59,3% học sinh giải và trình bày được, 10% các em biết tóm tắt bài

tốn, ghi đúng lời giải nhưng thực hiện phép tính thì sai. 30,7% các em chưa

biết ghi lời giải của bài tốn, chưa có em nào có sáng tạo hay có lời giải hay

hơn, gọn hơn. Đặc biệt là những em trung bình, yếu, việc đọc, viết đã chậm

thì giải tốn có lời văn lại càng khó khăn hơn rất nhiều .

3.2 Về phía giáo viên:

Trong q trình dạy học theo mơ hình trường học mới người giáo viên chưa

có sự chú ý đúng mức tới việc làm thế nào để học sinh nắm vững được lượng

kiến thức, đặc biệt là dạng giải toán có lời văn. Nguyên nhân là do giáo viên



mới tiếp cận với chương trình dạy học theo kiểu mới này. Thời gian dành

nghiên cứu, tìm tòi những phương pháp dạy học mới này còn hạn chế. Bên

cạnh đó việc ý thức về tầm quan trọng của việc giải tốn có lời văn của các

em chưa đầy đủ. Từ đó dẫn đến tình trạng học sinh lên lớp 3 vẫn còn nhiều

em chưa ghi được lời giải và phép tính đúng cho một bài tốn.

3. 3 Về phía học sinh

Ngun nhân là do các em không hiểu hết các từ trọng tâm trong đề tốn để

phân tích, suy luận tìm ra cách giải. Bên cạnh đó một số em đọc còn chậm

khơng theo kịp tiến độ. Vì vậy khi gặp bài tốn có lời văn, đọc đề bài các em

chưa hiểu hết, chưa tư duy, chưa phân tích được đề bài. Các em còn mơ hồ

lúng túng làm việc còn áp dụng theo mẫu.

4. Phạm vi đề tài.

4.1. Trong đề tài này tôi hướng vào việc hướng dẫn học sinh giải bài tốn

có lời văn cho học sinh trong lớp nhất là những em yếu về mơn tốn. Giúp các

em có tư duy, kĩ năng tính tốn và kĩ năng phân tích đề, trình bày đúng bài

tốn có lời văn. Học sinh khơng còn lúng túng khi gặp những bài tốn có lời

văn.

* Hoạt động cá nhân: Học sinh tự đọc đề bài, tự phân tích đề và trình bày

được bài tốn có lời văn.

* Hoạt động nhóm: Sự hợp tác mỗi cá nhân trong nhóm, nhóm trưởng

điều khiển nhóm làm việc, hỗ trợ các bạn trong nhóm. Kiểm tra đánh giá lẫn

nhau, giúp bạn thi đua hoàn thành nhiệm vụ.

* Hoạt động lớp: Phát huy vai trò tự quản, tự giác làm việc của lớp. Giáo

viên là người tổ chức lớp, hướng dẫn, hỗ trợ khi cần thiết và quan tâm đến tất

cả các đối tượng học sinh.

4.2. Đề tài này được thực hiện ở lớp 2B, trường tiểu học đang vận dụng

Mơ hình trường tiểu học mới VN.

5. Thuận lợi - khó khăn

5.1. Thuận lợi

- Trường tơi đang trong giai đoạn thử nghiệm dạy học theo Mơ hình

trường học mới VN ở khối 2.



- Được sự quan tâm và giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, tạo mọi

điều kiện tốt để tơi hồn thành cơng việc của mình theo Mơ hình trường tiểu

học mới VN.

- Cơ sở vật chất tốt, đầy đủ. Trường lớp sạch sẽ, thân thiện.

- Bản thân tơi nhiệt tình, có tay nghề vững vàng và được tham gia đầy đủ

các lớp tập huấn về phương pháp, nội dung dạy học theo Mơ hình trường tiểu

học mới VN.

- Tài liệu học tập của học sinh được cấp phát đầy đủ, có màu sắc, tranh ảnh

đẹp thuận tiện cho dạy và học. Hoạt động học tập rõ ràng nên thu hút được sự

hứng thú học tập của học sinh.

- Đa số phụ huynh quan tâm đến việc học của con em. Phối hợp tốt giữa

gia đình, nhà trường và xã hội để giáo dục học sinh.

- Các em ngoan, chăm học, lễ phép, vâng lời.

- Ở lớp 1 bước đầu các em đã làm quen với dạng tốn có lời văn.

5.2. Khó khăn

- Qua khảo sát đầu năm và quá trình giảng dạy lớp 2 theo Mơ hình trường

học mới, tơi thấy học sinh còn hạn chế về kĩ năng giải tốn có lời văn như

sau:

- Các em từ lớp 1 lên lớp 2 chưa nắm chắc các bước giải tốn có lời văn,

chưa biết lựa chọn phép tính để giải bài tốn.

- Một số em chưa biết tóm tắt bài tốn.

6 Các giải pháp,biện pháp thực hiện.,

6.1. Giúp các em nắm được các bước giải tốn có lời văn, biết lựa chọn

phép tính để giải

6.1.1. Ơn lại các bước giải bài tốn có lời văn

Do ở lớp 1các em mới bước đầu làm quen với dạng tốn có lời văn, vì vậy

khi học đến lớp 2 và bài đầu tiên của dạng tốn có lời văn, tôi đã hướng dẫn

các em ôn lại kiến thức đã học, nêu được các bước giải một bài toán có lời

văn các em đã học.

Tơi cho học sinh thảo luận nhóm, làm vào phiếu bài tập.



Phiếu bài tập.

Câu 1: Để làm tốt bài tốn có lời văn bước đầu tiên em phải làm gì?

Câu 2: Muốn đặt lời giải đúng em cần dựa vào phần nào của bài toán?

Câu 3: Một bài tốn giải có lời văn đầy đủ gồm có mấy phần?

- Nhóm trưởng đọc từng câu hỏi cho cả nhóm nghe, mỗi em tự suy nghĩ tìm

ra câu trả lời của mình, sau đó nêu ý kiến của mình để nhóm thống nhất.

- Trong q trình học sinh thảo luận nhóm tơi quan sát các nhóm làm việc.

Nhóm nào gặp khó khăn giơ thẻ cứu trợ tơi đến nhóm đó hỗ trợ cho các em.

Bước 1: Tìm hiểu đề

Trước khi làm bài mỗi em đều phải tự đọc đề toán (những em đọc chậm,

giáo viên hỗ trợ học sinh thêm) để hiểu rõ đề bài.

Sau khi đọc đề, học sinh tìm hiểu đề tốn theo hệ thống câu hỏi trong

phiếu bài tập. Nhóm trưởng hỏi, các thành viên trả lời và thống nhất kết quả.

- Bài toán cho biết gì? (Những gì đã cho)

- Bài tốn hỏi gì? (Những gì cần phải tìm)

- Bài tốn thuộc dạng tốn gì?

Bước 2: Tóm tắt bài tốn

Tóm tắt bài tốn bằng hình vẽ, hoặc ngơn ngữ ngắn gọn, giúp học sinh

minh họa rõ hơn các mối quan hệ, tạo điều kiện thuận lợi để tìm phép tính giải

phù hợp.

Bước 3: Tìm lời giải

Muốn viết được câu lời giải đúng em cần dựa vào phần nào của bài toán?

(Muốn viết được câu lời giải đúng em cần dựa vào phần câu hỏi của bài tốn)

Bước 4: Tìm phép tính đúng

Muốn tìm ra được phép tính thích hợp, chúng ta cần chú ý tới các từ nào

trong bài toán? ( ta cần chú ý các từ trọng tâm trong các bài toán như: thêm,

bớt, tất cả, còn lại, nhiều hơn, ít hơn, chia thành ...)

Bước 5: Trình bày bài tốn hồn chỉnh



Tơi đọc câu hỏi cho các em thảo luận và trình bày trong nhóm, thống nhất

kết quả.

Một bài giải của bài tốn có lời văn, được trình bày đúng quy định gồm có

mấy phần? (Gồm có 3 phần: Câu lời giải, phép tính (với đơn vị viết trong

ngoặc và ở sau kết quả), đáp số (với đơn vị viết bình thường, khơng có ngoặc

đơn)).

Sau khi các em được ơn lại các bước giải tốn có lời văn, tơi u cầu mỗi

nhóm thảo luận và thống nhất viết lại 3 phần trong một bài giải tốn có lời

văn, rồi dán lên góc học tập để giúp các em nhớ cách làm bài.

Phần 1: Câu lời giải

Phần 2: Phép tính

Phần 3: Đáp số

6.1.2. Một số dạng toán thường học

6.1.2.1. Dạng toán "nhiều hơn"

Theo tài liệu hướng dẫn học Toán 2, tập 1A, bài 6: "Bài toán về nhiều hơn",

nhiệm vụ 4 trang 28 là: Bạn Hòa có 4 bơng hoa, bạn Bình có nhiều hơn bạn

Hòa 2 bơng hoa. Hỏi bạn Bình có mấy bông hoa? Khi dạy bài này tôi thấy

học sinh chỉ áp dụng được một phương pháp đó là làm theo mẫu có sẵn trong

tài liệu. Học sinh khó phát triển kĩ năng phân tích đề và tóm tắt bài tốn. Vì

vậy tơi đã thay đổi hình thức học tập bằng các bước cụ thể sau:

- Học sinh làm việc trrong nhóm.

Bước 1: Đọc đề và tìm hiểu đề bài tốn

- Đây là một bước rất quan trọng tơi đã nhắc nhở học sinh đọc đề bài toán

trong sách tài liệu, hướng dẫn học Toán 2 đọc nhiều lần trong nhóm để hiểu.

Tơi cho các nhóm thảo luận. Trong khi học sinh thảo luận tơi đến từng nhóm

hướng dẫn thêm, tuyên dương khen thưởng cá nhân, nhóm làm tốt bằng hình

thức trao hoa tạo hứng thú học tập cho học sinh.

Học sinh đọc đề bài, tìm hiểu đề, sau đó tự nêu cho nhau nghe theo hệ

thống câu hỏi sau:

+ Bài tốn cho biết những gì? (bạn Hòa có 4 bơng hoa, bạn Bình có nhiều

hơn bạn Hòa 2 bơng hoa)



+ Bài tốn hỏi gì? (Bạn Bình có mấy bơng hoa ?)

+ Bài toán thuộc dạng toán nào? (dạng toán nhiều hơn)

+ Tìm từ trọng tâm trong bài? (nhiều hơn)

+ Muốn biết bạn Bình có mấy bơng hoa ta phải làm phép tính gì? (phép

tính cộng).

- Khi học sinh làm việc trong nhóm tơi phải quan sát, nếu có nhóm nào giơ

thẻ cứu trợ tơi đến nhóm đó để hướng dẫn các em. Trường hợp có nhiều nhóm

cần cứu trợ thì tơi cho cả lớp cùng quay mặt lên bảng để tơi hướng dẫn.

Bước 2: Hướng dẫn các em tóm tắt bài toán

- Đây là bước diễn đạt đề toán ngắn gọn, tóm tắt đúng giúp các em có

cách giải dễ dàng hơn. Nhìn vào tóm tắt ta có thể định ra được các bước giải

toán.

- Tùy vào dạng toán, bài tốn mà tơi hướng dẫn các em tóm tắt một cách

phù hợp như bằng lời, bằng hình vẽ.

- Tơi đưa ra hệ thống câu hỏi gợi ý cho học sinh (sẽ làm rõ ở mục 2)

Tóm tắt bằng lời:



Tóm tắt bằng hình vẽ:



Hòa:.... bơng hoa



Hòa:



Bình nhiều hơn: ... bơng hoa



Bình:



Hỏi Bình: .....bơng hoa?

? bơng hoa

- Mỗi em tự chọn cách tóm tắt của mình, làm vào giấy nháp và sau đó trình

bày bài của mình cho nhóm nghe. Kết hợp, tôi đi kiểm tra, hướng dẫn thêm

cho các em và nghiệm thu kết quả.

Bước 3: Tìm lời giải đúng và cách ghi

Việc đặt lời giải đúng trong phần bài giải tôi để học sinh tự diễn giải, yêu

cầu viết ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, đúng ý, tôi lưu ý cho học sinh khi viết lời

giải, đầu câu viết hoa cuối câu có dấu hai chấm.

Học sinh tự suy luận từ câu hỏi của bài toán đến dữ kiện đã cho để tìm lời

giải của bài tốn, tơi gợi ý cho học sinh căn cứ vào câu hỏi cuối bài (Hỏi bạn

Bình có mấy bơng hoa?) hoặc dòng tóm tắt cuối cùng (hỏi Bình:.... Bơng



hoa?). Học sinh sẽ sửa lại câu hỏi thành câu lời giải hoàn chỉnh, lấy các từ

"Bạn Bình có ... bơng hoa" trong câu hỏi của bài tốn. Bỏ từ "mấy" sau đó

thêm chữ "số" vào vị trí chữ "mấy" và bỏ dấu "?" cuối câu hỏi thay vào đó

chữ " là", thêm dấu ":" ở cuối câu. Từ đó ta được lời giải của bài tốn, đó là:

"Bạn Bình có số bơng hoa là:"

Tơi khuyến khích các em đặt nhiều lời giải khác nhau mà vẫn phù hợp

với yêu cầu đề bài. Qua đó giúp các em tự tìm tòi, sáng tạo và rèn luyện óc

suy nghĩ linh hoạt, độc lập.

Chẳng hạn như:

- Bạn Bình có số bơng hoa là:

- Số bơng hoa của bạn Bình là:

- Số bơng hoa bạn Bình có là:

Bước 4: Tìm phép tính đúng và đáp số

Đây là bước suy luận để tìm cách giải bài tốn đúng và kết quả. Học sinh

có thể ghi sai phép tính hoặc không ghi tên đơn vị trong ngoặc đơn, viết đáp

số sai. Vì vậy tơi đã định hướng các em tìm từ trọng tâm trong bài, đó là từ

"nhiều hơn". Tơi hỏi các em suy nghĩ trả lời: Theo em "nhiều hơn" là làm

phép tính ? (Trong trường hợp này là phép tính cộng), lấy mấy cộng mấy?

Học sinh phải tự tư duy để tìm kết quả. Tơi đi đến từng nhóm để kiểm tra,

giúp đỡ học sinh. Nếu học sinh nào lúng túng tôi hướng dẫn thêm. Đối với

phần ghi đáp số, học sinh cũng thường nhầm lẫn, tôi hỏi thêm để các em nắm

chắc hơn, như: Bài toán hỏi gì? (Bạn Bình có bao nhiêu bơng hoa?). Vậy theo

em "Bạn Bình có bao nhiêu bơng hoa?"; (học sinh sẽ nêu "Bạn Bình có 6

bơng hoa), vậy "6" chính là kết quả của phép tính, chữ "bơng hoa" là tên đơn

vị. Khi viết phép tính, tên đơn vị viết vào trong ngoặc đơn, đáp số là kết quả

của phép tính, tên đơn vị không viết trong ngoặc đơn. Từ suy luận trên học

sinh có thể viết được phép tính và đáp số như sau:

4 + 2 = 6 (bông hoa)

Đáp số: 6 bơng hoa

Bước 5: Trình bày bài tốn hồn chỉnh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tên sáng kiến:“Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 giải bài toán có lời văn theo mô hình trường học mới”

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×