Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.3: Tác động của việc khai thác than và chế biến than

Hình 1.3: Tác động của việc khai thác than và chế biến than

Tải bản đầy đủ - 0trang

22



tới tài nguyên môi trường

* Môi trường đất

Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật

cạn, là nền móng cho các cơng trình xây dựng dân dụng, cơng nghiệp và

văn hóa của con người. Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người

sử dụng tài nguyên đất vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo

nguồn cung cấp lương thực thực phẩm. Nhưng với nhịp độ gia tăng dân

số và tốc độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị hố như hiện nay

thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng

bị suy thối, diện tích đất bình qn đầu người giảm. Riêng chỉ với ở Việt

Nam, thực tế suy thoái tài nguyên đất là rất đáng lo ngại.

Khai thác than là quá trình con người bằng phương pháp khai thác lộ

thiên hoặc hầm lò đưa khống sản từ lòng đất phục vụ phát triển kinh tế - xã

hội. Các hình thức khai thác bao gồm: khai thác thủ công, khai thác quy mô

nhỏ và khai thác quy mô vừa. Khai thác than, đặc biệt là khai thác lộ thiên

và đổ thải rắn làm biến đổi mạnh mẽ địa hình, tạo nên những khu vực địa

hình âm, dương xen kẽ. Cơng nghệ khai thác than lộ thiên đã tạo ra hàng

triệu m3 đất đá thải, tạo thành nguồn gây ô nhiễm môi trường (Đặng Thị Hải

Yến, 2009). Những bãi thải tạo thành dãy núi thải cao, khơng ổn định,

khơng được phủ xanh, góc dốc lớn ln xảy ra q trình sạt lở, xói mòn tạo

thành các mương xói. Khai thác lộ thiên ở các mỏ lớn và khai thác lộ vỉa đã

làm mất đi hàng nghìn hecta đất rừng và đất nơng nghiệp.

Ngồi ra, những bãi thải có độ cao 200 - 300 m cùng hoạt động

vận chuyển và đổ thải của những xe vận tải hạng nặng (30 - 40 tấn) hàng

ngày là nguồn bụi chủ yếu gây ô nhiễm môi trường khơng khí trong khu

vực (Đặng Thị Hải Yến, 2009). Chính sự hoạt động liên tục của các bãi

thải đã làm suy thoái cảnh quan thiên nhiên, suy thoái tài nguyên du lịch.

Bất cứ hình thức khai thác than nào cũng dẫn đến sự suy thối mơi

trường. Năm 2006 các mỏ than của Tập đồn Cơng nghiệp Than và



22



22



23



Khống sản Việt Nam đã thải vào môi trường tới 182,6 triệu m3 đất đá và

khoảng 70 triệu m3 nước thải từ mỏ (Hồ Sỹ Giáo, 2010).

Theo kết quả nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu sử dụng thực vật

để cải tạo đất bị ô nhiễm kim loại nặng tại các vùng khai thác khống

sản” của Viện Cơng nghệ mơi trường và Viện Sinh thái và tài nguyên sinh

vật (năm 2010): Kết quả phân tích từ các mỏ than núi Hồng (xã Yên

Lãng), mỏ thiếc tại xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cho

thấy tất cả các mỏ này đều là điểm nóng về ơ nhiễm, điển hình là mỏ

than núi Hồng và mỏ thiếc xã Hà Thượng bị ô nhiễm asen nghiêm trọng,

với hàm lượng asen trong đất gấp 17-308 lần tiêu chuẩn cho phép của

Việt Nam, thậm chí có nơi hàm lượng asen trong đất lên đến 15.146

ppm, gấp 1.262 lần quy định. Cũng theo kết quả nghiên cứu này, cả

nước có 5.000 mỏ và điểm quặng, trong đó có 1.000 mỏ đang được tổ

chức khai thác và đều là những điểm ô nhiễm kim loại đáng báo động

(Viện Công nghệ môi trường và Viện Sinh thái và tái sinh vật, 2010).

Kết quả của Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên cho thấy

có tới gần 85% số mẫu phân tích có hàm lượng các kim loại nặng Zn,

Cd, Pb, As vượt QCCP từ 1,02 đến 5,56 lần. Điển hình ở các mỏ than

Khánh Hòa, Phấn Mễ (Sở Tài nguyên và MT tỉnh Thái Nguyên, 2013).

Ô nhiễm do khai thác than đến môi trường đất thể hiện như sau:

Thứ nhất: Khai thác làm phá vỡ cấu trúc trạng thái ban đầu của

đất, làm biến đổi bề mặt đệm trong đó nhất là xáo trộn bề mặt đất, phá

hủy thảm thực vật kéo theo hiện tượng xói mòn, rửa trơi từ đó gây suy

thối mơi trường đất. Mơi trường chịu ảnh hưởng lớn nhất trong khu vực

mở moong khai thác là chất thải rắn, chất thải rắn không sử dụng được

cho các mục đích khác đã tạo nên trên bề mặt địa hình mấp mơ, xen kẽ

giữa các hố sâu và các đống đất đá. Đặc biệt ở những khu vực khai thác

thổ phỉ.

Thứ hai: Khai thác than thải ra một khối lượng lớn chất thải rắn

(đất đá), làm suy giảm diện tích đất, mất đất canh tác. Khai thác than dựa

23



23



24



trên công nghệ khai thác lộ thiên thường thải ra lượng đất đá rất lớn tạo

thành những bãi thải khổng lồ. Ví dụ như bãi thải Đèo Nai (Quảng Ninh),

có độ cao lên đến 200 m; bãi thải Cao Sơn có độ cao khoảng 150 m; bãi

thải Đơng Bắc Bàng Nâu cao 150m. Với độ cao nói trên thì các bãi thải

thường có dộ dốc lớn, khi trời mưa hiện tượng sạt lở đất đá là không

tránh khỏi từ đó gây sự vùi lấp đất đá xuống đường đi và diện tích xung

quanh khu vực bãi thải gây ra những tác động không nhỏ đến cuộc sống

của người dân trong vùng (Báo điện tử Quảng Ninh, 2011). Tại khu vực

Cẩm Phả, trước năm 1975 việc khai trường được mở rộng chủ yếu về

phía tây - nam (khoảng 100 ha) và phia tây (25 ha). Sau năm 1975 việc

khai trường và bài thải phát triển về phía bắc khoảng 435 ha, phía tâybắc và phía đơng 75 ha.

Ở Thái Ngun diện tích đất lâm nghiệp bị phá do khai thác than

là 671ha. Một số mỏ như mỏ than Núi Hồng có diện tích đất lâm

nghiệp bị phá là 274 ha và mỏ than Khánh Hòa là 100 ha. Diện tích đất

lâm nghiệp bị phá là do chiếm dụng đất để làm khai trường, bãi thải và

thải nước thải làm ô nhiễm đất nơng nghiệp (Nguyễn Trình, 2012).

Thứ ba: Hoạt động khai thác, vận chuyển, sàng tuyển và đổ thải

đất đá tạo ra lượng lớn nước thải kèm theo lượng dầu mỡ từ các

phương tiện vận chuyển đổ thải vào môi trường đất từ đó gây ơ nhiễm về

mặt lí hóa đất.

Bên cạnh đó, hoạt động khai thác than có những ảnh hưởng rất

lớn đến khả năng canh tác nông nghiệp tại các khu vực gần mỏ khai

thác. Ơ nhiễm mơi trường tại Đông Triều (Quảng Ninh) do khai thác than

đã làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng đất canh tác nơng nghiệp, ảnh

hưởng đến năng suất cây trồng. Ước tính thiệt hại do ô nhiễm môi

trường tại đây làm suy giảm 20% năng suất lúa toàn huyện (Báo điện tử

Quảng Ninh, 2011).

* Môi trường nước

Hầu hết các khu vực hoạt động khai thác mỏ và chế biến than và

24



24



25



môi trường nước bao gồm nước mặt, nước ngầm và nước biển ven bờ

đều bị ô nhiễm: pH thấp (axit yếu), nước đục, cặn lơ lửng cao, một số

kim loại nặng Zn, Cd, Hg... có hàm lượng vượt quá Quy chuẩn cho

phép.

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, nước ở các mỏ than

thường có hàm lượng các ion kim loại nặng, á kim, các hợp chất hữu cơ,

các nguyên tố phóng xạ... cao hơn so với nước mặt và nước biển khu

vực đối chứng và cao hơn QCVN từ 1- 3 lần (Viện Khoa học Công nghệ

mỏ, 2008).

Theo Báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) Quy hoạch

phát triển ngành than đến năm 2020, có xét đến năm 2030 của Bộ Tài

nguyên và Môi trường cho thấy các mối nguy hại do ô nhiễm nước thải từ

các mỏ than thuộc Tập đồn Cơng nghiệp than và Khống sản đã được

đặt ra cấp thiết.

Lượng nước thải từ mỏ phụ thuộc vào sản lượng khai thác than

từng năm. Dựa trên số liệu kê khai nộp phí bảo vệ mơi trường đối với

nước thải công nghiệp của các đơn vị thuộc ngành than, tổng lượng

nước thải từ mỏ (năm 2009) là 38.914.075m3. Con số này chưa phản ánh

đầy đủ vì chưa ai tính được lượng nước rửa trôi từ các bãi thải mỏ. Đối

với hai thơng số điển hình tác động đến mơi trường của nước thải mỏ là

độ pH và cặn lơ lửng, các kim loại nặng (sắt, mangan). Trong đó độ pH dao

động từ 3,1 đến 6,5, hàm lượng chất rắn lơ lửng cao hơn ngưỡng cho phép

từ 1,7 đến 2,4 lần. Vì thế, nước thải từ mỏ gây ra nhiều ảnh hưởng đến hệ

thống sông, suối, hồ vùng ven biển gây bồi lấp, làm mất nguồn thủy sinh,

suy giảm chất lượng nước. Đặc biệt, ô nhiễm tại vùng mỏ là ô nhiễm tích

lũy, cộng với tác động của nạn khai thác than trái phép trong thời gian dài,

dẫn đến tình trạng một số hồ thủy lợi ở vùng Đông Triều đã bị chua hóa,

ảnh hưởng đến chất lượng nước phục vụ nông nghiệp (Bộ Tài nguyên và

Môi trường, 2010).



25



25



26



Báo cáo kết quả quan trắc hiện trạng môi trường - Sở Tài nguyên

và Môi trường Thái Nguyên cho thấy nước sông Đu khơng đảm bảo

QCVN 08/2008/BTNMT, nhiều chỉ tiêu phân tích vượt quy chuẩn cho

phép. Nước moong mỏ than Bắc Làng Cẩm trong thời gian lấy mẫu thực

hiện dự án không đảm bảo tiêu chuẩn nước thải xả vào nguồn nước. Các

chỉ tiêu như CD, phenol đều vượt quy chuẩn cho phép. Kết quả khảo sát

cho thấy, một số nguồn tiếp nhận nước thải từ các mỏ khai thác than đã

bị axit hóa, hàm lượng sunfat cao, có tới 50% số mẫu lấy có hàm lượng

SO42- lớn hơn 1000 mg/l, giá trị pH nhỏ hơn 4. Một số mỏ, nước mặt bị ô

nhiễm dầu mỡ như mỏ than Phấn Mễ, Bá Sơn (Sở Tài nguyên và MT

tỉnh Thái Nguyên, 2013).

Theo khảo sát của Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh, tại các mỏ

khoáng sản, nhiều doanh nghiệp sử dụng thiết bị khai thác lạc hậu, chưa

đồng bộ nên hiệu quả khai thác, chế biến thấp, đầu tư thực hiện biện pháp

giảm thiểu tác động xấu đến mơi trường còn hạn chế. Qua khảo sát tại các

mỏ than và mỏ kim loại, mơi trường nước mặt xung quanh các mỏ đã có

dấu hiệu ơ nhiễm, có nơi ơ nhiễm trầm trọng. Điển hình như tại khu vực

suối Thác Lạc (huyện Đồng Hỷ) đã bị ô nhiễm chất rắn lơ lửng; suối Nghinh

Tường - Sảng Mộc (huyện Võ Nhai) cũng bị ô nhiễm chất rắn lơ lửng và ô

nhiễm các yếu tố kim loại; suối Cốc (thành phố Thái Ngun) ngồi ơ nhiễm

chất rắn còn bị ơ nhiễm dầu mỡ.

Phương pháp khai thác tại các mỏ hiện nay chủ yếu là khai thác lộ

thiên bằng cơ giới hoặc thủ cơng. Yếu tố chính gây tác động đến môi

trường là ở các khai trường mỏ và trên đường vận chuyển nguyên liệu,

bãi thải làm phát sinh nước thải. Tại một số mỏ đã gây ra những hậu quả

nghiêm trọng về ô nhiễm nguồn nước, do nước thải của mỏ trong q

trình sản xuất khơng được xử lý đã làm chết hoa màu của nhân dân.

Nhiều khu vực bãi thải khơng có các cơng trình xử lý đã bồi lấp ruộng

vườn, làm ô nhiễm nguồn nước (Mai Văn Tâm, 2005).



26



26



27



Ơ nhiễm mơi trường nước tại các khu mỏ than đang là vấn đề

đáng lo ngại. Nhiều khu vực khai thác mỏ đã gây ra những vấn đề

nghiêm trọng về ô nhiễm nguồn nước do nước thải của mỏ trong q

trình sản xuất khơng được xử lý. Thành phần và tính chất nước thải

thường có tính axít, có chứa kim loại nặng, khống chất… Kết quả quan

trắc quí I, II năm 2009 tại Quảng Ninh cho thấy độ pH của nước thải mỏ

than dao động từ 3,1 - 6,5, hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) vượt tiêu

chuẩn cho phép từ 1,7 - 2,4 lần, cá biệt có nơi vượt hơn 8 lần… Nước

thải mỏ phần lớn chưa qua xử lý (trước năm 2009 các công ty than của

TKV ở Quảng Ninh mới chỉ có 1 đơn vị có hệ thống xử lý nước thải mỏ)

và thải trực tiếp ra hệ thống sông suối gây ô nhiễm nguồn nước, bồi lấp

sông suối (Khúc Thị Điểm, 2011).

Một số tác động hóa học của khai thác than:

Thốt axit từ mỏ khai thác: Thoát axit từ mỏ khai thác là một q

trình tự nhiên, trong đó axit sulfuric được hình thành khí sulfua trong đá

tiếp xúc với khơng khí và nước. Khi số lượng lớn đá chứa các khoáng vật

sunfua được đào lên từ một mỏ lộ thiên hoặc lấy lên từ dưới lòng đất, nó

phản ứng với nước và oxy để tạo ra axit sulfuric. Axit được nước mưa

hay nước theo dòng chảy thốt ra khu vực mỏ và đổ vào các sông, suối

hoặc nước ngầm xung quanh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất

lượng nước.

Ô nhiễm kim loại nặng: Các kim loại như asen, coban, đồng, catimi,

bạc, chì, kẽm chứa trong đất đá khai thác hoặc mỏ ngầm lộ thiên tiếp xúc

với nước. Kim loại bị rửa trơi ra ngồi gây ơ nhiễm nguồn nước dưới hạ

lưu.

Ồ nhiễm do sử dụng hóa chất trong q trình xử lý quặng: Ơ nhiễm

hóa học xảy ra khi các hóa chất như axit sulfuric hoặc xyanua được sử

dụng trong các q trình xử lý, tuyển quặng đã gây ra rò rỉ, hoặc ngấm

vào nguồn nước mặt và nước ngầm gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời

sống con người và động vật (Sabahudin Smajiesl, 2009).

27



27



28



Điển hình khai thác than ở Quảng Ninh làm suy giảm chất lượng

môi trường nước và trầm tích biển: làm tăng độ đục, chất lơ lửng, vật liệu

chứa than và kim loại độc hại (Zn, Cu, Pb, As...). Ngồi chất thải dạng

khối còn có nước thải chứa nhiều hóa chất độc hại. Hậu quả đáng lo ngại

của hoạt động khai thác than ở Quảng Ninh là suy giảm chất lượng và

trữ lượng nước mặt, nước ngầm do bồi lấp sơng suối, hồ khi thốt nước

từ các moong và hầm lò.

Tại các vùng khai thác than đã xuất hiện những núi đất, đá thải cao

gần 200 m, thậm chí có những moong khai thác sâu khoảng 100 m. Để

sản xuất 1 tấn than, cần bóc đi từ 8 - 10 m 3 đất phủ, thải từ 1 - 3 m3 nước

thải mỏ (Viện Khoa học Công nghệ mỏ, 2008). Khối lượng chất thải rắn

và nước thải mỏ gây ô nhiễm nặng cho vùng mỏ. Một vài vùng ô nhiễm

đã đến mức báo động như Mạo Khê, ng Bí, Cẩm Phả,...

Kết quả phân tích nước thải năm 2011 tại một số khai trường trên

địa bàn các tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn cho thấy, nước thải

từ các mỏ thường chứa màu sắc cao, độ pH thấp. Nước thải tại các khai

trường khai thác mỏ Cọc Sáu, Cao Sơn, Mơng Dương, Mạo Khê, Vàng

Danh,… đều có hàm lượng chất lơ lửng cao hơn quy chuẩn. Hầu như

nước thải tại các mỏ than đều bị ô nhiễm mangan, vượt quá quy chuẩn

cho phép.

Số liệu phân tích tại một số điểm giếng nước tại 3 tỉnh còn cho

thấy, các giếng nước tại các điểm khu dân cư, khu mỏ than, có dấu hiệu

ô nhiễm amoni và coliform ở mức độ nhỏ, có xu hướng giảm. Ảnh hưởng

từ nước thải mỏ đã làm cho chất lượng nước mặt tại các điểm sông,

suối, hồ khu vực lân cận các mỏ than bị suy giảm. Trong đó, chất lượng

nước mặt tại Quảng Ninh có dấu hiệu ô nhiễm nặng hơn Thái Nguyên và

Lạng Sơn.

Hoạt động khai thác than từ thời thuộc địa, khai thác than trái phép

và khai thác than lộ thiên còn làm hạ thấp tầng chứa nước ngầm, làm suy

28



28



29



giảm trữ lượng nước và có nguy cơ bị axit hóa. Kết quả ở các điểm quan

trắc khu vực nhà dân xung quanh các mỏ than Mạo Khê, Hà Tu, Cọc Sáu

cho thấy, chất lượng nước ngầm tại khu vực Quảng Ninh đã bị ô nhiễm

amoni và vi sinh vật. Nước ngầm tại các điểm quan trắc khu vực mỏ than

Núi Hồng, Khánh Hòa, Na Dương thuộc Thái Nguyên và Lạng Sơn cũng

nằm trong tình trạng ơ nhiễm amoni và coliform.

Tương tự như vậy, chất lượng nước biển ven bờ tại một số cảng rót

than của các nhà máy tuyển than, bến rót than thuộc cảng than của các

công ty cũng bị ô nhiễm hoặc chớm ô nhiễm do cặn lơ lửng và mặc dù có

xu hướng giảm dần nhưng vẫn cao hơn giới hạn cho phép. Có những thời

điểm quan trắc khu vực Hòn Gai - Cẩm Phả (Quảng Ninh) xác định được

amoni vượt quá giới hạn tại vùng nuôi trồng thủy sản, bảo tồn thủy sinh.

Riêng dầu mỡ ven biển Quảng Ninh đã bị ô nhiễm từ mức độ nhẹ đến

nặng, hàm lượng dầu mỡ tại các điểm quan trắc bến rót than cảng than

vượt ngưỡng cho phép dùng cho vùng bãi tắm, thể thao dưới nước ở mức

độ nhỏ.

Theo Cục Bảo vệ môi trường, tổng lượng nước rửa trôi bề mặt và

nước thải hầm lò trong khai thác than khoảng 20 - 25 triệu m 3/năm, hầu

hết không được xử lý trước khi thải ra môi trường. Nước thải từ các bãi

thải tại mỏ than Hà Lầm có hàm lượng BOD vượt 5,7 lần, COD vượt 5,3

lần, TSS vượt 3,9 lần so với tiêu chuẩn cho phép. Tại mỏ Mông Dương,

hàm lượng Sunfua vượt 1,9 lần, TSS vượt 2,0 lần; mỏ Khe Chàm có hàm

lượng Mangan (Mn) vượt 2,8 lần; mỏ Dương Huy có hàm lượng chất rắn

lơ lửng (TSS) vượt 15,6 lần QCCP. Những chất độc hại này được xác định

là nguyên nhân tàn phá môi trường, gây ô nhiễm môi trường biển vịnh Hạ

Long. Nguy hiểm hơn, chúng có thể xâm thực gây nhiễm độc nguồn nước

phục vụ sinh hoạt và sản xuất.

* Mơi trường khơng khí

Hiện nay, tại nhiều khu vực ở Việt Nam, các hoạt động khai thác than

29



29



Tải tài liệu bản đầy đủ tại: https://goo.gl/T770wH

Tải tài liệu bản đầy đủ tại: https://goo.gl/T770wH

Tải tài liệu bản đầy đủ tại: https://goo.gl/T770wH



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.3: Tác động của việc khai thác than và chế biến than

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×