Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.1: Biểu đồ thể hiện sản lượng khai thác than của 10 quốc gia

Hình 1.1: Biểu đồ thể hiện sản lượng khai thác than của 10 quốc gia

Tải bản đầy đủ - 0trang

15



chủ yếu của nước này. Hàng năm, Hoa kỳ đầu tư cho công nghệ khai

thác than lên đến 350 tỉ USD và hiện đang khai thác trên 75.000 mỏ. Với

công nghệ, kĩ thuật và số lượng mỏ lớn như vậy mỗi năm nước này có

thể khai thác được khoảng trên dưới 1 tỷ tấn than nguyên khai, năm

2003 khoảng 1 tỷ tấn và đến năm 2004 là 1,2 tỷ tấn (Mai Thanh Tuyết,

2010). Năm 2007, sản lượng khai thác than của Hoa Kỳ là 1,146 tỷ tấn,

chiếm 16,1% sản lượng thế giới. Năm 2009, sản lượng khai thác than

của Hoa Kì là 596,9 triệu tấn đứng thứ hai trên thế giới.

Tại Trung Quốc do nhu cầu tiêu thụ than trong nước và xuất khẩu

ngày càng tăng, chính sách của nước này là cho phép đẩy mạnh ngành

công nghiệp khai thác than. Tính đến năm 2006, ngành cơng ngiệp than

của Trung Quốc đã khai thác được khoảng 2,4 tỉ tấn than nguyên khai,

đây là sản lượng khai thác lớn nhất từ trước đến nay. Năm 2007, sản

lượng khai thác là 2,796 tỷ tấn, chiếm 39,5% sản lượng thế giới. Đến

năm 2009, sản lượng khai thác là 1,415 tỷ tấn đứng đầu trên thế giới.

Tuy nhiên, so với các năm trước (2006, 2007) thì sản lượng khai thác

than giảm (Sàn giao dịch mọi nhà, 2009).

Khai thác than hiện nay đang là ngành cơng nghiệp mang lại lợi

ích kinh tế rất cao, đóng góp một phần khơng nhỏ vào sự phát triển

kinh tế của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, hậu quả do hoạt động khai thác

than để lại là những vấn đề quan tâm trong những năm gần đây: Vấn

đề ô nhiễm, các sự cố, rủi ro về môi trường do khai thác và nạn khai

thác than trái phép tại nhiều nước có trữ lượng than lớn. Chỉ tính riêng

Trung Quốc, nước có trữ lượng than đá (chiếm 12,6 % tổng trữ lượng

than đá) đứng thứ ba trên thế giới, nạn khai thác than trái phép đang

diễn ra bên ngồi tầm kiểm sốt của nhà chức trách nước này. Theo

số liệu thống kê, hàng năm ngành than Trung Quốc phải gánh chịu,

khắc phục hậu quả của hàng trăm vụ sập lò do khai thác than trái phép

và do công nghệ khai thác không đảm bảo an tồn cho cơng nhân mỏ.



15



15



16



Năm 2004, cơng nghệ khai thác than Trung Quốc đã cướp đi sinh

mạng của 6.000 người (Hải Ninh, 2008).

Như vậy, hoạt động khai thác than trên thế giới đang diễn ra mạnh

mẽ trong những năm gần đây, cung cấp phần lớn nhiên liệu cho các

ngành công nghiệp và phục vụ cuộc sống con người. Cùng với sản

lượng khai thác tăng thì thế giới cũng đang phải gánh chịu những hậu

quả nặng nề do hoạt động khai thác than để lại, đặc biệt là vấn đề ô

nhiễm môi trường.

b. Ảnh hưởng của hoạt động khai thác, chế biến than đến môi

trường trên thế giới

Trên thế giới đã có rất nhiều quốc gia, tổ chức như: Tổ chức Y tế

Thế giới (WHO), Ngân hàng Thế giới (WB), Cục bảo vệ Môi trường Mỹ

(US EPA), các viện nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá ảnh

hưởng của chất thải trong ngành khai thác than đến môi trường cũng

như sức khỏe con người một cách rất bài bản và đưa ra các kết quả, kết

luận sâu sắc. Trong số đó có kết quả nghiên cứu của Viện BlackSimth

(BlackSimth Institute), New York, Hoa Kỳ, Viện này đã có hàng loạt các

dự án nghiên cứu về hiện trạng chất lượng mơi trường đất, nước, khơng

khí xung quanh các khu vực mỏ khai thác than lớn trên thế giới, từ đó

đưa ra các giải pháp hỗ trợ (cơng nghệ và tài chính) nhằm giảm thiểu suy

thối, nâng cao chất lượng môi trường tại các khu vực này. Một số kết

quả nghiên cứu cụ thể như sau:

- Sông Hằng là con sông nổi tiếng nhất Ấn Độ, dài 2.510 km bắt

nguồn từ dãy Himalaya, chảy theo hướng Đông Nam qua Bangladesh và

chảy vào vịnh Bengal. Hiện nay, sông Hằng là một trong những con sông

bị ô nhiễm nhất trên thế giới vì bị ảnh hưởng nặng nề của nền cơng

nghiệp hóa chất, rác thải cơng nghiệp và đặc biệt là hoạt động khai thác

khống sản phía thượng lưu. Các nghiên cứu cũng phát hiện tỷ lệ các

kim loại độc trong nước sơng tại khu vực khai thác khống sản khá cao

như chì (10-800 ppm), crom (10-200 ppm) và nickel (10-130 ppm).

16



16



17



- Tại mỏ than của công ty Massey Energy, Bang Virginia, Hoa Kỳ,

nhóm nghiên cứu đã đo được giá trị TSS trong nước sơng tại khu vực

gần đó cao gấp từ 500 đến 1500 lần tiêu chuẩn cho phép, lượng bùn

than tại đáy sông cao 9 m trong tổng độ sâu trung bình của sơng là 12 m

(Hồ Sỹ Giao, Bùi Xuân Nam, Mai Thế Toản, 2010).

Tại Lâm Phần (Trung Quốc), số người bị ảnh hưởng do khai thác

than khoảng 3 triệu. Thành phố Lâm Phần được mệnh danh là "đô thị

màu nhọ nồi" thuộc tỉnh Sơn Tây, trung tâm của ngành khai thác than đá

ở Trung Quốc. Hàng nghìn mỏ than, cả hợp pháp và không hợp pháp,

xuất hiện nhan nhản trên những ngọn đồi quanh thành phố, nên bầu

khơng khí nơi đây ln dày đặc khói và muội đen do hoạt động sử dụng

than gây ra. Tại Lâm Phần, khơng thể phơi quần áo ngồi trời vì nó sẽ

biến thành màu muội than trước khi khô. Cục bảo vệ mơi trường Trung

Quốc thừa nhận Lâm Phần có chất lượng khơng khí thấp nhất cả nước

(Yuanping Cheng, 2008).

Ở Sukinda (Ấn Độ), số người bị tác động do khai thác than khoảng

2,6 triệu. Có tới 60% nước sinh hoạt ở đây chứa crom hóa trị 6 với nồng

độ lớn hơn hai lần so với các tiêu chuẩn quốc tế. Một tổ chức y tế ở

Sukinda ước tính khoảng 84,75% số trường hợp tử vong tại các khu vực

khai thác ở Ấn Độ, do các bệnh liên quan tới crom hóa trị 6 gây nên, nơi

này luật pháp hầu như không tồn tại (Đặng Thị Hải Yến 2009).

Nhu cầu tiêu thụ lớn của hoạt động khai thác than cũng gây ảnh

hưởng đến nguồn cung cấp nước. Ở Tamil Nadu phía Nam Ấn Độ từ năm

2005-2006, ước tính tại các mỏ khai thác than non Neyveli có 40 triệu lít

nước được bơm và thải ra hàng ngày (Đặng Thị Hải Yến, 2009). Phần lớn

tại các khu vực khai khoáng ở Ấn Độ, người dân đều nhận thấy sự khan

hiếm nước nghiêm trọng do khai thác khoáng sản. Cộng đồng địa phương

ở Philippin lo sợ rằng ô nhiễm và hiện tượng lắng đọng trầm tích ở các con

sơng do khai thác khống sản có thể làm suy giảm nguồn nước, giảm năng

suất lúa gạo và thủy sản.

17



17



18



Ơ nhiễm mơi trường tại khu vực mỏ khai thác than đang là những

vấn đề lớn cho các nhà chức trách ở nhiều quốc gia đang khai thác và sử

dụng loại tài nguyên nhiên liệu này. Tại Hoa Kỳ, khai thác than là một

trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra ô nhiễm môi trường. Theo số

liệu thống kê cho thấy, hoạt động khai thác than tại nước này hàng năm

thải khoảng 60% lượng khí S02, 33% lượng Hg, 25% lượng khí N0x và

33% thán khí trên tổng số ơ nhiễm khơng khí tồn quốc (Mai Thanh

Tuyết, 2010). Vậy, chúng ta thấy dù có những thuận lợi rất lớn về kĩ thuật

cũng như công nghệ trong khai thác nhưng ngành than Hoa Kỳ vẫn phải

gánh chịu những hậu quả xấu do hoạt động khai thác than để lại đó là

vấn nạn ơ nhiễm mơi trường.

1.2.2. Tình hình khai thác và ảnh hưởng của hoạt động khai thác,

chế biến than đến mơi trường tại Việt Nam

a. Tình hình khai thác than tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, do mức tiêu thụ than trong nước và

xuất khẩu ngày càng lớn nên sản lượng khai thác than hàng năm tăng rõ

rệt. Chỉ riêng khối doanh nghiệp thuộc TKV, sản lượng khai thác đã đẩy

mạnh ở mức cao. Năm 2002, TKV khai thác được 14,8 triệu tấn than.

Năm 2003, TKV đã khai thác được 20 triệu tấn than nguyên khai, tiêu thụ

18,2 triệu tấn, hoàn thành trước hơn 2 năm chỉ tiêu sản lượng than của

năm 2005 trong kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 mà Đại hội Đảng toàn quốc

lần thứ IX đã đề ra. Năm 2006, TKV đã sản xuất và tiêu thụ xấp xỉ 37

triệu tấn than, vượt gần 7 triệu tấn so với quy hoạch phát triển ngành

Than mà Chính phủ phê duyệt đến năm 2020. Năm 2007, ngành than

nước ta lại tiếp tục tăng sản lượng khai thác, kết quả sản lượng khai thác

sáu tháng đầu năm đạt khoảng 22,8 triệu tấn trong đó tiêu thụ 20,2 triệu

tấn, tăng 13% so với cùng kì năm 2006 (Báo điện tử tỉnh Quảng Ninh,

2011). Tốc độ khai thác than tăng hầu hết ở các vùng mỏ than, đặc biệt là

vùng bể than Quảng Ninh.

Thống kê hiện nay cho thấy, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 41 đơn

vị khai thác than và 7 đơn vị sàng tuyển than, chế biến than thuộc TKV.

18



18



19



Ngồi ra, còn 2 đơn vị là Công ty liên doanh PT Vietmindo Energitama và

Công ty Xi măng và Xây dựng Quảng Ninh khai thác trong ranh giới mỏ của

TKV. Quảng Ninh tập trung 67% trữ lượng than tồn quốc, chủ yếu là than

antraxít, sản lượng than mỡ rất thấp - khoảng 200 ngàn tấn/năm. Quảng

Ninh có 7 mỏ than hầm lò sản xuất với công suất trên dưới 2 triệu tấn than

nguyên khai/năm, chiếm hơn 45% tổng sản lượng khai thác than của TKV

và có 5 mỏ lộ thiên lớn sản xuất với cơng suất trên 2 triệu tấn than nguyên

khai/năm là Cọc Sáu, Cao Sơn, Hà Tu, Đèo Nai, Núi Béo, cung cấp đến

40% sản lượng cho TKV (Sàn giao dịch mọi nhà, 2009).

Ngoài ra, sản lượng khai thác than cũng tăng lên ở một số tỉnh

khác như Thái Nguyên. Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, các đơn vị khai

thác than quy mô lớn có mỏ than An Khánh, mỏ than Núi Hồng, mỏ than

Bá Sơn,…

Than Khánh Hòa: Cơng ty bắt đầu hoạt động từ năm 1949 với diện

tích mặt bằng sản xuất khoảng 1.845.498 m2, công suất khai thác than

nguyên khai khoảng 500 tấn/năm.

Theo thống kê năm 2010 của bộ phận Năng lượng khảo sát, kết thúc 2009

Việt Nam có lượng dự trữ than đá là 150 triệu tấn, đưa vào sản xuất được 45 triệu

tấn, chiếm 0,73% tổng số thế giới (Báo cáo ngành than, 2011). Từ những năm

trước Việt Nam chủ yếu sản xuất than để xuất khẩu, tuy nhiên đến năm 2010 kế

hoạch này đã thay đổi, hạn chế xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu than trong nước.

Sản lượng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam từ năm 2003 - 2009 như sau:



19



19



20



Hình 1.2: Sản lượng và xuất khẩu than Việt Nam

(Nguồn: Bộ Công thương, 2011)

Biểu đồ trên cho thấy lượng than sản xuất ra trong 3 năm trở lại đây khá

đều khơng có nhiều sự đột biến, nhưng lượng than xuất khẩu gần bằng 50% lượng sản

xuất được là một thực trạng đáng lo ngại cho ngành than Việt Nam.

Cũng trong thời gian thống kê này, sản lượng tiêu thụ than của Việt Nam

tăng 119,89%. Hiện tại than Việt Nam phục vụ cho các ngành sản xuất chính là

điện, xi măng, giấy, phân bón và phục vụ xuất khẩu. Ngành điện hiện tiêu thụ tới

32% sản lượng tính hết 7 tháng đầu năm 2009.

b. Ảnh hưởng của hoạt động khai thác, chế biến than đến môi

trường tại Việt Nam

Khai thác khống sản nói chung và khai thác than nói riêng đã

mang lại những lợi ích to lớn cho các ngành kinh tế, song cũng làm tổn

hại không ít tới môi trường. Công nghiệp khai thác than tạo ra nguồn

nhiên liệu có tính quyết định sự tồn tại các nhà máy nhiệt điện ở Phả Lại,

ng Bí, Cẩm Phả, Ninh Bình v.v..., ngành xi măng, luyện kim, hố chất,

cơ khí. Hoạt động của ngành kinh tế này còn thúc đẩy phát triển đô thị,

du lịch, thương mại, lâm nghiệp, phát triển cơ sở hạ tầng và đưa lại nhiều

phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cộng đồng dân

cư địa phương. Bên cạnh đó, hoạt động khai thác than đã gây ra những

20



20



21



biến đổi môi trường mạnh mẽ, làm ô nhiễm môi trường đất, nước và

khơng khí làm suy thối và tổn thất tài nguyên đất và rừng. Khai thác than

gây phá huỷ rừng, phá vỡ môi trường sinh thái, cạn kiệt nguồn nước, bồi

lấp dòng chảy, gây ra các thiên tai và tai biến mơi trường như hiện tượng

trượt lở, các dòng lũ bùn đá,... Sự biến động môi trường do hoạt động

khai thác than gây ra có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống, sức khoẻ của

công nhân mỏ và cộng đồng cư dân trong khu vực.



Hình 1.3: Tác động của việc khai thác than và chế biến than

21



21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.1: Biểu đồ thể hiện sản lượng khai thác than của 10 quốc gia

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×