Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Số nhân tài khóa

Số nhân tài khóa

Tải bản đầy đủ - 0trang

sản lượng và doanh thu, rồi lại dẫn đến một vòng tăng thu nhập và chi tiêu mới, và cứ như vậy.

Tác động cuối cùng của chính sách tăng chi tiêu của chính phủ là làm cho tổng thu nhập của nền

kinh tế tăng lên một lượng thậm chí còn lớn hơn cả lượng chi tiêu tăng thêm của chính phủ.

Người ta gọi đây chính là hiệu ứng của số nhân.

Bằng phép tốn đại số đơn giản chúng ta có thể xác định được số nhân tài khóa này.



Giả sử MPC = 0,8 và thuế suất t =25% thì ta tính được độ lớn của số nhân tài khóa sẽ m = 2,5

lần. Điều này có nghĩa là khi chính phủ tăng chi tiêu thêm 100 tỷ đồng thì tổng sản lượng thực

của nền kinh tế sẽ tăng lên 250 tỷ đồng.

Trong trường hợp khơng có thuế, tức t = 0, thì số nhân chi tiêu chính phủ sẽ có độ lớn là:

> 2,5 lần trong trường hợp có thuế 25%.

Điều này có nghĩa là trong trường hợp khơng có thuế thì số nhân chi tiêu sẽ lớn hơn so với

trường hợp có thuế.

Dựa theo nguyên tắc này, các bạn cũng có thể tự lập được số nhân thuế của chính phủ. Sau khi

các bạn lập được cơng thức số nhân thuế, bạn hãy so sánh nó với số nhân chi tiêu và cho nhận

xét thử nhé. Sẽ có nhiều điểm thú vị liên quan đến hai loại số nhân này. Trong thực tế, các tranh

cãi về việc lựa chọn cơng cụ chính sách tài khóa như thế nào để phát huy hiệu quả cao nhất cũng

phụ thuộc vào độ lớn của các số nhân được ước lượng.

9. Mơ hình Mundell-Fleming

Là một mơ hình kinh tế học vĩ mơ sử dụng 2 đường IS và LM để phân tích tác động của các

chính sách kinh tế vĩ mơ được thực hiện trong một nền kinh tế nhỏ, mở cửa và vốn di chuyển tự

do. Tuy nhiên tùy vào cơ chế tỷ giá thả nổi hay cố định mà chính sách tài khóa có những tác

động cụ thể như sau:

a. Tỷ giá hối đối thả nổi

Trong ngắn hạn, chi tiêu chính phủ tăng làm tăng chi tiêu hàng hóa trong nước, dẫn đến đồng nội

tệ lên giá so với ngoại tệ, làm giảm xuất khẩu và tăng nhập khẩu. Trong dài hạn, sự gia tăng của

tỷ giá hối đoái làm giảm xuất khẩu ròng, là nguyên nhân làm mất ảnh hưởng của sự mở rộng

tổng cầu trong nước về hàng hóa và dịch vụ. Đây gọi là tác động



lấ n át củ



a chính sách tài khóa.



b. Tỷ giá hối đối cố định

Trong điều kiện tỷ giá hối đối cố định thì chính sách mở rộng tài khóa của chính phủ sẽ làm

dịch chuyển đường IS sang phải. Để duy trì tỷ giá hối đối cố định thì ngân hàng trung ương

phải tăng cung tiền, làm dịch chuyển đường LM sang phải với quy mơ tương ứng.

II.



THỰC TRẠNG KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA

VIỆT NAM

1. Thực trạng kinh tế Việt Nam trước 2012



1.1 Tổng quan tình hình kinh tế

Giai đoạn sau khủng hoảng tài chính thế giới từ năm 2009 đến nay: Sau ảnh hưởng khủng

hoảng tài chính thế giới, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp quyết liệt nhằm chống suy giảm

kinh tế, ổn định vĩ mô. Giải pháp chủ yếu được áp dụng là chính sách tài khóa mở rộng, gồm

các gói kích cầu khác nhau: Gói kích cầu thứ nhất được triển khai trị giá 1 tỷ USD (17.000 tỷ

đồng) nhằm hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ; Gói kích cầu thứ hai, với tổng

nguồn vốn khoảng 8 tỷ USD, hỗ trợ lãi suất trung và dài hạn nhằm kích cầu đầu tư, phát triển

sản xuất. Mặc dù, nguồn thu (thu từ nội địa, thu từ xuất nhập khẩu) đều được cải thiện và tương

đối ổn định, song các gói kích cầu làm tỷ lệ bội chi ngân sách trong giai đoạn này tiếp tục tăng

cao (bình quân 5,17% trên 5% theo khuyến cáo của các tổ chức tài chính quốc tế

Với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, Việt Nam đã duy trì

tăng trưởng ở tốc độ 5,3% năm 2009, 6,75% năm 2010, và đạt mức 5,89% năm 2011. Dù tốc độ

tăng trưởng trong ba năm này thấp hơn mức trung bình trong cả thập kỷ trước, nhưng đây được

coi là thành công bởi những áp lực từ những diễn biến kinh tế bất lợi là rất lớn.



Tốc độ tăng trưởng này được nhìn nhận một phần là do tác động của gói kích cầu và các chính

sách tiền tệ mở rộng. Thực tế cho thấy trong năm 2010, khi các gói kích cầu tài khóa đã dừng lại

thì chính sách tiền tệ mở rộng tiếp tục được duy trì là nguồn thúc đẩy tăng trưởng. Đến nay, Việt

Nam liên tục phải đương đầu với những bất ổn kinh tế do chính những kéo dài và thiếu nhất

quán.

1.2 Diễn biến ngân sách và chính sách tài khóa

Năm 2011, các giải pháp và các quyết sách của chính phủ thiên về ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm

chế lạm phát và đảm bảo an sinh xã hội đã được thực hiện đồng bộ, kịp thời và quyết liệt. Thu

nội địa năm 2011 đạt 425.000 tỷ đồng, vượt 11,3% so dự toán, tăng 19,9% so với thực hiện năm

2010. Tất cả các mục thu đều thu vượt dự tốn.

Có ba ngun nhân chính khiến thu ngân sách vượt mức dự toán: Thứ nhất, đà phát triển tốt của

nền kinh tế trong những tháng cuối năm 2010, tạo nguồn thu gối đầu cho NSNN năm 2011 đạt

khá. Thứ hai, giá cả hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng tăng; Đồng thời, giá của dầu thơ tăng cũng

góp phần nâng cao mức thu ngân sách nhà nước từ dầu thơ lên hơn 25% so với dự tốn. Thứ ba,

việc triển khai quyết liệt công tác quản lý thu, tăng cường kiểm soát kê khai, đẩy mạnh thanh tra,

kiểm tra và đôn đốc thu nợ thuế, thu vào NSNN kịp thời các khoản thu.

Hoạt động chi ngân sách trong năm 2011 được kiểm soát chặt chẽ. Số dự án hoàn thành trong

năm 2011 đã tăng thêm 1.053 dự án, với khoảng 9.452 tỷ đồng được điều chuyển. Các bộ

ngành và địa phương thực hành tiết kiệm, cắt giảm 10% chi tiêu thường xuyên. Tuy nhiên, thực

tế chi ngân sách nhà nước vẫn tăng cao, với mức tăng 18,6% so với năm 2010 và cao hơn dự

toán 9,7%.

Bội chi NSNN đã tăng từ mức trung bình là 4,0% GDP giai đoạn 1996-2000 lên 4,9%

GDP giai đoạn 2001-2005 và giai đoạn 2006-2010 là 5,5% GDP. Năm 2011, tuy bội chi NSNN

đã được giảm xuống mức thấp nhất trong 3 năm trở lại đây song vẫn đang là mức cao cần phải

được tiếp tục cắt giảm hơn nữa để đảm bảo sự bền vững tài khóa trong trung và dài hạn.

Hình 2: Bội chi ngân sách ở Việt Nam 1996-2011



Nguồn: Bộ Tài chính

Bội chi NSNN liên tục và ở mức cao sẽ kéo theo sự gia tăng trực tiếp của dư nợ công. Khi huy

động nguồn vốn để bù đắp cho bội chi NSNN sẽ gián tiếp làm nợ công tăng. Nợ công tăng lên sẽ

kéo theo lãi phải trả tăng. Khi lãi phải trả tăng sẽ lại làm cho bội chi NSNN tăng. Chu trình này

sẽ trầm trọng hơn trong bối cảnh lãi suất cao, tăng trưởng thấp, hiệu quả sử dụng NSNN thấp.



Như vậy, trong năm 2011, chi ngân sách nhà nước chưa hồn thành nhiệm vụ thắt chặt chính

sách tài khóa.

 Đánh giá Chính sách tài khóa Việt Nam trước 2012:

Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB, 2011), chính phủ Việt Nam đã giải quyết khá quyết

liệt đối với các hiện tượng bất ổn kinh tế vĩ mô, nhưng nguyên nhân sâu xa của những bất ổn



chưa được giải quyết triệt để. Kết luận này dựa trên thực tế những bất ổn kinh tế vĩ mô diễn ra

lặp đi lặp lại trong thời gian ngắn. Trong giai đoạn 2007 – 2011, chính sách kinh tế xoay quanh

chu kỳ: thắt chặt nhằm cắt giảm lạm phát – nới lỏng nhằm thúc đẩy sản xuất – thắt chặt nhằm

đối phó với lạm phát.

2. Tình hình kinh tế và chính sách tài khóa của Việt Nam trong năm 2012

2.1. Lạm phát

Theo mục tiêu đề ra trong Nghị quyết của Quốc hội số 01 /NQ-CP ngày 03/01/2012, chỉ tiêu lạm

phát được đặt ra dưới 10%. So với mục tiêu này, lạm phát năm 2012 đã được thực hiện rất tốt ở

mức 6,81 %, thấp nhất từ năm 2007 tới nay.

Diễn biến CPI tháng trong năm 2012 theo chiều hướng tăng đầu năm, giảm giữa năm, tăng cuối

năm.

Những năm gần đây, CSTK cho thấy sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của cơ quan

hoạch định CSTK:

- Thâm hụt ngân sách đã giảm suốt từ năm 2009 đến nay (2009: -6,9%; 2010: -6,2%; 2011: -4,9%:

2012: -4,8%).



- Chi cho đầu tư phát triển đã có xu hướng giảm so với trước đây nhờ một loạt các hoạt động cắt

giảm chi tiêu công trong năm 2011.

- Tỷ trọng vốn đầu tư khu vực nhà nước trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã giảm từ 36,4% năm

2011 xuống còn 33,5% trong 9 tháng 2012.

2.2. Tăng trưởng kinh tế

Năm 2012, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là 5,03%, thấp nhất trong một thập kỷ qua.

Các chính sách kiềm chế lạm phát gây hiệu ứng phụ là tăng trưởng kinh tế bị suy giảm và trong

bối cảnh suy giảm chung của kinh tế tồn cầu. Khu vực nơng, lâm nghiệp và thủy sản tăng

2,72%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,42%.

Sự chững lại của tốc độ tăng trưởng do các nguyên nhân sau:



- Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

- Việt Nam phụ thuộc vào mơ hình kinh tế dựa vào tài nguyên, vốn và số lượng lao động chất

lượng chưa cao.

- Tính bất ổn định của nền kinh tế thế giới và bản thân nền kinh tế Việt Nam còn rất lớn. Bản thân

Việt Nam cũng tồn tại các bất ổn thể hiện qua chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô MII (Macroeconomic

Instability Index) và chênh lệch giữa GDP thực và GDP danh nghĩa.



- Tình hình tồn kho nhiều, sức tiêu thụ chậm, đặc biệt tồn kho trong lĩnh vực bất động sản đang là

trở ngại lớn dẫn đến tình trạng nợ xấu của nền kinh tế.

Nhà nước đã có nhiều quyết sách, nỗ lực để ngăn chặn đà tăng chậm lại như Nghị quyết 13 với

gói giải pháp trị giá 29.000 tỷ đồng nhằm giãn thời gian nộp thuế VAT, giảm tiền thuê đất, tái cơ

cấu nợ... Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa như kỳ vọng. Để đảm bảo tăng trưởng kinh tế, trước

hết, cần giải quyết hàng tồn kho vì tồn kho lớn ảnh hưởng đến DN, Người lao động và sức cầu

của nền kinh tế.

2.3 Thu chi ngân sách

2.3.1. Thu NSNN

Miễn, giảm, gia hạn một số khoản thu NSNN đối với một số loại hình DN và lĩnh vực sản xuất –

kinh doanh gồm :

- Gia hạn 6 tháng thời giạn nộp thuế giá trị gia tăng (VAT) của các tháng 4, 5 năm 2012 và gia hạn

9 tháng thời hạn nộp thuế VAT của tháng 6 năm 2012 đối với DNNVV.



- Giảm 50% tiền thuê đất phải nộp năm 2012

- Gia hạn 9 tháng thời hạn nộp thuế thu nhập DN (TNDN) đối với số thuế phải nộp của năm 2010

trở về trước mà đến ngày 10/5/2012 DN chưa nộp NSNN

- Miễn thuế môn bài năm 2012 đối với hộ đánh bắt hải sản và hộ sản xuất muối;

- Gia hạn nộp tiền sử dụng đất (tối đa 12 tháng theo quyết định của UBND cấp tỉnh) cho các chủ

đầu tư dự án đến ngày 10/5/2012 chưa nộp hoặc chưa nộp đủ…

- Thực hiện nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập cá nhân; triển khai thực hiện Luật

Thuế bảo vệ môi trường, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp…

- Tập trung chỉ đạo ngành Thuế, Hải quan làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại DN và đẩy

mạnh các hoạt động chống chuyển giá, chống buôn lậu và gian lận thương mại…

2.3.2. Chi NSNN

Điều hành chính sách chi tiết kiệm, linh hoạt hiệu quả :



- Rà soát, cắt giảm, sắp xếp lại để điều chuyển vốn đầu tư từ NSNN, trái phiếu chính phủ để tập

trung vốn đẩy nhanh tiến độ các cơng trình, dự án quan trọng, cấp thiết.

- Khơng khởi cơng các cơng trình, dự án mới, trừ các dự án phòng chống, khắc phục hậu quả thiên

tai cấp bách, dự án trọng điểm quốc gia.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Số nhân tài khóa

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×