Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT TRONG VIỆC ÁP DỤNG MÔ HÌNH PPP Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT TRONG VIỆC ÁP DỤNG MÔ HÌNH PPP Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

Tải bản đầy đủ - 0trang

đảm bảo rằng các rủi ro được phân chia một cách hợp lý. Rủi ro thường sẽ được

phân chia cho bên có khả năng tài chính và kỹ thuật tốt nhất để xử lý chúng. Tuy

nhiên, không phải trong mọi trường hợp sự phân bổ sẽ được tiến hành như thế,

thay vào đó, cần một sự linh hoạt nhất định để đảm bảo lợi ích chung tùy theo

hồn cảnh của dự án. Có những rủi ro, khu vực tư nhân có thể quản lý tốt hơn,

nhưng Nhà nước khơng thể dồn tất cả rủi ro cho khu vực tư nhân, mà nên có

những rủi ro Nhà nước đảm nhiệm để tránh tăng chi phí. Chẳng hạn, chuyên gia

JBIC - Yuichiro Robert Yoi đánh giá, rủi ro ở giai đoạn hoàn thành cơng trình là

rủi ro lớn nhất, các bên cần phải cẩn trọng. Đó là nhà thầu, nhất là nhà thầu

EPC, có thể chậm tiến độ so với thời gian cam kết. Do đó, cần tính đến các biện

pháp xử lý đối với trường hợp nhà thầu chậm tiến độ. Đương nhiên nhà thầu

phải chịu trách nhiệm nếu đó là do họ. Nếu vì lý do bất khả kháng (thiên tai,..)

thì cơng ty bảo hiểm phải chịu trách nhiệm với điều kiện cơng trình được bảo

hiểm. Còn với các lý do khác, thì dự án có thể sử dụng quỹ dự phòng hoặc cam

kết vốn bổ sung.

Đặc biệt, đối với các dự án đường bộ là rủi ro cao do thâm dụng vốn, thời

gian thực hiện dự án dài và nhiều bên tham gia, cần thiết phải chia sẻ rủi ro cho

các đối tác tin cậy nhằm đạt được hiệu quả đầu tư. Nhìn chung, các nhà nghiên

cứu đều khẳng định khơng có một danh sách các rủi ro cố định cho tất cả dự án.

Kinh nghiệm triển khai các dự án PPP trong ngành điện tại Thái Lan cũng

chỉ ra rằng, 10 rủi ro cơ bản có thể xảy ra như: từ phía nhà đầu tư, hồn thành

cơng trình, vận hành và bảo dưỡng, cung cấp nhiên liệu, kết cấu hạ tầng hỗ trợ,

thiên tai, chính trị, thị trường tài chính, bao tiêu sản phẩm, mơi trường và xã hội,

chuyên gia của JBIC Yuichiro Robert Yoi cho biết. Trong đó, những rủi ro được

xếp ở mức độ cao, nhiều khả năng có thể xảy ra nhất là rủi ro trong khâu hồn

thành cơng trình, từ giải ngân vốn vay của nhà đầu tư, bao tiêu sản phẩm… Có

những rủi ro được xếp ở mức thấp, ít xảy ra nhưng khơng có nghĩa là khơng xảy

ra. Chẳng hạn, trong khâu vận hành và bảo dưỡng, liệu công ty thực hiện dự án

có thuê tuyển được người quản lý có năng lực hay khơng. Ở khâu cung cấp sản

phẩm thì khi thị trường có biến động giá, bên nào sẽ là người chịu trách nhiệm?

28



Ngoài ra, các rủi ro của dự án PPP đường bộ thường bị ảnh hưởng bởi quy mô,

đặc điểm dự án, loại hợp đồng PPP áp dụng. Không chỉ vậy, mức độ quan trọng

của một rủi ro cụ thể cũng khác nhau giữa các dự án hoặc giữa các quốc gia, như

rủi ro chính trị sẽ quan trọng hơn tại các quốc gia đang phát triển.

3.1.3. Cân nhắc các yếu tố đặc thù về điều kiện, hoàn cảnh của quốc

gia để lựa chọn và triển khai dự án tối hiệu quả

Sader (2000) thu thập dữ liệu từ Ngân hàng Thế giới về 1.707 dự án PPP (trị

giá 459,2 tỷ USD) trong giai đoạn từ năm 1990 đến 1998 đã cho thấy các dự án

PPP khó thu hút được các nhà đầu tư của khu vực tư nhân vì những nhân tố cụ

thể sau đây:

- Tính bất ổn, khó dự đốn của mơi trường đầu tư;

- Khả năng thực thi các cam kết của Chính phủ kém;

- Thiếu các quy định pháp lý cần thiết;

- Lựa chọn đối tác tư nhân không theo nguyên tắc cạnh tranh mà chịu tác

động của chính trị và sự bảo hộ của chính phủ đối với một số cơng ty;

- Cơ chế điều tiết của Chính phủ kém hấp dẫn khiến nhà đầu tư tư nhân

khơng đạt được kỳ vọng của mình (về lợi nhuận, về chia sẻ rủi ro, ...)

Nhà nghiên cứu này cũng nhấn mạnh rằng mơ hình PPP khơng thể hoạt

động tốt tại những quốc gia có:

- Thể chế chính trị khơng ổn định;

- Tham nhũng, quan liêu, điều hành quản lý của Nhà nước kém hiệu quả, sự

cưỡng chế thực thi hợp đồng hiệu lực thấp;

- Hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh.



29



Trong một nghiên cứu khác, Akintoye cùng các cộng sự (2003) xem xét các

dự án PPP tại Anh và nhận thấy rằng chi phí chuẩn bị đầu tư cao, quá trình đàm

phán phức tạp và kéo dài, khó khăn khi đánh giá lợi ích - chi phí và các xung đột

tiềm tàng giữa các bên tham gia sẽ làm phá sản các dự án PPP. Nghiên cứu về

mơ hình PPP ở các nước đang phát triển có cơng trình của Nyagwachi và

Smallwood (2006) xem xét các dự án PPP đường bộ tại Nam Phi. Kết quả

nghiên cứu cho thấy sự thất bại của PPP do các nhân tố sau đây:

- Mức độ nhận thức về PPP của cả khu vực công và khu vực tư chưa đầy đủ;

- Năng lực quản lý dự án của khu vực cơng yếu kém;

- Chính sách hỗ trợ của Chính phủ chưa tương xứng.

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu kết luận rằng mức độ tác động của các nhân

tố đến thành công hay thất bại của các dự án PPP tùy thuộc đặc điểm dự án và

điều kiện kinh tế xã hội đặc trưng của mỗi nước. Vì vậy, việc nhận định rõ các

nhân tố này trong quá trình cân nhắc lựa chọn dự án PPP là vô cùng quan trọng.

Ví dụ, các nước phát triển như Anh, Mỹ thì quan tâm nhiều đến nhân tố nhận

dạng và phân bổ rủi ro cũng như chiến lược tài chính và sự hỗ trợ từ phía chính

phủ. Trong khi đó, các quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì cần quan tâm

tất cả các nhân tố nêu trên: nỗ lực tối đa để khắc phục những mặt hạn chế trong

thể chế ảnh hưởng tới tính hiệu quả của dự án PPP, bên cạnh đó, cũng nên nhận

thức được rõ ràng điều kiện hiện tại của quốc gia để đáp ứng triển khai những

dự án PPP phù hợp. Theo các chuyên gia quốc tế, Việt Nam nên chọn những dự

án nhỏ và đơn giản để thực hiện thí điểm PPP trước; khi thành công ở dự án nhỏ,

củng cố được niềm tin cho các nhà đầu tư thì việc thực hiện ở các dự án lớn sẽ

dễ dàng hơn. Đặc biệt, cần tránh việc quảng cáo, thông tin rầm rộ về những dự

án lớn được mời gọi đầu tư theo hình thức PPP, trong khi dự án chưa tiến triển

thật sự, nhất là chưa đạt được sự đồng thuận giữa các bên.

3.2.



Các giải pháp đồng bộ nâng cao hiệu quả các dự án PPP

30



3.2.1. Cần có khn khổ tổ chức pháp lý thuận lợi và sự ủng hộ chính

sách mạnh mẽ

Để đảm bảo sự thành cơng cho mơ hình PPP nói chung và mơ hình PPP

trong phát triển cơ sở hạ tầng nói riêng cần hội đủ hai yếu tố cơ bản sau: "hợp

đồng hiệu quả" để tăng giá trị vốn đầu tư và "môi trường thuận lợi" để quản lý

PPP, trong đó một trong những nội dung cơ bản nhất của nhân tố mơi trường

chính là khung thể chế, pháp lý đầy đủ và ổn định. Điều này sẽ góp phần giảm

chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch cho các mơ hình PPP và khuyến khích các

nhà đầu tư tư nhân tham gia tích cực hơn.

Mơi trường thể chế rõ ràng sẽ tạo ra những thủ tục phù hợp để bảo đảm tính

minh bạch trong q trình hợp tác, từ đó giúp kiểm sốt và quy định chặc chẽ

trách nhiệm, hiệu quả đối với cả hai khu vực công và tư nhân. Hơn nữa, những

thế mạnh của khu vực tư nhân cũng sẽ được phát huy tối đa vào đầu tư phát triển

cơ sở hạ tầng nếu được thực hiện trong một môi trường cạnh tranh và tháo gỡ

các rào cản không cần thiết.

Một điều đáng quan tâm nữa là Nhà nước cần xây dựng những chính sách

tiếp cận các thị trường vốn nhằm cung cấp tài chính cho các hoạt động quan

trọng mà khu vực tư nhân tham gia. Những hạn chế đối với việc tiếp cận thị

trường địa phương và những trở ngại đối với sự di chuyển vốn quốc tế cần phải

được loại bỏ.

Ngoài ra, việc xây dựng cơ chế cung cấp thông tin liên quan đến dự án giữa

các cơ quan có thẩm quyền và các đối tác tư nhân, bao gồm cả tình trạng trước

khi kết cấu hạ tầng tồn tại, các tiêu chuẩn hoạt động và các hình phạt trong

trường hợp khơng tn thủ… cũng hết sức quan trọng. Các nguyên tắc giám sát,

theo dõi cũng cần phải được tôn trọng trong mọi trường hợp.

3.2.2. Xác định cụ thể mục tiêu chiến lược của dự án và năng lực quản

lý ở tất cả các cấp



31



Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi khởi xướng một dự án kết cấu hạ

tầng phải bảo đảm xem xét đầy đủ ý kiến đóng góp của các bên liên quan khác,

kể cả người sử dụng cuối cùng của dự án. Cơ quan chịu trách nhiệm về các dự

án kết cấu hạ tầng do tư nhân vận hành phải đủ năng lực quản lý các quá trình

thương mại có liên quan và hợp tác bình đẳng với các đối tác khu vực tư nhân.

Mục đích tham gia của khu vực tư nhân vào kết cấu hạ tầng cần được hiểu rõ,

mục tiêu phải được chia sẻ ở tất cả các cấp chính quyền và trong tất cả các bộ

phận liên quan của cơ quan hành chính cơng.

Đối tác cơng cũng cần phải có khả năng kỹ thuật để theo dõi hợp đồng. Đối

tác tư nhân nói chung thường có nguồn nhân lực có năng lực về tài chính,

thương mại và kỹ thuật. Cơ quan nhà nước muốn giữ vai trò và quyền kiểm sốt

của mình, một cách thường xuyên hay chỉ là tư vấn, không phải lúc nào cũng có

được một ê-kíp hiệu quả để thực hiện điều đó. Chính vì vậy, trong mọi trường

hợp, việc thương lượng giữa hai đối tác phải được thực hiện một cách nghiêm

túc và có đủ thời gian cần thiết để tìm được sự cân bằng đảm bảo cho quan hệ

đối tác và xác định được những điều khoản của hợp đồng. Mọi việc khơng được

giải quyết ở giai đoạn này có thể sẽ dẫn đến những tình huống xấu do sự vận

hành không tốt của quan hệ đối tác. Mặt khác, với đặc tính của các dự án hạ tầng

GTVT là thời gian thực hiện tương đối dài, điều kiện và hồn cảnh có thể biến

đổi thì việc điều chỉnh giữa hợp đồng cũng cần phải được chú ý.

3.2.3. Lựa chọn Quan hệ đối tác công – tư PPP phù hợp với đặc điểm

của từng dự án

Những rủi ro kinh doanh hay công nghiệp phát sinh ở tùy từng dự án cần

phải được xem xét kỹ càng và phải chuẩn bị các phương thức cung cấp thay thế

trong trường hợp thiếu hụt nguồn vốn. Nếu dự án không thể tự cấp vốn, đối tác

cơng phải có chuẩn bị sẵn khả năng cân đối tài chính cho dự án. Điều này càng

cần thiết nếu cơ quan quản lý giao thông quy hoạch một hạ tầng GTVT không

thể tạo ra nguồn thu tối ưu nhưng lại phù hợp hơn về mặt phát triển đơ thị.

32



Việc lựa chọn một mơ hình cụ thể và phân bổ rủi ro đi kèm cần được xác

định dựa trên sự đánh giá, phân tích về lợi ích cơng cộng và lợi nhuận tài chính.

Nguyên tắc minh bạch tài chính phải được bảo đảm. Trong đó, ảnh hưởng của

tài chính cơng có thể phát sinh về việc chia sẻ trách nhiệm với khu vực tư nhân

đối với kết cấu hạ tầng phải được dự báo.

3.2.4. Tạo ra các cơ chế thúc đẩy hoạt động kinh doanh có trách nhiệm

Quan hệ đối tác PPP giúp đẩy mạnh sự tham gia của khu vực tư nhân vào

các dự án có mục đích cơng cộng, dung hòa giữa động cơ cá nhân và lợi ích tập

thể để thúc đẩy phát triển cộng đồng xã hội. Khi khu vực tư nhân tham gia đầu

tư phát triển cơ sở hạ tầng GTVT, cần phải tuân thủ các nguyên tắc đã thống

nhất và các chuẩn mực hoạt động kinh doanh có trách nhiệm với mơi trường và

xã hội. Khu vực tư nhân tham gia các dự án kết cấu 7 hạ tầng cần có những cơ

chế để khuyến khích khi có thiện chí và cam kết để thực hiện hợp đồng và các

điều khoản đã ký.

Chính vì vậy, việc soạn thảo nội dung hợp đồng mời thầu để chọn nhà đầu tư

tư nhân là khâu cơ bản và khó khăn. Cần nghiên cứu kỹ lưỡng để hạn chế xảy ra

tình trạng nội dung mời thầu đóng và khơng cho phép các đối tác tư nhân tiềm

năng thể hiện hết năng lực và kinh nghiệm của mình nhưng cho phép đơn vị

trúng thầu có các tiêu chí kỹ thuật và tài chính rõ ràng. Hoặc là nội dung hợp

đòng mời thầu cho phép nhiều phương án kỹ thuật, thương mại dẫn đến việc lựa

chọn nhà đầu tư khó khăn hơn và phải có q trình thương thảo với đối tác được

chọn.

Trong hoàn cảnh Việt Nam đang thiếu hụt nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở

hạ tầng như hiện nay, nhà đầu tư tư nhân nên tập trung hơn vào mơ hình hợp tác

cơng tư trong đó nhà đầu tư tư nhân có tham gia tài trợ dự án như BOT, BOO

hơn các mơ hình chỉ đóng góp kinh nghiệm, khả năng điều hành quản lý như

thiết kế-xây dựng hay vận hành-bảo dưỡng.



33



Khu vực tư nhân tham gia, nhà thầu phụ và các đại diện không được tiến

hành các hành vi khơng minh bạch để có được hợp đồng, giành quyền kiểm soát

đối với tài sản hoặc sự ủng hộ, cũng như không được tham gia thực hiện hành vi

như vậy trong quá trình vận hành kết cấu hạ tầng của họ. Ngoài ra, khu vực tư

nhân tham gia phải đóng góp vào chiến lược trao đổi và tư vấn với công chúng,

bao gồm cả người tiêu dùng, cộng đồng bị ảnh hưởng và các bên liên quan,

nhằm đạt được sự chấp thuận và hiểu biết lẫn nhau về mục tiêu của các bên liên

quan, có như vậy mới đạt được sự thống nhất cao độ để thực hiện dự án được

thành cơng.

3.3.



Đề xuất chương trình khung vận hành PPP tại Việt Nam



Dự án PPP thành công thể hiện ở đặc điểm quy hoạch tổng thể, quy định rõ

ràng trong hợp đồng và dự phòng, đấu thầu cạnh tranh và thực thi hợp đồng

đáng tin cậy. Đối với nhà đầu tư khu vực tư nhân, tham gia PPP là một sự lựa

chọn kinh doanh, do đó không thể kể đến lợi nhuận đem lại, khung tài chính có

thể là đòn bẩy kích thích sự tham gia của đối tượng này. Nhà nước cần có sự tác

động và đảm bảo để nhà đầu tư yên tâm đầu tư và mang lại lợi ích tối thiểu và

Nhà nước lấy lợi ích phát triển kinh tế vĩ mơ làm trọng yếu. Theo mơ hình dưới

đây:



M1 M2 M3 M4 M5 M6

1 Module (M) của bộ chương trình PPP



Đề xuất 6 mơ-đun (M) của bộ chương trình PPP (Hình 1).

Trong đó:

- M1: Tổng quan và những dự đoán: Lựa chọn các dự án PPP và xác định

một chiến lược cho dự án đó.

34



- M2: Thành phần chủ chốt: Khái niệm và đặc điểm của dự án PPP.

- M3: Chính sách và kế hoạch: Xây dựng kế hoạch, mục tiêu chính sách và

khn khổ chính sách PPP.

- M4: Pháp luật và hợp đồng: Quy phạm pháp luật, lập pháp và hợp đồng cơ

sở cho các dự án PPP.

- M5: Thực hiện và giám sát: Các giai đoạn phát triển PPP từ xác định dự án

cho đến ký hợp đồng quản lý.

- M6: Cơng cụ: Nghiên cứu trường hợp mơ hình tài chính quan trọng.



Nguồn: Khung chính sách cho mơ hình hợp tác cơng tư ở Việt Nam, Tạp chí

Tài chính



35



KẾT LUẬN

Bài tiểu luận đã cơ bản trình bày được thực trạng áp dụng mơ hình PPP ở

Việt Nam hiện nay, đồng thời cũng đánh giá được những thuận lợi, khó khăn

cũng như hiệu quả và hạn chế của việc áp dụng mô hình PPP ở nước ta. Từ đó

đề ra được những kiến nghị, đề xuất cần thiết cho việc áp dụng mơ hình này hiệu

quả hơn trong tương lai.

Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập của nước ta trong những năm tới, việc đầu

tư ra nước ngoài hay đầu tư nước ngồi vào Việt Nam sẽ có những chuyển biến

nhất định, là cơ hội hay thách thức, tất cả phụ thuộc vào chúng ta. Và mơ hình

hợp tác cơng tư PPP có thực sự phát huy được những ưu thế của nó? Trong bối

cảnh kinh tế và xã hội cụ thể, rất cần những cơng trình khoa học tâm huyết, nhìn

thẳng vào sự thật và đánh giá một cách khách quan về vấn đề đầu tư nói chung

và mơ hình PPP nói riêng để có thể hồn thiện các ngun tắc hợp tác cũng như

áp dụng mơ hình này trong thực tế một cách hiệu quả hơn…



36



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO



1. Cẩn trọng chọn dự án PPP, Tạp chí Tài chính.

2. Đầu tư dự án theo hình thức hợp tác công tư (PPP), Cổng thông tin

điện tử Đà Nẵng.

3. Khung chính sách cho mơ hình hợp tác cơng tư ở Việt Nam, Tạp chí Tài

chính.

4. Kinh nghiệm triển khai mơ hình đầu tư cơng –tư (PPP) trên thế giới để

phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị - Tạp chí phát triển và hội

nhập.

5. Mơ hình đầu tư PPP là giải pháp tối ưu cho đô thị Việt Nam, Theo Địa

Ốc Việt.

6. Tài liệu Tọa đàm kỹ thuật về PPP do Trung tâm Thông tin và Dự báo

Kinh tế - Xã hội Quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tổ chức ngày

26/7/2013.

7. Ts. Đinh Sơn Hùng và Trần Gia Trung Đỉnh, Những giải pháp để nâng

cao hiệu quả hợp tác công – tư ppp trong xây dựng cơ sở hạ tầng giao

thông .

8. Ts. Đinh Sơn Hùng và Trần Gia Trung Đỉnh, Những giải pháp để nâng

cao hiệu quả hợp tác công – tư ppp trong xây dựng cơ sở hạ tầng giao

thông .

.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT TRONG VIỆC ÁP DỤNG MÔ HÌNH PPP Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×