Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG MÔ HÌNH PPP Ở VIỆT NAM

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG MÔ HÌNH PPP Ở VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

hoạch và Đầu tư đã tiến hành thanh kiểm tra và tổng hợp số liệu từ các địa

phương và các bộ ngành về vấn đề này. Kết quả của báo cáo tổng kết này có

thể được sử dụng mang tính chất tham khảo, khơng nhất thiết đã phản ánh

được tồn bộ bức tranh thực hiện các dự án BOT, BTO và BT ở Việt Nam.

Cụ thế, theo hình thức đầu tư như sau:

- Dự án BOT: 129 dự án với số vốn đầu tư 604,389 tỉ đồng.

- Dự án BTO: 2 dự án tương đương 918 tỉ đồng.

- Dự án BT: 211 dự án với tổng số vốn đầu tư 324.129 tỷ đồng.

- Dự án BT kết hợp BOT: 42 dự án.

Hình 2: Tỷ trọng các dự án phân theo hình thức đầu tư (%)

Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư



Xét về số dự án, chủ yếu là dự án đầu tư theo hình thức BT, chiếm

54,95%; tiếp đến là dự án theo hình thức BOT, chiếm 33,59%; dự án BT kết

hợp BTO chiếm 10,94%; hình thức dự án BTO chỉ chiếm 0,52%.

Hình 3: Tỷ trọng vốn đầu tư các dự án phân theo hình thức đầu tư



Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư

13



Trong khi đó, xét về vốn đầu tư, chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng vốn

đầu tư là dự án đầu tư theo hình thức BOT, chiếm 54,22%; dự án theo hình

thức BT tuy chiếm tỷ trọng số dự án nhiều nhất, nhưng chiếm 29,08% tỷ

trọng về vốn; dự án BT kết hợp BTO chiếm 16,62%; hình thức dự án BTO

chỉ chiếm 0,08%.

Nhận xét: Khi phân theo hình thức đầu tư, dự án theo hình thức BT

chiếm tỉ trọng số dự án cao nhất, hấp dẫn các nhà đầu tư là do hình thức

này ít rủi ro, nhà đầu tư xây xong là bàn giao ngay cho nhà nước. Hơn

nữa, doanh nghiệp khi đầu tư BT còn được hưởng ưu về thuế thu nhập

doanh nghiệp,.. cũng như được nhà nước tạo điều kiện thực hiện các dự án

khác để thu hồi vốn. Điểm bất cập là việc được nhận một lợi ích từ một

cơng trình khác của Nhà nước có thể phải chờ trong một thời gian và cũng

có thể lợi ích từ cơng trình này sẽ khơng thể bằng được cơng trình đã bàn

giao cho Nhà nước. Những nhà đầu tư nhỏ, lẻ sẽ chọn lựa hình thức này

với những dự án nhỏ để đơn giản trong khâu thực hiện.

Tuy nhiên, xét về tính hiệu quả mà mang lợi ích cao thì hợp đồng BOT

có những ưu thế hơn hẳn so với hai loại hợp đồng BT và BTO, cho nên nó

nhận được nhiều nguồn vốn đầu tư nhất. Biểu hiện cụ thể: thứ nhất, sau

khi xây dựng xong, nhà đầu tư hoàn toàn chủ động trong khâu kinh doanh,

khai thác cơng trình để thu hồi vốn và lợi nhuận trong một khoảng thời

gian xác định, trước khi bàn giao cho nhà nước. Thứ hai, do việc nhà đầu

tư lo ngại việc thay đổi chính sách của Nhà nước, như đối với hợp đồng

BTO thì sau khi xây dựng cơng trình phải chuyển giao cho Nhà nước

trước rồi nhà đầu tư mới được khai thác lợi nhuận cơng trình, như vậy sau

giai đoạn đã chuyển giao cơng trình mà Nhà nước lại có sự thay đổi về

chính sách với lĩnh vực này theo hướng bất lợi hơn cho nhà đầu tư thì phía

nhà đầu tư sẽ bị thiệt.



14



Hình 4: Tỷ trọng số dự án phân theo lĩnh vực đầu tư (%)



Nguồn: bộ kế hoạch và đầu tư

Theo lĩnh vực đầu tư, xét về số dự án, chiếm chủ yếu là dự án xây

dựng các cơng trình giao thông, chiếm 66,15%; tiếp đến là các dự án xây

dựng nhà làm việc, khu công nghiệp, khu đô thị và các dịch vụ công cộng

khác chiếm 15,36%; Xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải

và cải tạo môi trường chiếm 13,02%; xây dựng nhà máy điện, đường dây

tải điện là 3,39%; xây dựng hệ thống cấp nước sạch là 2,08%.

Hình 5: Tỷ trọng vốn đầu tư các dự án phân theo

lĩnh vực đầu tư (%)



Nguồn: bộ kế hoạch và đầu tư

Xét về tổng vốn đầu tư, tương ứng với đó, vốn đầu tư xây dựng cơng

trình giao thơng chiếm đến 50,52% tổng vốn đầu tư. Trong khi đó, xây dựng

nhà làm việc, khu cơng nghiệp, khu đô thị và các dịch vụ công cộng khác tuy

chiếm 15,36% về số dự án nhưng chỉ chiếm 3,76% tổng vốn. Ngược lại, xây

dựng nhà máy điện, đường dây tải điện chỉ chiếm 3,39% số dự án, nhưng lại

15



chiếm tới 32,81% tổng số vốn. Xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải,

chất thải và cải tạo môi trường chiếm 12,51% tổng vốn. Xây dựng hệ thống

nước sạch chiếm 0,4%.

Nhận xét: Xây dựng cơng trình giao thơng nhận được số dự án cũng như

số vốn đầu tư là lớn nhất là do các dự án thực sự có khả thi và hiệu quả. Các

chính sách ngày càng chặt chẽ nhưng cũng minh bạch hơn, chế hỗ trợ của nhà

nước ngày càng tốt hơn, đặc biệt là nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng.

Bên cạnh đó, sự quan tâm chỉ đạo sát sao của bộ GTVT và các cơ quan liên

quan với nhiều chính sách linh hoạt đã giúp các doanh nghiệp có thêm niềm tự

tin đầu tư vào lĩnh vực này. Một lí do nữa là lãi suất ngân hàng đang được

kiểm soát tốt, lãi suất cho vay thấp. Về thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mặc dù

khung pháp lý cho việc thu hút nguồn vốn này theo hình thức BOT, BTO và

BT được ban hành không chậm hơn nhiều so với đầu tư trong nước, từ năm

1998 đến nay cũng chỉ có 10 dự án BOT được cấp phép và đang hoạt động,

với tổng vốn đầu tư 5,9 tỷ USD, một con số rất khiêm tốn so với nhu cầu.

2.1.2. Về nguồn vốn của chính phủ trong các dự án PPP

Chính phủ bố trí nguồn vốn ngân sách tập trung ở Trung ương dành riêng để

sẵn sàng phân bổ cho các dự án PPP được lựa chọn. Dự kiến trong giai đoạn

2013-2015, Chính phủ dành riêng 20.000 tỷ đồng ~ 1 tỷ USD cho các dự án

PPP.

Bên cạnh đó, hiện đã thiết lập được hai cơ chế tài chính hỗ trợ thực hiện dự

án PPP bao gồm:

1) Quỹ hỗ trợ phát triển dự án PPP (PDF)

Quỹ PDF, quỹ hỗ trợ phát triển dự án PPP, được thiết lập với các chức năng

chính gồm: hỗ trợ các CQNNCTQ thực hiện chuẩn bị dự án, phân tích rủi ro và

tính khả thi của dự án, v.v…

Quỹ PDF đang được hình thành bởi khoản vay 20 triệu USD của ADB kết

hợp khoản vay 8 triệu EUR (và khoản viện trợ 600 nghìn EUR) từ AFD, để hỗ

16



trợ các phát triển một số lượng dự án PPP nhất định theo cơ chế “quay vòng”.

Tính đến thời điểm tháng 1/2013, khoản vay 20 triệu USD của ADB đã tổ chức

ký kết Hiệp định vay (ngày 17/01/2013) và hiện đang tiếp tục các thủ tục để

công bố hiệu lực của khoản vay. Bên cạnh đó, khoản vay 8 triệu EUR và khoản

viện trợ 600 nghìn EUR từ AFD đã hồn tất đàm phán khoản vay.

Trong giai đoạn đầu thực hiện chương trình PPP, Quỹ PDF có vai trò đặc biệt

quan trọng đối với các hoạt động nghiên cứu, triển khai các dự án PPP tại Việt

Nam, là đòn bẩy cho tổng thể chương trình PPP tại Việt Nam. Cơ chế vận hành

quỹ PDF đang được hoàn thiện.Tuy nhiên, đến nay các thủ tục vay vốn vẫn chưa

hoàn thành để Quỹ sớm đi vào hoạt động.

2) Quỹ bù đắp để tăng tính khả thi của dự án (VGF)

Quỹ bù đắp để tăng tính khả thi của dự án, hỗ trợ bằng nguồn vốn từ ngân

sách Nhà nước (hoặc vốn vay ODA) có chức năng chính là cung cấp phần trợ

cấp cho các dự án chưa hồn tồn có khả năng vay vốn ngân hàng. Quỹ VGF

đang trong quá trình hình thành.

2.1.3. Về khung pháp lí điều chỉnh PPP

Đó là q trình thực hiện và sửa đổi quyết định 71 của thủ tướng chính phủ.

Chiến lược phát triển kinh tế-xã hộiViệt Nam giai đoạn 2010- 2020 với mục

tiêu đưa nước ta trở thành một nước cơng nghiệp hiện đại vào năm 2020, trong

đó đột phá trọng tâm là xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số

cơng trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đơ thị lớn. Ước

tính số vốn cần để đầu tư cơ sở hạ tầng vào khoảng 160 - 170 tỷ USD.Tuynhiên,

dự báo nguồn vốn trái phiếu chính phủ và vốn ODA trong khoảng 5 năm tới chỉ

đạt khoảng 100-110 tỷ USD và Việt Nam cần phải huy động thêm 50-60 tỷ USD

trong khoảng thời gian còn lại để đáp ứng nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng (Bộ Kế

hoạch và Đầu tư (KH&ĐT)). Do vậy, đẩy mạnh thu hút nguồn lực xã hội đầu tư

cơ sở hạ tầng đang là hướng đi trọng tâm của Chính phủ Việt Nam trong giải

quyết vấn đề thiếu hụt nguồn đầu tư vào phát triên cơ sở hạ tầng. Và để đẩy

17



mạnh thu hút nguồn lực vốn tư nhân, cần có sự thay đổi mạnh về phương thức

thu hút đầu tư so với các hình thức truyền thống (BOT, BTO, BT) vốn chưa phát

huy hiệu quả cao. Quyết định số 71/2010/ QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác cơng tư ban hành ngày

9/11/2010 có hiệu lực từ ngày 15/1/2011 với thời gian thí điểm từ 3 đến 5 năm,

đã bước đầu vận dụng mơ hình PPP hiện đại trong thu hút vốn đầu tư tư nhân.

Mơ hình hợp tác cơng tư (PPP) trong việc nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng

được coi là hướng đi đúng đắn của Việt Nam trong giai đoạn này.

Theo Quyết định số 71/2010/QĐ-TT, có 8 lĩnh vực được thực hiện thí điểm

PPP là đường bộ, đường hang không, đường sắt, đường sông, hệ thống xử lý

chất thải (lỏng và rắn), điện năng và y tế. Đối với các dự án PPP thì vốn nhà

nước tối đa là 30%, còn lại là của tư nhân trong nước hoặc nước ngồi, nhưng

trong 70% còn lại thì30% phải là vốn chủ sở hữu, còn lại thì tư nhân được phép

đi vay nhưng phải đảm bảo không được dẫn đến nợ cơng.

Ngày 28/11/2012, Văn phòng Chính phủ có văn bản số 388/ TB-VPCP

thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hồng Trung Hải (Trưởng Ban Chỉ

đạo về PPP) giao “Bộ Kế hoạch và Đầu tư rà soát, sửa đổi những nội dung còn

bất cập của Quyết định 71, lấy ý kiến góp ý của các cơ quan liên quan, trình Thủ

tướng Chính phủ”.

Ngày 07/02/2013, tại Thơng báo số 67/TB-VPCP của Văn phòng Chính

phủ, Phó Thủ tướng Hồng Trung Hải tiếp tục chỉ đạo: “Thời gian tới, Bộ Kế

hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành tiếp tục tập trung khẩn trương sửa đổi Quyết

định 71/2010/QĐ-TTg, sau khi thực hiện thành công sẽ nâng cấp thành Nghị

định của Chính phủ”.

Ngày 14/12/2012, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản số 10421/ BKHĐTQLĐT gửi các Bộ, ngành và địa phương tổng hợp những khó khăn, vướng mắc

và kiến nghị sửa đổi Quyết định 71.

Ngày 14/01/2013, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có Quyết định số 77/QĐ18



BKHĐT về thành lập Tổ soạn thảo Quyết định sửa đổi Quyết định 71; bao gồm

các thành viên là cán bộ của: Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ

Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Giao thơng vận tải.

Dự thảo lần 1 sửa đổi Quyết định 71 được ban hành lấy ý kiến rộng rãi tại

văn bản số 997/BKHĐT-QLĐT ngày 08/02/2013; Dự thảo được đăng tải trên

Cổng thông tin điện tử của Bộ Kế hoạch và Đầu tư để lấy ý kiến rộng rãi.

Với sự phối hợp của Tư vấn quốc tế (Cơng ty Luật Hogan Lovells, là đơn vị

có nhiều kinh nghiệm về đầu tư theo hình thức BOT tại Việt Nam), Dự thảo lần

2 đã được Tư vấn xây dựng dựa trên bố cục, nội dung chủ yếu của Dự thảo lần 1

để tiếp tục đăng tải, xin ý kiến rộng rãi.

Trong một diễn biến mới nhất của quá trình sửa đổi bổ sung Quyết định 71

này, ngày 8/5/2013, giám đốc quốc gia của hai tổ chức quốc tế là Ngân hàng Thế

giới WB và Ngân hàng Phát triển Châu Á ADB đã đồng đứng tên trong một kiến

nghị chung gửi tới Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất hợp nhất Nghị

định 108/2009/NĐ-CP và Quyết định 71/2010/QĐ-TTg trong một văn bản pháp

lý thống nhất để hỗ trợ mơ hình PPP tại Việt Nam. Kiến nghị này đã được Bộ Kế

hoạch và Đầu tư tích cực nghiên cứu và đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ về

việc hợp nhất hai văn bản này. Ngày 03/9/2013, Văn phòng Chính phủ đã có

Thơng báo số 336/TB-VPCP thơng báo kết luận của Phó Thủ tướng Hồng

Trung Hải - Trưởng Ban chỉ đạo về đầu tư theo hình thức PPP tại cuộc họp Ban

chỉ đạo ngày 22/8/2013, theo đó đồng ý về chủ trương hợp nhất Nghị định

108/2009/NĐ-CP của Chính phủ và Quyết định 71/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng

Chính phủ thành Nghị định về đầu tư theo hình thức đối tác công-tư, đồng thời

giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư triển khai xây dựng, hồn thiện, trình Chính phủ

ban hành theo quy định. Phó Thủ tướng lưu ý bổ sung quy định về các hình thức

hợp đồng PPP mới (trong đó có hình thức BOO) để tạo điều kiện thuận lợi và

linh hoạt trong quá trình triển khai thực hiện; đồng thời Nghị định chỉ quy định

những nội dung đặc thù của hình thức đầu tư PPP, khơng nhắc lại các nội dung

mà các luật đã có quy định. Trong thời gian chờ Nghị định hợp nhất được ban

19



hành, mọi công việc lien quan đến chuẩn bị, triển khai các dự án PPP (bao gồm

cả các dự án BOT, BT, BTO) thực hiện theo quy định hiện hành.

2.1.4. Về công tác điều hành quản lí các dự án PPP của chính phủ

 Tháng 3/2012, Bộ KH&ĐT thành lập Văn phòng PPP thuộc Cục quản lý

đấu thầu với chức năng là đơn vị đầu mối và chuyên trách nhằm tập trung

và thống nhất thực hiện các hoạt động có liên quan Chương trình PPP tại

Việt Nam;

 Tháng 10/2012, Ban Chỉ đạo về đầu tư theo hình thức PPP được thành lập

theo Quyết định số 1624/QĐ-TTg ngày 29/10/2012 của Thủ tướng Chính

phủ;

 Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải là Trưởng ban Ban Chỉ đạo. Ban Chỉ

đạo về đầu tư PPP có chức năng giúp Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, triển

khai thực hiện mơ hình đầu tư theo hình thức đối tác cơng - tư (PPP) hiện

đang cần đẩy mạnh sau 2 năm thực hiện thí điểm.

 Ban Chỉ đạo đã ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo về đầu tư

theo hình thức đối tác cơng - tư (PPP) theo Quyết định số 161/QĐBCĐPPP ngày11/12/2012.

 Tổ công tác liên ngành về PPP được thành lập với đầu mốilà Bộ Kế hoạch

và Đầu tư. Hiện Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương hồn thiện việc kiện

tồn Tổ cơng tác liên ngành về PPP. Đến tháng 1/2013, Tổ công tác liên

ngành về PPP đã có đại diện 5 cơ quan tham gia (gồm Văn phòng Chính

phủ và các Bộ: Giao thong vận tải, Công thương, Giáo dục và Đào tạo,

Tài nguyên và Môi trường) và cho tới tháng 8/2013, 6 Cơ quan nhà nước

có thẩm quyền còn lại bao gồm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các

Bộ: Tài chính, Xây dựng, Tư pháp, Y tế và Thông tin và Truyền thông đã

tham gia vào tổ công tác này.



2.2.



Thuận lợi và khó khăn khi áp dụng mơ hình PPP ở Việt Nam

20



2.2.1. Thuận lợi

Về cơ bản, lợi ích khi áp dụng mơ hình PPP là tận dụng được lợi thế, điểm

mạnh của Nhà nước và khu vực tư nhân, điều đó mang lại lợi ích cho cả Nhà

nước, khu vực tư nhân và người dân sử dụng dịch vụ, sản phẩm của sự hợp tác

công tư, cụ thể:

Thứ nhất, tạo ra nhiều khoản đầu tư hơn cho cơ sở hạ tầng. Với cơ chế PPP,

Nhà nước sẽ giảm được gánh nặng phải tìm kiếm, sắp xếp và phân bổ nguồn vốn

đầu tư từ ngân sách cho CSHT. Bởi vậy, Nhà nước có thể tiến hành nhiều dự án

đầu tư hơn hoặc tăng quy mô của các dự án đầu tư cho CSHT.

Thứ hai, tạo ra sự ổn định và tăng trưởng cho khu vực tư nhân. Với việc

tham gia vào cơ chế PPP, khu vực tư nhân có được nhiều cơ hội đầu tư mang

tính dài hạn hơn, có thể ít rủi ro hơn với sự đảm bảo, chia sẻ từ Nhà nước. Từ

đó, tạo sự ổn định, tăng trưởng cho khu vực tư nhân, thúc đẩy sự phát triển của

công nghiệp địa phương cũng như tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn cho người

lao động. Đồng thời, khu vực tư nhân có thể tạo ra thêm doanh thu từ bên thứ ba

khác bằng cách sử dụng năng lực còn dư hoặc nhượng lại các tài sản, thiết bị

thừa.

Thứ ba, phân bố và quản lý rủi ro tốt hơn và hiệu quả hơn, nguyên tắc cốt

yếu của cơ chế PPP là rủi ro sẽ được phân bổ cho bên nào giải quyết tốt nhất với

chi phí thấp nhất.Với nhiều trường hợp, Nhà nước sẽ là bên có trách nhiệm giải

quyết những rủi ro liên quan đến cộng đồng, môi trường hoặc bảo lãnh vay vốn

bởi Nhà nước. Ngược lại, khu vực tư nhân ưu việt hơn trong việc xử lý rủi ro

liên quan tới quản lý, sử dụng vốn,…

Thứ tư, tiết kiệm chi phí. Một là, với việc kết hợp hai khâu thiết kế và xây

dựng trong cùng một hợp đồng, cơ chế PPP cho phép nhà thiết kế và nhà xây

dựng thiết lập mối quan hệ gần gũi và sâu sắc hơn. Sự kết hợp này trước hết

giúp việc thiết kế có tính sang tạo cao hơn, tiết kiệm được nhiều chi phí hơn;

đồng thời cũng giúp giảm thời gian của quá trình xây dựng, để dịch vụ được

sớm đưa vào sử dụng hơn qua đó cũng giúp giảm chi phí. Hai là, hầu hết các dự

án PPP cần dịch vụ vận hành và bảo trì trong suốt vòng đời của dự án, và việc

này được giao cho khu vực tư nhân. Do đó, khu vực tư nhân sẽ có động lực và

21



giải pháp (về cơng nghệ, quản lý, sử dụng nguồn lực,…) nhằm giảm thiểu chi

phí vận hành và bảo trì trong suốt vòng đời của cơng trình. Trong khi đó, Nhà

nước lại khó có thể đảm bảo được điều này do những hạn chế về ngân sách.

Thứ năm, cải thiện chất lượng dịch vụ cung cấp. Một trong những lợi ích rõ

ràng được nhiều nghiên cứu và kinh nghiệm quốc tế chỉ ra đó là chất lượng các

dự án áp dụng hình thức PPP thường tốt hơn đối với các hình thức đầu tư truyền

thống. Lý do cho điều này là cơ chế PPP tận dụng được những lợi thế nhất của

các bên, với Nhà nước là chính sách và khả năng quản trị, với khu vực tư nhân

là các yếu tố kỹ thuật như thiết kế, xây dựng, vận hành và quản lý.

Thứ sáu, nâng cao khả năng quản lý công. Nhà nước sẽ không phải làm

công việc quản lý hằng ngày liên quan đến dự án vì đã giao cho khu vực tư

nhân, mà tập trung vào việc lập kế hoạch và giám sát việc quản lý hằng ngày.

2.2.2. Khó khăn

Mơ hình PPP khi áp dụng ở Việt Nam đang còn gặp phải những khó khăn,

vướng mắc nhất định trong cơ chế quản lý, điều phối vĩ mô hay là triển khai các

dự án về PPP. Cụ thể:

Thứ nhất, khung pháp lý về phương thức PPP chưa đầy đủ, hoàn thiện. Văn

bản hướng dẫn cụ thể thiếu nên các dự án được đề xuất cũng không triển khai

được hoặc không khả thi. Đồng thời, cơ chế quản lý hiện nay đã khiến công tác

điều phối vĩ mơ về PPP rất khó khăn, chồng chéo và đạt hiệu quả thấp.

Thứ hai, ở cấp địa phương, năng lực trong quản lý và điều phối về PPP

càng đáng lo ngại. Nhận thức về triển khai PPP cho thấy phương thức này chưa

thực sự được coi là khác biệt, hấp dẫn so với các mơ hình đầu tư truyền thống

khác. Bản thân nhận thức của đội ngũ cán bộ làm công tác PPP mà đặc biệt là

đội ngũ cấp địa phương vẫn chưa đũng với bản chất và mục tiêu của mơ hình

PPP. Do là phương thức mới, chưa có tiền lệ nên còn nhiều lúng túng trong cơ

chế quản lý, áp dụng.

Thứ ba, việc lựa chọn áp dụng phương thức PPP cho một dự án là một khó

khăn cho cả cơ quan quản lý nhà nước cấp địa phương và trung ương và có khả

năng gây lãng phí lớn nguồn lực công. Bởi lẽ, sử dụng phương thức PPP đặc

biệt tốn kém cho các giai đoạn chuẩn bị dự án do những yêu cầu chặt chẽ và ở

22



mức cao về kỹ thuật, tài chính, pháp luật, tư vấn quốc tế… nhất là việc soạn thảo

một hợp đồng dự án có chất lượng trong Hồ sơ mời thầu. Có nhiều khả năng

chính quyền cấp địa phương khơng tiên liệu đúng các chi phí này và sẽ đề xuất

áp dụng phương thức PPP tùy tiện trong khi dự án hoặc có quy mơ q nhỏ,

hoặc hồn tồn có khả năng áp dụng các phương thức đầu tư giản tiện hơn.

Thứ tư, quá trình thực hiện dự án PPP thường kéo dài đem lại rủi ro về tài

chính, chính sách, quy chế thay đổi đối với nước đang phát triển như Việt Nam

khiến nhiều nhà đầu tư còn e ngại.

2.3.



Đánh giá hiệu quả và những mặt hạn chế của việc áp dụng mơ hình



PPP ở Việt Nam

2.3.1. Hiệu quả của việc áp dụng mơ hình PPP ở Việt Nam

Gần đây, mơ hình PPP hay hợp tác cơng - tư thường được nhắc đến như là

một cách thức mới và hiệu quả giúp giải quyết vấn đề quá tải cơ sở hạ tầng

(CSHT) - một trong những nút thắt cơ bản của nền kinh tế Việt Nam. Việc áp

dụng mơ hình PPP ở Việt Nam đã mang lại nhiều hiệu quả tích cực cho nền

Kinh tế của nước nhà.

Thứ nhất, áp dụng mơ hình PPP giúp nền kinh tế Việt Nam thu hút được

nhiều vốn đầu tư tư nhân đặc biệt là nguồn vốn nước ngồi từ đó giảm gánh

nặng cho ngân sách nhà nước. Trong giai đoạn 1994-2009, Việt Nam đã có 32

dự án đầu tư theo mơ hình PPP với tổng số vốn cam kết khoảng 6,7 tỉ USD.

Trong 5 năm trở lại đây, các dự án BTO, BOT, BT đã tăng lên 70 dự án nâng

tổng số dự án lên 90, với tổng số vốn khoảng 7,1 tỉ USD, trong đó các dự án về

giao thơng chiếm 70%. Từ 1994-2012, số vốn thực hiện đầu tư chiếm 2,49%

tổng số vốn đầu tư nước ngoài. Tổng số vốn đầu tư đăng ký của nước ngoài vào

Việt Nam cũng tăng mạnh:

Bảng : Tổng số vốn đầu tư đăng ký của nước ngoài vào Việt Nam



Hàn Quốc

Trung Quốc

Singapore

Nhật Bản



Số dự án

588

224

119

342



Tổng vốn đăng ký( Triệu USD)

7705

3533,5

2892,8

2299

23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG MÔ HÌNH PPP Ở VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×