Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Kh nng tri giỏc ca hc sinh lp 5

1 Kh nng tri giỏc ca hc sinh lp 5

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.4. Đặc điểm về tưởng tượng của học sinh tiểu học

Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng còn rất bỡ ngỡ

trước một số thao tác tư duy như : so sánh, phân tích, suy luận … Khả năng khái

qt thấp, nếu có thì chỉ có thể dựa vào dấu hiệu bên ngồi.

Đối với bài tốn chuyển động đều, nó đòi hỏi ở học sinh sự linh hoạt và khả

năng suy luận, diễn dịch tốt. Loại tốn này khơng giải bằng cơng thức đã có sẵn

mà các em còn phải biết phân tích, suy luận, diễn giải từ những dữ kiện của bài

toán, để từ đó vận dụng những kiến thức đã có sẵn, tháo gỡ mâu thuẩn và các

tình huống đặt ra trong bài tốn.

2.5. Đặc điểm ngơn ngữ của học sinh lớp 5

Ngơn ngữ của học sinh lớp 5 đã phát triển mạnh mẽ về ngữ âm, ngữ pháp

và từ ngữ. Riêng học sinh lớp 5 đã nắm được một số quy tắc ngữ pháp cơ bản.

Tuy nhiên, khi giải toán do bị chi phối bởi các dữ kiện, giả thiết nên trình bày

bài giải thường mắc sai lầm như : sai ngữ pháp, chưa rõ ý, lủng củng. Có em

chưa hiểu từ dẫn đến hiểu sai đề và làm lạc đề.

3- Vai trò của tốn chuyển động đều

Là một bộ phận của mơn tốn ở Tiểu học, Tốn chuyển động đều có vị trí

vai trò chung, cũng như vị trí vai trò riêng của nó, và biểu hiện cụ thể ở những

đặc điểm sau:

* Dạy giải bài tốn chuyển động đều góp phần bồi dưỡng và phát triển

năng lực trí tuệ một cách tồn diện.

Mỗi bài tốn đưa ra là một lần học sinh phải sử dụng rất nhiều các thao tác

trí tuệ nhằm giải quyết các tình huống có vấn đề xảy ra. Toán chuyển động đều

là một trong những loại toán khá phức tạp, thể loại đa dạng, phong phú. Vì thế

đứng trước một bài tốn chuyển động, học sinh phải phát huy cao độ tính năng

động của các thao tác tư duy. Qua đó giúp học sinh giải quyết được các yêu cầu

của bài toán. Đồng thời các em thấy được ý nghĩa của bài toán với hệ thống kiến

thức đã học và chuyển những kinh nghiệm, kiến thức vừa có vào hệ thống kinh

nghiệm, kiến thức của bản thân.

* Dạy giải các bài tốn chuyển động đều góp phần hình thành kiến thức,

kĩ năng cơ bản.

Học sinh Tiểu học chưa đủ khả năng lĩnh hội kiến thức qua lý thuyết

thuần túy. Hầu hết các em phải đi qua các bài toán, các sơ đồ trực quan cụ thể,

các em mới dễ dàng rút ra các kết luận, các khái niệm và các nội dung kiến thức

cơ bản. Các kiến thức đó sau khi hình thành lại được củng cố áp dụng vào các

bài tập với mức độ nâng cao dần từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.



Nằm trong xu thế đó, tốn chuyển động đều không chỉ giúp học sinh đào

sâu, củng cố kiến thức cơ bản về loại toán này như đại lượng thời gian, độ dài,

vận tốc, mà nó cũng có nhiều kiến thức kĩ năng cơ bản khác, biểu diễn và nhất

là kiến thức đại lượng tỉ lệ thuận và đại lượng tỉ lệ nghịch, kĩ năng tóm tắt bài

tốn bằng sơ đồ, kĩ năng tính tốn…

* Dạy giải các bài tốn chuyển động đều góp phần bồi dưỡng năng khiếu

tốn học.

Là một trong những thể loại tốn điển hình có tính mũi nhọn, bài toán

chuyển động đều đặc biệt quan trọng. Nó góp phần khơng nhỏ trong việc phát

hiện học sinh năng khiếu qua các kì thi, bởi vì đi sâu tìm hiểu bản chất của loại

bài tốn này ta thấy đây là loại tốn phức tạp, kiến thức khơng nặng, nhưng

nhiều bất ngờ ở từng bước giải. Thực tế cho thấy gần đây loại toán này được sử

dụng khá rộng trong việc ra các đề thi và các tài liệu bồi dưỡng cho giáo viên

và học sinh.

* Dạy giải các bài toán chuyển động đều gây hứng thú toán học, giáo dục tư

tưởng tình cảm và nhân cách cho học sinh.

Ở bậc tiểu học nói chung và lớp 5 nói riêng do đặc điểm nhận thức lứa tuổi này

các em thường chỉ hay làm những việc mình thích, những việc nhanh thấy kết

quả.

Trong q trình hệ thống hóa các bài tốn chuyển động đều, tơi thấy để đi

được đến bước dùng cơng thức cơ bản để tìm đáp số của bài tốn, học sinh phải

xử lí rất nhiều các chi tiết phụ ( rất quan trọng ) của bài toán.Ở mỗi bài lại có

các bước phân tích, tìm tòi lời giải khác nhau. Điều này đòi hỏi mỗi học sinh

phải tích cực, chủ động sáng tạo. Các tình huống của bài tốn phải xử lí linh

hoạt, chính xác để cuối cùng đưa bài toán về dạng đơn giản về điển hình.

Qua giải bài tốn chuyển động đều, khơng chỉ tạo được sự hứng thú say

mê ở mỗi học sinh, mà cũng tạo cho các em một phong cách làm việc khoa học

chính xác, cần mẫn, sáng tạo.

* Dạy giải các bài tốn chuyển động đều góp phần cung cấp vốn hiểu biết về

cuộc sống cho học sinh tiểu học.

Các kiến thức trong toán chuyển động đều rất thực tế và gần gũi với thực tế

hàng ngày như: quãng đường, thời gian, vận tốc…sẽ được tính tốn và áp dụng

ra sao…Chính những bài toán chuyển động đều sẽ đáp ứng được u cầu đó.

* Qúa trình đi sâu tìm hiểu vai trò của việc dạy giải tốn chuyển động đều đó

chứng minh được rằng :

Q trình dạy giải tốn nói chung và dạy giải tốn chuyển động nói riêng



góp phần khơng nhỏ vào việc phát triển và hình thành nhân cách tồn diện cho

học sinh.

4- u cầu của tốn chuyển động đều lớp 5.

* Về kiến thức:

Toán chuyển động đều là loại tốn khó nhưng đối với học sinh lớp 5 yêu cầu

chỉ ở mức độ đơn giản. Tuy vậy tôi đã nghiên cứu và phân loại một số dạng toán

thường gặp thành các dạng cụ thể và yêu cầu học sinh nắm chắc quy tắc, biết

vận dụng để giải các bài toán chuyển động đều đơn giản như:

+ Quy tắc tìm vận tốc.

+ Quy tắc tìm quãng đường.

+ Quy tắc tìm thời gian.

+ Tìm thời gian khi hai xe chuyển động cùng chiều đuổi kịp nhau.

+ Tìm quãng đường khi hai xe chuyển động ngược chiều gặp nhau.

*



Về kĩ năng:



Biết áp dụng cơng thức tính qng đường, vận tốc, thời gian một cách thành

thạo, thực hiện phép tính chính xác, có thói quen tóm tắt bài tốn chuyển động

đều. Sử dụng thành thạo các đơn vị đo độ dài, thời gian. Nắm chắc đơn vị đo

quãng đường là km/h hoặc m/phút, đơn vị đo thời gian là giờ, phút, giây. Biết

phân biệt giữa hai khái niệm: thời điểm và khoảng thời gian.

Tiểu kết :Từ những vấn đề nghiên cứu trên tơi nhận thấy đặc điểm tâm sinh

lí của học sinh còn hạn chế, thấy được vai trò của dạng tốn chuyển động đều,

và thấy được đây là một dạng toán khó đối với các em. Từ đó đã thúc đẩy tơi tìm

tòi một số biện pháp để giúp các em nắm chắc kiến thức của dạng toán này.



CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC TOÁN CHUYỂN

ĐỘNG ĐỀU Ở LỚP 5

Để thấy rõ tình hình thực trạng của việc dạy và học toán chuyển động đều

cũng như những sai lầm mà học sinh thường mắc phải, tôi đã tiến hành khảo sát

trên 2 lớp 5 của trường.Tôi chọn lớp 5A là lớp tiến hành dạy thực nghiệm, lớp

5B là lớp đối chứng.

Tôi cho học sinh làm một phiếu điều tra với các nội dung sau:

Câu 1: Điền vào ô trống trong bảng sau:

S (km)

150

146

v ( km/h)

42

20

36,5

t ( giờ)

3

4

5

Câu 2: Một người đi xe đạp trong 45 phút với vận tốc 14,5km/ giờ. Tính

qng đường đi được của người đó.

Câu 3: Quãng đường AB dài 154 km. Hai ô tô khởi hành cùng một lúc.

Một xe đi từ A đến B với vận tốc 35km/ giờ. Một người đi từ B đến A với vận

tốc 32km/ giờ. Hỏi kể từ lúc bắt đầu đi sau mấy giờ hai ô tô gặp nhau ?

Câu 4: Xe máy đi hết chiếc cầu dài 1250m trong 2 phút. Tính vận tốc của xe

máy với đơn vị đo là km/giờ.

Với đề bài trên tôi thu được kết quả như sau:

Đạt

Chưa đạt

Lớp

Sĩ số

SL

%

SL

%

Lớp đối chứng 5B

42

27

64,2

15

35,8

Lớp thực nghiệm 5A

40

25

62,5

15

37,5

Qua kết quả khảo sát thì thấy rằng lớp 5B có 27 em đạt, chiếm 64,2% còn

lớp 5A có 25 em đạt, chiếm 62,5% mặc dù có sự chênh lệch giữa trình độ của

hai lớp nhưng khơng đáng kể.

* Qua phiếu điều tra trên tơi còn phát hiện ra học sinh có những sai lầm

như sau:

- Do thời gian phân bố cho loại tốn chuyển động đều ít nên học sinh

không được củng cố rèn luyện kĩ năng giải loại toán này một cách hệ thống, sâu

sắc, việc mở rộng hiểu biết và phát triển khả năng tư duy, trí thơng minh, óc

sáng tạo cho học sinh còn hạn chế.Có những học sinh còn lúng túng trong việc

đổi đơn vị đo, hoặc không chú ý mà cứ làm ngay như ở bài 2: 45 x 14,5 = 652,5

km.

- Học sinh chưa được rèn luyện giải theo dạng bài nên khả năng nhận

dạng bài, và vận dụng phương pháp giải cho từng dạng bài chưa có. Dẫn đến



học sinh lúng túng, chán nản khi gặp loại toán này.

- Học sinh chỉ nhớ công thức và vận dụng công thức làm bài, chứ chưa có

sự sáng tạo trong từng bài tốn tình huống chuyển động cụ thể có trong cuộc

sống.

- Khi làm bài nhiều em không đọc kĩ đề bài, suy nghĩ thiếu cẩn thận, hấp

tấp nên bỏ sót dữ kiện đề bài cho. Hoặc không chú ý đến sự tương ứng giữa các

đơn vị đo của các đại lượng khi thay vào cơng thức tính dẫn đến sai.

- Nhiều học sinh không nắm vững kiến thức cơ bản, tiếp thu bài máy móc,

chỉ làm theo mẫu chứ chưa tự suy nghĩ để tìm cách giải.

Tiểu kết: Trước thực trạng như vậy, tôi đã áp dụng một số biện pháp giúp

học sinh làm tốt các bài toán về chuyển động đều ở lớp 5 nhằm nâng cao hiệu

quả dạy học, góp phần tăng tỉ lệ học sinh đạt kết quả tốt ở dạng toán này.



CHƯƠNG 3

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LÀM TỐT CÁC BÀI TOÁN

CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU Ở LỚP 5

3.1. Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh cách đổi đơn vị đo thời gian.

Trong nhiều năm dạy học sinh khối 5, tôi nhận thấy một sai lầm mà nhiều

học sinh mắc phải khi giải toán chuyển động đều đó là các em chưa nắm vững

cách đổi đơn vị đo thời gian. Đa số các bài toán về chuyển động đều yêu cầu

phải đổi đơn vị đo trước khi tính tốn. Tơi chủ động cung cấp cho học sinh cách

đổi như sau:

* Giúp học sinh nắm vững bảng đơn vị đo thời gian, mối liên hệ giữa các đơn

vị đo cơ bản.

1

ngày = 24 giờ.

1 giờ = 60 phút.

1

phút = 60 giây

* Hướng dẫn học sinh cách đổi từ đơn vị nhỏ ra đơn vị lớn.

Bài tập 3/142(SGK toán 5): Ong mật có thể bay được với vận tốc 8km/giờ.

Tính quãng đường của ong mật bay được trong 15 phút.

Trước khi giải các em cần đổi 15 phút = ...giờ

Hướng dẫn học sinh:

- Hỏi 1 giờ bằng bao nhiêu phút? ( 1 giờ = 60 phút)

- Muốn đổi 15 phút ra giờ ta làm như thế nào? ( lấy 15 chia cho 60)

Ở ví dụ trên ta thực hiện 15 : 60 =

Vậy 15 phút =



1

= 0,25.

4



1

giờ = 0,25 giờ.

4



Như vậy muốn đổi từ đơn vị thời gian nhỏ ra đơn vị lớn ta thực hiện phép

chia, hai đơioin vị đó gấp nhau bao nhiêu thì ta chia cho bấy nhiêu.

*Hướng dẫn học sinh cách đổi từ đơn vị lớn ra đơn vị nhỏ.

VD: Đổi



1

giờ = ... phút.

4



- Tìm tỉ số giữa 2 đơn vị đo thời gian này là

1gio

= 60

1 phut



KL : Ta nhân số phải đổi với

tỉ số của 2 đơn vị.



Ở ví dụ trên ta thực hiện như sau:

1

x 60 = 15

4



Vậy



1

giờ = 15 phút.

4



Trong thực tế học sinh gặp những bài tốn khơng chỉ đổi đơn thuần như



thế các em còn phải đổi và hiểu bản chất của km/giờ, km/phút, m/phút.

* Hướng dẫn học sinh cách đổi các đơn vị đo vận tốc từ km/giờ sang

km/phút sang m/phút.

VD: 120 km/ giờ = ...km/ phút = ... m/

phút.

Muốn đổi các đơn vị đo vận tốc các em

làm theo 2 bước sau:

* Thực hiện đổi từ km/giờ sang km/phút.

Thực hiện đổi 120 km/giờ = ...km/phút.

Tỉ số 2 đơn vị giờ và phút là 60.

120 : 60 = 2

Vậy 120 km/giờ = 2 km/phút.

Lưu ý cách đổi: Muốn đổi từ km/giờ sang km/phút ta lấy số phải đổi chia

cho 60.

* Thực hiện đổi từ km/phút sang m/phút.

- Đổi 2 km/phút = ... m/phút.

- Tỉ số giữa 2 đơn vị km và m là 1000 (Vì 1km = 1000 m). 2 x 1000 =

2000.

* Vậy 2 km/phút = 2000 m/phút.

Lưu ý cách đổi: Muốn đổi từ km/phút sang m/phút ta lấy số phải đổi nhân

với 1000. Vậy 120 km/giờ = 2 km/phút = 2000 m/phút.

* Hướng dẫn học sinh cách đổi từ m/phút sang km/phút, sang km/giờ.

Ta tiến hành ngược với cách đổi trên.

Ví dụ: 2000 m/phút = ...km/phút = ...km/giờ.

- Tỉ số 2 đơn vị giữa km và m là: 1000. Ta có: 2000 : 1000 = 2

Vậy 2000 m/phút = 2 km/phút.

- Tỉ số 2 đơn vị giờ và phút là 60. Ta có: 2 x 60 = 120.

Vậy 2 km/phút = 120 km/giờ.

Vậy 2000 m/phút = 2 km/phút = 120 km/giờ. Ta cũng có thể hướng dẫn

học sinh dựa vào bản chất đổi như sau :

Ví dụ: Bài 2/144(SGK toán 5): Một xe máy đi qua chiếc cầu dài 1250m hết

2 phút. Tính vận tốc của xe máy với đơn vị đo là km/giờ.

Đi 1250m hết 2 phút => vận tốc là: 1250 : 2 = 625m/phút

Ta phải đổi: v = 625 m/phút ra v = ….km/giờ.

Ta có: 625m /phút = 0,625km/ phút nghĩa là : xe máy đi một phút được

0,625km => Vậy đi 60 phút( tức 1 giờ) được: 0,625 X 60 =37,5 km cuối cùng

có:



v = 625 m/phút hay v = 37,5 km/giờ.

3.2. Biện pháp 2: giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản trong sách giáo

khoa với các đại lượng: vận tốc, quãng đường, thời gian.

Để làm được điều này thì ngay trên lớp, khi dạy bài mới tôi đã chú trọng

giúp học sinh hiểu rõ bản chất toán học, hiểu rõ ý nghĩa, bản chất của nội dung

kiến thức. Hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu kiến thức bằng hiểu biết của mình

dựa trên những gợi ý, rồi tơi mới hướng dẫn học sinh chốt kiến thức.

Trong nội dung bài mới của toán chuyển động đều, khái niệm vận tốc là

một khái niệm khó hiểu, trừu tượng đối với học sinh nên khi dạy bài này tôi đặc

biệt chú ý. Để học sinh hiểu rõ, nắm chắc bản chất của vận tốc, bằng các ví dụ

cụ thể trong sách giáo khoa, giúp học sinh hiểu : Nếu đem chia quãng đường đi

được cho thời gian đi qng đường đó thì sẽ được vận tốc trung bình của động

tử. Hay gọi tắt là vận tốc của động tử.

Vận tốc = Quãng đường : thời gian

Để học sinh hiểu rõ ý nghĩa của vận tốc là chỉ rõ sự chuyển động nhanh

hay chậm của động tử tơi đã lấy 1 ví dụ để hướng dẫn học sinh như sau:

Ví dụ : Hai người cùng xuất phát một lúc từ A đi đến B. Mỗi giờ người

thứ nhất đi được 15 km, người thứ hai đi được 10 km. Hỏi ai đến B trước?

Bằng sơ đồ đoạn thẳng:

Người thứ nhất A



B

QĐ trong 1 giờ: 15 km



Người thứ hai



A



B



QĐ trong 1 giờ : 10 km

Từ sơ đồ học sinh dễ dàng nhận thấy người đến B trước là người đi nhanh

hơn. Qua đó học sinh hiểu rõ bản chất “Vận tốc chính là quãng đường đi được

trong một đơn vị thời gian.”

* Trong quá trình dạy học hình thành quy tắc, cơng thức tính tôi đặc biệt

lưu ý học sinh những vấn đề sau để học sinh tránh được những nhầm lẫn khi làm

bài.

- Đơn vị vận tốc phụ thuộc vào đơn vị quãng đường và đơn vị thời gian.

Nếu quãng đường là ki-lô-mét, thời gian được tính theo giờ thì đơn vị

vận tốc phải là km/giờ. Còn quãng đường là mét, thời gian tính theo phút thì đơn

vị vân tốc là m/phút. Tơi đã khái quát lại như sau:



s



km



t



giờ



v



km/giờ



s



m



t



phút v



m/phút



- Đơn vị thời gian phụ thuộc vào đơn vị quãng đường và vận tốc.

Chẳng hạn:

s



km



v



km/giờ



t



giờ



- Đơn vị quãng đường phụ thuộc vào đơn vị vận tốc và thời gian.

Chẳng hạn:

v



km/giờ



v



m/phút



t

giờ

s

km

t

phút

s

m

- Các đơn vị của đại lượng khi thay vào công thức phải tương ứng với

nhau. Số đo thời gian khi thay vào công thức phải viết dưới dạng số tự nhiên, số

thập phân, phân số.

Khi dạy học sinh tôi thường nhắc các em lưu ý khi viết kí hiệu vận tốc

cần viết chính xác để tránh nhầm với ký hiệu thể tích một hình(V) mà các em

đã được học.

3.3. Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh giải các bài tập theo từng dạng bài cụ

thể.

Để giúp các em nắm chắc kiến thức giáo viên cần đưa về các dạng bài cụ

thể giúp học sinh khái quát được và nhớ lâu.

- Trong phần này, trước tiên tôi khắc sâu cho học sinh một số cách tính và

cơng thức sau:

* Muốn tính vận tốc ta lấy quãng đường chia cho thời gian.

Công thức: v =



s

t



- v: Vận tốc.

- s: Quãng đường.

- t: Thời gian.

* Muốn tính quãng đường ta lấy vận tốc nhân với thời gian.

s=vxt

- s: Quãng đường.

- v: Vận tốc.

- t: Thời gian.

* Muốn tính thời gian ta lấy quãng đường chia cho vận tốc.



t=



s

v



- t: Thời gian.

- s: Quãng đường.

- v: Vận tốc.

Đồng thời tôi giúp học sinh nắm vững mối quan hệ giữa các đại lượng vận

tốc, quãng đường, thời gian.

- Khi đi cùng vận tốc thì quãng đường càng dài thì thời gian đi càng lâu .

- Khi đi cùng thời gian thì quãng đường càng dài thì vận tốc càng lớn

- Khi đi cùng quãng đường thì thời gian ngắn thì vận tốc nhanh, thời gian

dài thì vận tốc chậm.

( Phải dùng từ như vậy vì tốn tỉ lệ thuận, tỉ lệ nghịch các em không được học

trong chương trình tiểu học).

* Khi học sinh đã nắm chắc các công thức trên, tôi phân thành các dạng cơ bản:

Dạng 1: Những bài toán đầu bài cho đã tường minh chỉ cần áp dụng cơng

thức là tính được.

Đây là dạng toán đơn giản nhất. Học sinh dễ dàng vận dụng hệ thống

cơng thức để giải.

Ví dụ: Bài tập 1/139 Tốn 5.

Một người đi xe máy trong 3 giờ được 105km. Tính vân tốc của người đi

xe máy.

- Với đề bài trên tôi hướng dẫn cho học sinh như sau:

* Đọc kĩ u cầu của đầu bài.

* Phân tích bài tốn.

+ Đề bài cho biết gì ? Hỏi gì ?

+ Tính vận tốc theo đơn vị nào ?

+ Áp dụng công thức nào để tính ?

- Qua đó học sinh dễ dàng vận dụng cơng thức để tính.

Bài giải

Vận tốc của người đi xe máy là: 105 : 3 = 35 ( km/ giờ )

Đáp số: 35 km/giờ.

Ví dụ 2: Bài tập 2/141 Toán 5.

Một người đi xe đạp trong 15phút với vận tốc 12,6 km/giờ. Tính quãng

đường đi được của người đó ?

- Với ví dụ 2 tương tự ví dụ 1. Chúng ta chỉ cần lưu ý học sinh đổi đơn vị

thời gian bài cho là phút, đơn vị vận tốc là km/giờ. Chính vì vậy cần phải đổi

15 phút =



1

giờ = 0,25 giờ.

4



- Học sinh trình bày bài giải:

Quãng đường người đó đi được là:

15phút =



1

giờ = 0,25 giờ.

4



12,6 x 0,25 = 3,15 ( km )

Đáp số: 3,15 km.

Cách giải chung:

- Nắm vững đề bài.

- Xác định công thức áp dụng.

- Lưu ý đơn vị đo.

Dạng 2: Các bài tốn áp dụng cơng thức có các yếu tố đề cho chưa

tường minh.

Ví dụ 1: Bài tập 4/140( SGK toán 5).

Một xe máy đi từ 6 giờ 30phút đến 7giờ 30phút được quãng đường 40km.

Tính vận tốc của xe máy.

- Với bài tốn trên tơi tiến hành hướng dẫn học sinh thông qua các bước

sau:

* Đọc kĩ yêu cầu đề bài.

* Phân tích đề tốn.

/?/ Đề bài cho biết gì ?Hỏi gì ?

/?/ Để tính vận tốc xe máy cần biết yếu tố gì ?

( Quãng đường, thời gian xe máy đi )

/?/ Để tính thời gian xe máy đi ta cần biết yếu tố nào ?

( Thời gian xuất phát, thời gian đến nơi )

Giúp học sinh nắm rõ q trình phân tích bài tốn bằng sơ đồ sau:

Vận tốc xe máy

Quãng đường



Thời gian đi xe máy



Quãng đường



Thời gian đi xe máy



Từ sơ đồ phân tích trên học sinh có thể tổng hợp tìm cách giải.

Thời gian xuất phát



Thời gian đến nơi



Thời gian đi trên đường



Quãng đường



Vận tốc xe máy



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Kh nng tri giỏc ca hc sinh lp 5

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×