Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

-



Lập kế hoạch giải



-



Thực hiện kế hoạch giải



-



Kiểm tra, nghiên cứu sâu hơn lời giải bài toán



1.1.2 Các bước giải một bài tốn có lời văn

a) Tìm hiểu kĩ đề bài:

Thực chất đây là bước học sinh đọc kĩ đề bài, hiểu rõ đề bài, xác định

đâu là yếu tố đã cho, đâu là yếu tố phải tìm. Khi đọc bài toán phải hiểu thật kĩ

một số từ, thuật ngữ quan trọng chỉ rõ tình huống tốn học được diễn đạt theo

ngơn ngữ thơng thường ví dụ “bay đi”, “thưởng 2 bút chì”,…Nếu bài tốn có

thuật ngữ nào mà học sinh chưa hiểu rõ, giáo viên cần hướng dẫn để học sinh

hiểu được nội dung và ý nghĩa của từ đó ở trong bài tốn đang làm.

Sau đó, học sinh “thuật lại” vắn tắt bài tốn mà khơng cần phải đọc

ngun văn bài tốn đó.

b) Lập kế hoạch giải tốn:

Bước này gắn liền với việc phân tích các dữ kiện và yếu tố phải tìm của

bài tốn nhằm xác lập mối quan hệ giữa chúng để phát hiện ra các phép tính

cần thực hiện. Hoạt động này thường diễn ra như sau:

-



Minh họa bài tốn bằng tóm tắt đề tốn dùng sơ đồ đoạn thẳng, dùng hình vẽ

hay dùng biểu đồ ven…



-



Lập kế hoạch giải tốn nhằm xác định trình tự giải quyết thực hiện các phép

tính số học, có 2 hình thức: đi từ câu hỏi của bài tốn đến các số liệu hoặc

đi từ các số liệu đến câu hỏi của bài toán.

c) Thực hiện kế hoạch giải tốn:

Dựa vào kết quả phân tích bài tốn ở bước lập kế hoạch giải tốn, thực

hiện các phép tính để tìm ra đáp số có kèm theo lời giải.

d) Kiểm tra và nghiên cứu sâu bài toán:



Về nguyên tắc, bước này khơng phải là bước bắt buộc khi trình bày lời

giải bài tốn và học giải tốn, bước này có mục đích:

-



Kiểm tra, rà sốt lại cơng việc giải tốn.



-



Tìm cách giải khác và so sánh các cách giải.



-



Khai thác bài toán: tạo ra bài toán ngược với bài toán đã cho rồi giải bài tốn

ngược đó.

Tuy nhiên, đây chỉ là các bước giải một bài toán cơ bản. Trong thực tế

khi học toán học sinh gặp rất nhiều bài tốn khó dễ khác nhau khơng thể tuần

tự 4 bước trên mà giải ngay được. Khi gặp các bài toán như vậy cần phải có

một phương pháp giải tốn cụ thể để giải. Và qua tìm hiểu nghiên cứu, các

chuyên gia toán học đã thấy rằng trong toán tiểu học có rất nhiều phương

pháp giải tốn có lời văn.

1.2 Một số phƣơng pháp giải tốn có lời văn

-



Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng.



-



Phương pháp rút về đơn vị - Phương pháp tỷ số.



-



Phương pháp tỷ lệ.



-



Phương pháp thử chọn.



-



Phương pháp khử.



-



Phương pháp giả thiết tạm.



-



Phương pháp thay thế.



-



Phương pháp ứng dụng nguyên lý Đi-rích-lê.



-



Phương pháp diện tích.



-



Phương pháp tính ngược từ cuối.



-



Phương pháp dùng chữ thay số.



-



Phương pháp lập bảng.



-



Phương pháp biểu đồ ven.



-



Phương pháp suy luận đơn giản.



-



Phương pháp lựa chọn tình huống.



Mỗi phương pháp trên đều có những đặc điểm riêng, phạm vi áp dụng

và ưu điểm, nhược điểm riêng. Cho nên trong quá trình dạy học, giáo viên cần

giới thiệu đầy đủ cho học sinh các phương pháp này để các em có thể vận

dụng vào giải tốn một cách linh hoạt, hợp lý và có hiệu quả hơn. Đồng thời,

những phương pháp này được coi là những cơng cụ để giải tốn rất hữu hiệu,

đặc biệt là phương pháp giả thiết tạm.

1.2.1 Phương pháp giả thiết tạm ở Tiểu học

a) Giả thiết tạm

Theo Từ điển tiếng Việt [14, 482] giải nghĩa “giả thiết” là điều cho

trước trong một định lí hay của một bài tốn, từ đó phân tích, suy luận để tìm

ra kết luận của định lý hay để giải bài tốn. Nó khác với “giả thuyết”, ta có

thể hiểu “giả thuyết” là điều nêu ra trong khoa học để giải thích một hiện

tượng tự nhiên nào đó và tạm được chấp nhận, chưa được kiểm nghiệm,

chứng minh. Hay theo cuốn Lôgic học đại cương của Vương Tất Đạt, Nxb

ĐHQGHN, định nghĩa “giả thuyết” là những giả định có căn cứ khoa học về

nguyên nhân hay các mối liên hệ có tính quy luật của hiện tượng hay dự kiện

nào đó của tự nhiên, xã hội và tư duy.

Còn chữ “tạm” trong chữ “giả thiết tạm” có nghĩa là tạm thời, là nhất

thời. Từ đó, ta hiểu “giả thiết tạm” là điều khơng có trong dữ kiện của bài

toán, được tạm thời đưa ra để làm điểm xuất phát cho lập luận nhằm tìm tòi

lời giải của bài toán. Giả thiết tạm là một phương pháp để giải toán ở Tiểu

học khi học sinh chưa được học giải tốn bằng cách lập phương trình.

Bên cạnh đó theo một số nhà nghiên cứu, họ cho rằng “giả thiết tạm

trong một bài tốn” là q trình giải toán ở Tiểu học nhiều khi ta phải dùng



đến mẹo để làm. Cái mẹo này chính là sự suy luận, biến đổi bài tốn từ khó

đến dễ, từ phức tạp trở thành đơn giản. “Giả thiết tạm” chính là việc người

làm tốn giả thiết ra tình huống trong bài tốn nhiều khi không đúng yêu cầu

đề ra, không đúng với thực tế cuộc sống. Ta chỉ giả thiết tạm nó xảy ra để giải

quyết bài tốn.

Ví dụ một bài tốn quen thuộc:

“Vừa gà vừa chó

Bó lại cho tròn

Ba mươi sáu con

Một trăm chân chẵn

Hỏi bao nhiêu gà, bao nhiêu chó?”

Ở bài tốn này, ta có thể đưa ra một số giả thiết tạm như sau: nếu cả 36

con đều là gà; nếu cả 36 con đều là chó; hay giả thiết tạm gà chỉ có 1 chân,

hoặc chó chỉ có 2 chân,…khi đó số chân thừa, thiếu ra sao. Từ đó phân tích để

tìm ra đáp số của bài tốn.

b) Phương pháp giả thiết tạm

Phương pháp giả thiết tạm là phương pháp mà ta tưởng tượng ra các

tình huống vơ lý với thực tế, các tình huống khơng có thật trong cuộc sống (gà

một chân, chó 2 chân…) nhằm đưa bài toán về dạng cơ bản đã biết cách giải.

Phương pháp này thường dùng với bài tốn có 2, 3, 4 đối tượng (người,

vật…) có những đặc điểm được biểu thị bằng 2, 3, 4 số lượng chênh lệch

nhau. Chẳng hạn hai công cụ lao động năng suất khác nhau, ba loại giá tiền

khác nhau, hai chuyển động có hai vận tốc khác nhau,…

Phương pháp chung khi giải bài toán này: ta thử đặt ra trường hợp cụ

thể nào đó không xảy ra, không phù hợp với điều kiện bài tốn, một khả năng

thậm chí một tình huống vơ lý trong cuộc sống. Tất nhiên tình huống ấy chỉ là



tạm thời nhưng phải tìm ra giả thiết ấy nhằm đưa bài toán về dạng quen thuộc

đã biết cách giải hay dựa trên cơ sở nào đó để tiến hành lập luận mà suy ra cái

phải tìm. Chính vì vậy, phương pháp này đòi hỏi người học phải có óc sáng

tạo, trí tưởng tượng phong phú, linh hoạt.

Xét một bài tốn đơn giản làm ví dụ :

Lần thứ nhất mua 1 kg gạo và 2 kg thịt, hết 33000 đồng. Lần thứ hai

mua 2 kg gạo và 3 kg thịt hết 51000 đồng. Tính giá 1 kg gạo và 1 kg thịt?

Ta đưa ra giả thiết tạm là: giả sử mua gấp đôi lần thứ nhất, tức 2 kg gạo

và 4 kg thịt. Khi đó phải trả gấp đơi tiền là: 33000 x 2 = 66000 (đồng).

Nếu mua như giả thiết tạm đó thì so với lần thứ hai ta mua nhiều hơn 1

kg thịt và phải trả nhiều hơn là: 66000 - 51000 = 15000 (đồng).

Từ đó rút ra 1 kg thịt là: 15000 đồng. Sau đó ta tìm giá 1 kg gạo là 300

đồng.

Những bài toán giải bằng phương pháp giả thiết tạm đơi khi có thể giải

được bằng các phương pháp khác. Chẳng hạn như bài tốn tìm hai số khi biết

hai hiệu số có thể giải bằng phương pháp giả thiết tạm, phương pháp sơ đồ

đoạn thẳng, phương pháp dùng chữ thay số. Tuy nhiên, có bài toán giải bằng

phương pháp giả thiết tạm sẽ ngắn gọn, dễ hiểu hơn (bài tốn cổ, bài tốn

hình học,…).

Ngồi ra trong q trình học số học tơi thấy phương trình Điôphăng bậc

nhất 2 ẩn (ax + by = c với a, b, c là hệ số; x,y là ẩn) có ứng dụng trong giải

toán giả thiết tạm. Điều này cho thấy khi giải tốn bằng phương pháp giả thiết

tạm có thể giúp các em rèn luyện kĩ năng và làm quen với kiến thức mới

(phương trình bậc nhất 2 ẩn ở THCS mới học).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×