Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Lý luận về BTVL

Lý luận về BTVL

Tải bản đầy đủ - 0trang

- BTVL là một trong những phương tiện hình thành kiến thức mới đảm

bảo cho học sinh nắm được những kiến thức mới một cách sâu sắc và vững

chắc .

- BTVL là một phương tiện để pháp triển tư duy, óc tưởng tượng. Bởi

trong quá trình giải quyết tình huống cụ thể do bài tập đề ra cho học sinh

phải vận dụng các thao tác tư duy để tự lực giải quyết vấn đề, do đó hình

thành ở học sinh tính độc lập trong suy luận kiên trì khắc phục khó khăn.

- BTVL là phương pháp ơn tập, củng cố kiến thức đã học. Thông thường

khi giải bài tập, học sinh không chỉ đơn thuần vận dụng các kiến thức của

bài vừa học mà phải nhớ lại các kiến thức cũ đã học có liên quan, có khi

phải vận dụng tổng hợp các kiến thức đã học trong một chương, phần. Khi

đó học sinh sẽ nắm được mối liên hệ các kiến thức cơ bản với nhau, nhờ đó

ghi nhớ sâu sắc hơn các kiến thức đã học.

- BTVL là một trong những phương tiện kiểm tra, đánh giá mức độ nắm

vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo và thói quen của học sinh một cách chính

xác. Khi vận dụng kiến thức để giải bài tập, học sinh không những phải

hiểu kiến thức có liên quan mà còn phải biết vận dụng sáng tạo vào tình

huống cụ thể để tìm ra lời giải. Vì vậy sẽ giúp pháp triển được trình độ trí

tuệ, làm bộc lộ những khó khăn, sai lầm của học sinh trong học tập, giúp

vượt qua những khó khăn, khắc phục sai lầm đó .

- BTVL có tác dụng giáo dục tư tưởng, đạo đức, kĩ thuật tổng hợp và

hướng nghiệp cho học sinh .

1.3. Phân loại BTVL theo phương thức giải

Có nhiều cách phân loại BTVL, tuỳ theo cách chọn dấu hiệu để phân loại.

Cách phổ biến hơn cả là dựa vào phương thức giải. Theo đó người ta chia

BTVL thành những loại sau: Bài tập định tính, bài tập định lượng, bài tập



đồ thị, bài tập thí nghiệm. Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu chúng tôi

chỉ quan tâm đến phương án phân loại BTVL theo phương thức giải và chỉ

sử dụng 2 loại bài tập là bài tập định tính và bài tập định lượng

1.3.1. Bài tập định tính

Đó là những BTVL mà khi giải chúng, học sinh khơng cần tính tốn.

Nếu có chỉ là những tính nhẩm, đơn giản, chủ yếu dựa vào suy luận logic

để giải bài tập

Việc giải các bài tập định tính đòi hỏi học sinh phải phân tích bản chất

các hiện tượng vật lý, nhờ đó thấy được mức độ lĩnh hội của học sinh về đề

tài nghiên cứu, phát triển tư duy logic, năng lực sáng tạo, thói quen vận

dụng kiến thức để giải các hiện tượng vật lý. Có những bài tập định tính chỉ

vận dụng một hoặc hai khái niệm, định luật đã học là giải quyết được,

nhưng có những bài tập với nội dung phức tạp đòi hỏi nhiều kiến thức vật

lý mới giải quyết được

Hiện nay có nhiều tài liệu phương pháp dạy học nói về việc sử dụng bài

tốn định tính trong việc giảng dạy và có nhiều cơng trình nghiên cứu

chứng minh được sự cần thiết phải sử dụng chúng trong dạy học bộ mơn

1.3.2. Bài tập định lượng

Đó là những bài tập mà muốn giải được chúng phải thực hiện một loạt

các phép tính. Dạng bài tập này được học sinh giải thường xuyên nhất

Theo mục đích dạy học, bài tập tính tốn được chia thành bài tập tập

dượt và bài tập tổng hợp

Bài tập tập dượt là những bài tập đơn giản được sử dụng ngay sau khi

nghiên cứu một khái niệm, một định luật, một quy tắc vật lý nào đó



Bài tập tổng hợp là những bài tập phức tạp mà muốn giải được chúng

phải vận dụng nhiều khái niệm, nhiều định luật hoặc quy tắc, công thức

nằm ở nhiều bài, nhiều mục, thực hiện nhiều phần khác nhau của chương

trình. Bài tập tổng hợp thường tập trung vào các trọng tâm, trọng điểm của

chương trình, bài tập này ngồi mục đích chủ yếu là ơn tập, mở rộng, đào

sâu kiến thức của học sinh, đôi khi bài tập tổng hợp có tác dụng cho việc

nghiên cứu hiện tượng mới.

1.4. Phương pháp giải BTVL

Bước 1: Nghiên cứu đề bài

- Đọc kĩ đề bài

- Tìm hiểu các thuật ngữ mới quan trọng có trong đề bài

- Mã hóa đầu bài bằng các kí hiệu quen dùng

- Đổi đơn vị của các đại lượng trong cùng một hệ thống thống nhất

- Vẽ hình hoặc sơ đồ

Bước 2: Phân tích hiện tượng, quá trình vật lý và lập kế hoạch giải

- Mơ tả hiện tượng, q trình vật lý xảy ra trong tình huống nêu lên trong

đề bài, vạch ra các quy tắc định luật chi phối quá trình vật lý ấy

- Dự kiến những lập luận biến đổi toán học cần thực hiện nhằm xác lập

mối quan hệ giữa cái cho và cái tìm

Bước 3: Trình bày lời giải

- Viết phương trình các định luật và giải hệ phương trình có được để tìm

hệ số dưới dạng tổng qt. Biểu diễn các đại lượng đã cho.

- Thay các đại lượng bằng các số đã cho để tìm ẩn số, thực hiện phép

tính với độ chính xác cho phép.



Bước 4: Kiểm tra và biện luận kết quả.

- Kiểm tra kết quả ra các giá trị âm hay dương, đơn vị và tùy từng bài mà

khẳng định kết quả đó có thể chấp nhận được.

- Đưa ra cách giải khác

- Từ kết quả biện luận cho từng trường hợp khác nhau.

1.5. Nguyên tắc lựa chọn, xây dựng hệ thống BTVL cho mỗi đề tài,

chương, phần của giáo trình vật lý phổ thơng

- Các bài tập trong hệ thống bài tập phải được xắp xếp từ dễ đến khó, từ

đơn giản đến phức tạp và mối quan hệ giữa các khái niệm, đại lượng vật lý

sao cho học sinh hiểu được kiến thức, nắm được vững chắc và có khả năng

vận dụng kiến thức đó.

- Mỗi bài tập phải là một mắt xích trong hệ thống bài tập góp phần hồn

chỉnh kiến thức của học sinh; giúp họ nắm vững kiến thức rèn luyện kĩ

năng, kĩ xảo, thói quen vận dụng kiến thức đã chiếm lĩnh được và phát triển

được năng lực của học sinh trong việc giải quyết những vấn đề học tập và

thực nghiệm.

- Hệ thống bài tập phải góp phần khắc phục các khó khăn chủ yếu, sai

lầm mà học sinh mắc phải trong quá trình học tập.

- Mỗi bài tập sau phải đem lại cho học sinh một điều mới lạ nhất định và

một khó khăn vừa sức. Đồng thời, việc giải bài tập trước là cơ sở để giải

bài tập sau.

- Số lượng bài tập trong hệ thống phải phù hợp với thời gian quy định của

chương trình học và thời gian học ở nhà của học sinh.



1.6. Hướng dẫn học sinh giải BTVL

1.6.1. Cơ sở định hướng của việc hướng dẫn học sinh trong việc giải BTVL

Muốn cho việc hướng dẫn giải toán được định hướng một cách đúng

đắn giáo viên phải phân tích được phương pháp giải BTVL cụ thể, bằng

cách vận dụng những hiểu biết tư duy giải BTVL để xem xét việc giải bài

toán cụ thể. Mặt khác phải xuất phát từ mục đích sư phạm cụ thể của việc

cho học sinh giải BTVL để xác định kiểu hướng dẫn phù hợp. Có thể minh

họa điều vừa trình bày ở trên bằng sơ đồ sau:



Tư duy giải BTVL



Phân tích phương pháp giải BTVL cụPhương

thể

pháp hướng dẫn học s



Mục đích sư phạm



Xác định kiểu hướng dẫn



Dựa vào mục đích sư phạm người ta đưa ra các kiểu hướng dẫn:

1.6.2. Các kiểu hướng dẫn

1.6.2.1. Hướng dẫn theo mẫu (Algorit)

- Algorit là một bảng chỉ dẫn bao gồm các thoa tác (hoạt động sơ cấp)

được học sinh hiểu một cách đơn giá và nắm vững, được xác định một cách

rõ ràng, chính xác, chặt chẽ. Trong điều kiện đó chỉ rõ cần thực hiện những

hành động nào và theo trình tự nào để đi đến kết quả mong muốn.

- Ưu điểm: Đảm bảo cho học sinh giải bài tập một cách chắc chắn và rèn

luyện kỹ năng giải bài tập có hiệu quả.

- Hạn chế: Ít có khả năng rèn luyện cho học sinh khả năng tìm tòi, sáng

tạo, sự phát triển tư duy của học sinh bị hạn chế.



1.6.2.2. Hướng dẫn tìm tòi (hoạt động Ơrixtic)

- Hướng dẫn tìm tòi là kiểu hướng dẫn mang tính chất gợi ý cho học sinh

suy nghĩ tìm tòi cách giải quyết vấn đề và tự xác định các hoạt động cần

thực hiện để thu được kết quả.

- Ưu điểm: Kiểu hướng dẫn này được áp dụng khi cần giúp đỡ học sinh

vượt qua khó khăn để giải quyết bài tập, đồng thời đảm bảo phát triển tư

duy và rèn luyện kỹ năng học tự lực, tìm tòi cách giải quyết vấn đề, tránh

tình trạng giáo viên giải bài tập thay cho học sinh.

- Hạn chế: không phải bao giờ cũng đảm bảo cho học sinh giải bài tập

một cách chắc chắn.

1.6.2.3. Định hướng khái qt chương trình hóa.

- Đây cũng là kiểu hướng dẫn cho học sinh tìm tòi cách giải quyết nhưng

định hướng hoạt động tư duy của học sinh theo đường lối khách quan của

việc giải quyết vấn đề.

- Kiểu hướng dẫn này được áp dụng khi có điều kiện hướng dẫn tồn bộ

tiến trình hoạt động giải bài tập của học sinh, giúp học sinh tự lực giải bài

tập đã cho, dạy cho các em suy nghĩ trong quá trình giải bài tập và rút ra

phương pháp giải một loại bài tập nào đó.

- Ưu điểm: Rèn luyện tư duy của học sinh trong quá trình giải bài tập,

đảm bảo cho học sinh giải được bài tập đã cho.

- Hạn chế: Đòi hỏi sự hướng dẫn của giáo viên phải theo sát tiến trình

giải bài tập của học sinh nghĩa là không thể chỉ dựa vào những lời hướng

dẫn đã soạn mà phải kết hợp với trình độ học sinh để điều chỉnh sự giúp đỡ

cho thích hợp.



2. Mức độ yêu cầu nắm vững kiến thức cơ bản của chương VI.Sóng

ánh sáng

2.1. Sơ đồ cấu trúc

Tán sắc ánh sáng



Ánh sáng trắng Ánh sáng đơn sắc



Ứng dụng



Cầu vồng



Máy quang phổ lăng kính



Nhiễu xạ ánh sáng Giao thoa ánh sáng

Quang phổ

Bản chất sóng của ánh sáng

Phát xạ



Hấp thụ



Tia hồng ngoại



Các tia khơng nhìn thấy



Tia tử ngoại



§o bíc sãng bằng phơng pháp giao thoa



2.2. Ni dung ca chng

2.2.1. Hiện tượng sắc tán ánh sáng

2.2.1.1. Khái niệm hiện tượng tán sắc ánh sáng

Hiện tượng sắc tán ánh sáng là hiện tượng một chùm ánh sáng trắng

truyền qua lăng kính bị phân tách các thành phần đơn sắc khác nhau: tia

tím bị lệch nhiều nhất, tia đỏ bị lệch ít nhất

2.2.1.2. Giải thích hiện tượng tán sắc ánh sáng



SV: Bïi ThÞ



10



K31A



Tia X



- Ánh sáng trắng là hỗn hợp của nhiều ánh sáng đơn sắc có màu từ đỏ

đến tím

- Chiết suất của mọi mơi trường trong suốt có giá trị khác nhau, giá trị

nhỏ nhất đối với ánh sáng đỏ và giá trị lớn nhất đối với ánh sáng tím

2.2.1.3. Khái niệm về ánh sáng đơn sắc và ánh sáng trắng

- Ánh sáng đơn sắc là ánh sáng không bị tán sắc mà chỉ bị lệch khi đi

qua lăng kính.

- Ánh sáng trắng là hỗn hợp của nhiều ánh sáng đơn sắc, có màu từ đỏ

đến tím. Ánh sáng trắng là một trường hợp của ánh sáng phức tạp hay ánh

sáng đa sắc.

2.2.1.4. Ứng dụng của sự tán sắc ánh sáng

- Hiện tượng tán sắc ánh sáng được ứng dụng trong máy quang phổ để

phân tích một chùm sáng phức tạp hay một chùm sáng đa sắc do các nguồn

phát ra thành các thành phần đơn sắc.

- Giải thích hiện tượng cầu vồng, đó là vì trước khi tới mắt ta các tia

sáng mặt trời đã bị khúc xạ và bị phản xạ trong các giọt nước.

2.2.2. Hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng

2.2.2.1.



Khái niệm



Nhiễu xạ ánh sáng là hiện tượng ánh sáng không tuân theo định luật

truyền thẳng, quan sát được khi ánh sáng truyền qua lỗ nhỏ hoặc gần mép

những vật trong suốt hoặc khơng trong suốt.

2.2.2.2.



Giải thích



Để giải thích hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng người ta thừa nhận ánh sáng

có tính chất sóng, lỗ nhỏ hoặc khe nhỏ được chiếu sáng có vai trò như một



nguồn phát sóng ánh sáng. Mỗi chùm sáng đơn sắc có bước sóng và tần số

xác định.

2.2.3.Hiện tượng giao thoa ánh sáng

2.2.3.1.



Thí nghiệm Iâng: Nguồn sáng Đ, kính lọc sắc F để tách ra



chùm sáng đơn sắc chiếu vào khe hẹp S rạch trên màn chắn M1; S1, S2 là

hai khe hẹp gần nhau song song với S được rạch trên màn chn M2, E l

mn quan sát

M2

M1

Đ



2.2.3.2.



S



E

Vân sáng



S1

S2



O



Vân tối



Kt qu thớ nghiệm



Ta sẽ quan sát thấy trên màn E một vùng sáng hẹp trong đó xuất hiện

những vạch sáng và các vạch tối xen kẽ song song với khe S. Hiện tượng

này chính là hiện tượng giao thoa ánh sáng.

2.2.3.3.



Giải thích.



Ánh sáng từ đèn Đ qua kính lọc sắc F chiếu vào khe sáng S làm cho khe

S trở thành nguồn ánh sáng, truyền đến hai khe S1, S2. Hai khe S1, S2 khi đó

là 2 nguồn kết hợp có cùng tần số. Hai sóng do S1, S2 phát ra là hai sóng

kết hợp có cùng bước sóng và có độ lệch pha khơng đổi. Tại vùng khơng

gian hai sóng đó chồng lên nhau gọi là vùng giao thoa, chúng giao thoa với

nhau và tạo nên các vân sáng, vân tối.

Hiện tượng giao thoa áng sáng chứng tỏ ánh sáng có tính chất sóng.



2.2.3.4.



Xác định vị trí các vân giao thoa và khoảng vân.

d1



- Vị trí các vân sáng trên màn.

xs = k



D

a



A



x

S1



d2



với k= 0,  1;  2;…

S2



D



E



- Vị trí các vân tối trên màn.

xt = (k+



1



với k= 0;  1;  2;…



D

2) a



- Khoảng cách giữa hai vân tối hoặc hai vân sáng cạnh nhau gọi là

khoảng vân.



i=



D

a



2.2.4. Máy quang phổ

2.2.4.1. Cấu tạo

Máy quang phổ lăng kính có ba bộ phận chính :

- Ống chuẩn mực là bộ phận có dạng một cái ống tạo ra chùm tia sáng

song song. Nó có một khe hẹp F nằm ở tiêu diện của thấu kính hội tụ L1

chùm ánh sáng phát ra từ nguồn S mà ta cần nghiên cứu được rọi vào khe

F. Chùm tia sáng ló ra khỏi thấu kính L1 là một chùm song song.

- Hệ tán sắc gồm một vài một lăng kính P có tác dụng phân tích chùm

tia song song từ L1 chiếu tới thành nhiều chùm tia đơn sắc song song.

- Buồng tối hay buồng ảnh là một hộp kín trong đó có một thấu kính hội

tụ L2 và một tấm kính ảnh hoặc một tấm kính mờ đặt tại tiêu diện của L2.

2.2.4.2. Nguyên tắc hoạt động

Nguyên tắc hoạt động của máy quang phổ lăng kính dựa trên hiện tượng

tán sắc ánh sáng.



2.2.5. Các loại quang phổ

2.2.5.1. Quang phổ liên tục

- Khái niệm

Quang phổ gồm nhiều dải màu từ đỏ đến tím, nối liền nhau một cách liên

tục được gọi là quang phổ liên tục.

- Nguồn phát

Các chất rắn, chất lỏng và những chất khí ở áp suất lớn khi bị nung nóng,

phát ra quang phổ liên tục.

- Tính chất

Quang phổ liên tục không phụ thuộc liên tục vào bản chất của vật phát

sáng mà chỉ phụ thuộc vào nhiệt độ của vật.

Ở mọi nhiệt độ vật đều bức xạ. Khi nhiệt độ tăng dần thì cường độ bức

xạ càng mạnh và miền quang phổ lan dần từ bức xạ có bước sóng dài sang

bức xạ có bước sóng ngắn.

2.2.6. Quang phổ vạch phát xạ

- Khái niệm

Quang phổ gồm nhiều màu riêng lẻ, ngăn cách nhau bằng những khoảng

tối được gọi là quang phổ vạch phát xạ.

- Nguồn phát

Quang phổ vạch phát xạ do các chất khí hay hơi ở áp suất thấp phát ra

khi bị kích thích.

- Tính chất



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Lý luận về BTVL

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×