Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CÁC SÔNG Ở CHÂU Á

CÁC SÔNG Ở CHÂU Á

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



tiêu. Đây là nguồn nước cho các thành phố nằm dọc theo tuyến đường của

nó. Các ngành cơng nghiệp rút ra từ nó. Và nó là thiêng liêng đối với

người Hindu.

Ngày nay, con sông đang phải đối mặt với những thách thức

nghiêm trọng từ việc sử dụng nước quá mức với một số khu vực khơ cằn.

Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu các sông băng của dãy Himalaya phương Tây

trải qua tình trạng tan chảy chun sâu? Sơng Hằng, nơi khơ cằn ở nhiều

nơi, sẽ khơng còn tồn tại trong một khoảng thời gian. Đối với 655 triệu

người phụ thuộc vào nó, điều này thể hiện một thảm hoạ sắp xảy ra.



Hình 8 : Sơng băng Gangotri, nguồn của sơng Hằng, là một

trong những sông băng lớn nhất ở dãy Himalaya. Nó đã được rút đi

từ năm 1780 và trong những năm gần đây tốc độ rút lui đã tăng

nhanh. (Ảnh: NASA Earth Observatory, Jesse Allen).



Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 15



Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



Theo Arora và Boer, năm năm 2001 , dự báo tăng 5% theo dòng

chảy trung bình hàng năm vào năm 2070-2100 đối với sông Hằng , nhưng

phương pháp chỉ đánh giá các biến đổi khí hậu, khơng tính đến thay đổi

nhiệt độ. Immerzeel và cộng sự (2010) dự báo sự thay đổi dòng chảy vào

năm 2050 cho tồn bộ khu vực thượng nguồn với độ cao hơn 2000 masl,

và trong kịch bản có khả năng nhất giảm lượng nước tràn xuống trung

bình là 17,6% được dự báo, kết quả kết hợp giảm lượng mưa và Băng tan.

Tuy nhiên, ở các lưu vực nhỏ ở độ cao tương đối cao được mô tả (

Immerzeel và cộng sự, năm 2012 ). Mô phỏng các lưu vực dọc theo hồ

Ganges của Rees và cộng sự (2004) cho thấy sự thay đổi tỷ lệ độ che phủ

của sơng băng ở vùng thượng lưu sẽ có ảnh hưởng đến dòng chảy trong

các lưu vực đầu nguồn, với sự gia tăng lưu lượng trung bình trong những

thập kỷ đầu tiên. Trong khi ở hạ lưu, các tác động đã không mấy rõ ràng.

Những kết luận này được xác nhận bởi các nghiên cứu khác ( Jain 2008 ).

3.1.2. Sông Indus.

Gần 40% lượng nước chảy vào sông Indus đến từ các sông băng

của Cao nguyên Tây Tạng làm cho nó dễ bị tổn thương hơn nhiều đối với

bất kỳ sự thay đổi nào về tốc độ tan băng ở Hymalaya. Trải dài 2.900 km

(1.800 dặm) nó là nguồn chính của Pakistan về nước ngọt để sử dụng đơ

thị và nông nghiệp và một phao cứu sinh cho 300 triệu người sống trên bờ

hoặc gần nó. Là một trong những con sơng dài nhất châu Á, nó xuất phát

từ phần phía tây của Tây Tạng trong vùng lân cận Núi Kailash và Hồ

Manasarovar, dòng sơng chảy qua Ladakh , Gilgit-Baltistan và Khyber

Pakhtunkhwa , và sau đó chảy dọc theo toàn bộ chiều dài của Punjab để

nhập vào biển Ả Rập gần thành phố Thatta ở Sindh . Đây là sông dài nhất

và sông quốc gia của Pakistan.

Phần lớn đất nước qua dòng chảy Indus là cực kỳ khơ cằn và khác

với gió mùa có lượng mưa ít. Điều này làm cho nó trở thành nguồn tưới

tiêu quan trọng và thậm chí còn dễ bị biến đổi khí hậu hơn. Lịch sử của

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 16



Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



thung lũng sông cho thấy có bao nhiêu sự biến đổi nhỏ trong lượng mưa

có thể xác định một con số to lớn đối với những người sống phụ thuộc

vào dòng sơng với bằng chứng của một nền văn minh trước đây phải đối

mặt với các sự kiện khí hậu trong quá khứ.

Thompson, cơ quan đứng đầu trên các sông băng cao độ ở vùng

nhiệt đới và gần các vùng nhiệt đới, chỉ ra rằng sông băng Naimona'nyi,

nguồn cung cấp cho sông Indus, đã thu hẹp 155m trong vòng 30 năm từ

năm 1976 đến năm 2006, với tốc độ Năm mét / năm. [10]

David Gray, cố vấn cấp cao của Ngân hàng Thế giới tại Nam Á,

nói: "Khơng có đủ dữ liệu để nói điều gì sẽ xảy ra với Indus". "Nhưng tất

cả chúng ta đều có những nỗi sợ hãi khủng khiếp rằng dòng chảy của

Indus có thể bị ảnh hưởng nặng nề, bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi băng

tan do hậu quả của sự thay đổi khí hậu" và có thể giảm tới 50%. "Bây giờ

điều đó có ý nghĩa gì đối với một dân cư sống trong sa mạc, nơi mà khơng

có dòng sơng, sẽ khơng có cuộc sống? Tơi khơng biết câu trả lời cho câu

hỏi đó", ơng nói. "Nhưng chúng ta cần phải lo lắng về điều đó, sâu sắc,

quan tâm sâu sắc" [9]



Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 17



Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



Hình 9: Ảnh vệ tinh của thung lũng sông Indus trên, so sánh mực nước vào

1/8/2009 ( ảnh trên ) và 31/7/2010 ( ảnh dưới)



Chế độ sông Indus bị ảnh hưởng bởi một loạt các vùng khí hậu

phân tầng, từ các lưu vực cao độ với các khu vực rộng lớn bao phủ bởi

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 18



Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



các sơng băng kiểm sốt lượng nước chảy qua nhiệt độ theo mùa, đến các

lưu vực giữa lòng sơng với lưu lượng mùa hè bị tràn ngập bởi lượng mưa

mùa đơng trước, Được kiểm sốt bởi lượng mưa cả mùa đông và vào mùa

mưa ( Archer 2003 ). Tuyết và băng tan được coi là động lực chính của

chế độ thủy văn ( Mukhopadhyay và Dutta 2010 ). Mô phỏng của Ấn Độ

Thượng bởi Immerzeel và cộng sự (2010) chỉ ra rằng có khoảng 34%

dòng chảy dòng chảy trong khu vực này được tạo ra bởi tuyết, 26% từ

băng tan chảy, Và những phát hiện này được chứng thực bởi Bookhagen

và Burbank (2010) - chỉ ra các chế độ cực kỳ nhạy cảm với sự thay đổi

nhiệt độ. Sử dụng chỉ số nóng chảy bình thường để định lượng được tầm

quang trọng của băng tan, Immerzeel và cộng sự (2010) chỉ ra rằng dòng

chảy Indus phát sinh từ băng tuyết và băng tan cao hơn 15% so với lưu

lượng được tạo ra ở các khu vực hạ lưu. Tuy nhiên, dữ liệu quan sát thấy

có thể cho thấy các mơ hình biến đổi, với Winiger et al (2005) cho thấy

khoảng 70% lượng nước chảy tràn hàng năm vào đồng bằng được bắt

nguồn từ mưa gió mùa theo mùa ở phần dưới và Singh và Bengtsson

(2005) nhận thấy trung bình tương đối Đóng góp hàng năm của tuyết và

băng tan chảy trên sông Chenab tại Akhnoor là 49%.

Mơ hình thủy văn của thượng lưu sơng Indus sử dụng mơ hình

thốt nước của Snowmelt do Immerzeel và cộng sự (2009) phát hiện ra

rằng sự nóng lên của khu vực đang ảnh hưởng đến việc xả nước trong lưu

vực vì sự tan chảy nhanh chóng của sơng băng. Theo Báo cáo đặc biệt về

Kịch bản Khí thải (SRES) A2 cho năm 2071-2999, sử dụng Cung cấp

Nghiên cứu Tác động Khí hậu Khẩn cấp cho các Nghiên cứu Tác động

(PRECIS), với giả định giảm 50% diện tích trên sơng băng, tổng lượng

nước tràn xuống sông băng đã giảm 22% ; Tuy nhiên, điều này đã được

bù đắp bởi sự gia tăng lượng mưa 53%, dẫn đến tổng số dòng chảy tăng

7%. Các dòng chảy vào cuối mùa xuân và mùa hè dự kiến sẽ giảm đáng

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 19



Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



kể vào khoảng năm 2050 và trong các thập kỷ tới ( Immerzeel và cộng sự

2010 )

3.1.3. Sông Mêkông.

Con sông đặc biệt này trải dài 4.350 kilơmét với diện tích lưu vực

795.000 km2, nguồn gốc của nó ở dãy Himalaya phía Đơng đến vùng

đồng bằng của nó ở cực Nam của Việt Nam. Ở Trung Quốc, nó được gọi

là Lancang. Sông chứa cá nước ngọt lớn thứ hai trên thế giới với cá đại

diện cho đóng góp protein lớn nhất cho 60 triệu người sống dọc theo bờ

sông và các chi lưu. Sông Meekong vượt qua các quốc gia : Lào (25%),

Thái Lan (23%), Trung Quốc (21%), Campuchia (20%), Việt Nam (8%)

và Myanmar (3%). Sơng có các chi lưu chính: Nam Khan, Tha, Nam Ou,

Mun, Tonle Sap, Kok, Rual.



Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 20



Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



Hình 10: Lưu vực sơng Mê Cơng

Sự thay đổi khí hậu với lượng mưa theo mùa thay đổi và nhiệt độ

tăng cao ở các cao nguyên của dãy Himalaya ảnh hưởng đến sự đóng

băng, và sơng có thể gặp nhiều biến động lớn. Các sông băng tan chảy

nhanh chóng làm cho lưu vực sơng có sự biến đổi mạnh và làm gia tăng

dòng chảy mặt của sơng. Điều này khiến cho các nước trong khu vực sông

Mê Kong phải chịu nhiều thiệt hại nặng nề như lũ quét, sạt lở đất, biến

động nguồn nước,…

Trung Quốc đang xây dựng nhiều đập ở thượng lưu sơng Mêkơng

và Lào có kế hoạch đầu tư tương tự. Các đập đáp ứng nhu cầu về thủy

điện. Các đập đã được xây dựng đang tác động đến các dòng sơng hạ lưu

đáng kể. Nếu có nhiều (tất cả trong giai đoạn lập kế hoạch) xây dựng hạ

lưu sơng Mê Cơng có thể bị khơ. Bây giờ hãy thêm vào sự thay đổi khí

hậu này với lượng mưa theo mùa thay đổi và nhiệt độ tăng cao ở các cao

nguyên của dãy Himalaya ảnh hưởng đến sự đóng băng, và sơng có thể

gặp nhiều biến động lớn hơn.

Một số con đập ở thượng nguồn đã bị cáo buộc làm phiền hệ sinh

thái của con sông, trải dài gần 5.000 km từ Tây Tạng ở Trung Quốc ra

biển.

Theo Sông Quốc tế (IR), một tổ chức hoạt động trên các con sông

xuyên biên giới, Trung Quốc đã xây dựng sáu "con đập lớn" trên sông và

đang lên kế hoạch cho 14 chiếc khác trong 10 năm tới.

IR cho biết "xây dựng đập ở thượng lưu sông Mêkông đã có tác

động ở hạ lưu, đặc biệt dọc theo biên giới Thái Lan-Lào nơi mà các cộng

đồng đã bị ảnh hưởng bởi nghề cá đang suy giảm và thay đổi mực nước

đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh kế của họ.

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 21



Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



"Bằng cách thay đổi thủy văn của sông, ngăn chặn sự di cư của cá

và ảnh hưởng đến sinh thái của con sông, việc xây dựng đập ở hạ lưu sông

Mê Công sẽ gây ra những hậu quả trên toàn lưu vực."

Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam đang có kế hoạch theo

hướng dẫn của Trung Quốc bằng cách xây dựng thêm một chục đập ở hạ

lưu sơng Mê Cơng.

Ngồi ra còn có bằng chứng cho thấy những con đập mới giữ lại

những trầm tích giàu chất dinh dưỡng quan trọng bổ sung cho lòng sơng

và đời sống biển phụ thuộc vào sự sống còn.

Theo Ủy ban sông Mê Kông, gần 85 triệu tấn mỗi năm sỏi, đá tảng

và cát được lưu giữ trên dòng sông ngày nay hơn năm 1992, chủ yếu là do

việc xây dựng các đập thủy điện và hồ chứa ở thượng nguồn.

Theo ông La So Sinh, cơ quan giám sát tài ngun và mơi trường

của chính phủ Việt Nam, "ít nước và trầm tích từ phía bắc có nghĩa là xâm

nhập mặn từ biển ở phía Nam và tổn thất nhiều hơn cho đồng bằng và

người dân".[7]

Mặc dù MRC điều phối việc phát triển tài nguyên nước giữa các

nước thành viên trong lưu vực sông Mê Công, các nhà phê bình nói rằng

họ khơng làm đủ để giải quyết tranh chấp và hậu quả của đập.

3.1.4. Sông Dương Tử.

Con sông dài nhất châu Á và thứ ba trên thế giới, trải dài 6.418 km

(3.988 dặm), sông Dương Tử là trái tim và linh hồn của Vương Trung.

Sông bắt nguồn từ đỉnh Deladaindong với diện tích lưu vực sơng khoảng

1.808.500 km2 (698.266 dặm vng). Nó tăng lên từ các sơng băng của

cao nguyên Tây Tạng với lưu vực của nó bao gồm 20% Trung Quốc. Một

phần ba dân số Trung Quốc, gần 450 triệu người sống trên hoặc gần các

ngân hàng của mình. Nhưng sự tan chảy ngày càng tăng của các sông

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 22



Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



băng nuôi Dương Tử đang đe dọa sơng vì khơng giống sơng Indus hay

sơng Hằng, khơng có gió mùa theo mùa để bù đắp sự thiếu hụt.

Băng tuyết tan từ Himalayan tạo ra dòng chảy theo mùa đáng sợ.

Nhưng mùa hè tốt hơn và “ba con hẻm” được mô tả như một lối đi "150

dặm giống như cổ họng hẹp của đồng hồ cát", gây ra những mối đe dọa

nguy hiểm đối với các dòng điện chéo và xoáy nước, tạo ra những thách

thức đáng kể cho các nỗ lực của tàu tuần dương. “ Ba con hẻm “ của sông

Dương Tử là khu vực cực kỳ nguy hiểm và dễ chết người nhất.

Một vấn đề khác ở Yangtze là việc sử dụng nước của con người dọc

theo dòng sơng với phần lớn dòng chảy được đưa vào sử dụng trong nông

nghiệp và công nghiệp. Ngày nay việc thải các chất thải thô và các chất ô

nhiễm công nghiệp đang đe doạ các trang trại nuôi cá và làm ảnh hưởng đến

nước uống. Thêm vào những thay đổi này trong lưu vực sông do Đập Tam

Hiệp tạo ra và kỹ thuật của một dự án chuyển nước từ Nam sang Bắc nhằm

bổ sung sơng Hồng Hà về phía bắc và bạn đang có một cuộc khủng hoảng

nước nghiêm trọng trên tay.



Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 23



Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



Hình 11 : Lưu vực sông Dương Tử

Một vấn đề khác ở Yangtze là việc sử dụng nước của con người dọc

theo dòng sơng với phần lớn dòng chảy được đưa vào sử dụng trong nông

nghiệp và công nghiệp. Ngày nay việc thải các chất thải thô và các chất ô

nhiễm công nghiệp đang đe doạ các trang trại nuôi cá và làm ảnh hưởng

đến nước uống. Thêm vào những thay đổi này trong lưu vực sông do Đập

Tam Hiệp tạo ra và kỹ thuật của một dự án chuyển nước từ Nam sang Bắc

nhằm bổ sung sơng Hồng Hà về phía bắc và đang có một cuộc khủng

hoảng nước nghiêm trọng ở đây.

Những người phản đối đập cho biết có ba loại lũ khác nhau trên

sông Dương Tử: lũ lụt bắt nguồn từ thượng nguồn, lũ lụt bắt nguồn từ

vùng hạ lưu và lũ lụt dọc theo chiều dài của sông. Họ lập luận rằng đập

Tam Hiệp sẽ làm lũ lụt ở thượng nguồn trở nên tồi tệ hơn và ít hoặc khơng

có tác động đối với lũ lụt bắt nguồn từ vùng hạ lưu.[] Lũ lụt dọc theo sông

là một vấn đề lớn. Mùa mưa ở Trung Quốc là tháng 5 và tháng 6 ở các

khu vực phía nam sông Dương Tử, và tháng 7 và tháng 8 ở các khu vực

phía bắc. Hệ thống sơng lớn đón nhận nước từ cả hai bờ Nam và Bắc, gây

ra mùa lũ kéo dài từ tháng 5 đến tháng 8. Trong khi đó, dân số tương đối

dày đặc và các thành phố giàu có dọc theo sơng làm cho lũ lụt tàn phá hơn

và tốn kém hơn. Những trận lụt lớn gần đây nhất là lũ năm 1998 ở sông

Dương Tử , nhưng thảm họa hơn là những trận lụt sông Dương Tử năm

1954 , làm chết khoảng 30.000 người.

3.1.5. Sông Hoàng Hà.



Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 24



Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



Hình 12: Địa điểm và địa hình khu vực nguồn của sơng Hồng Hà (SRYE).

Hình tam giác đỏ biểu thị các trạm xả. Từ hạ lưu xuống, đó là các trạm

Huangheyan (HHY), Jimai (JM), Maqu (MQ) và Tangnaihai (TNH). Điểm

đen tượng trưng cho các trạm khí tượng. Đường vệt mưa trung bình hàng

năm (mm) cũng được chỉ định.

Sơng Hồng Hà bắt nguồn từ Cao ngun Tây Tạng (TP), và chảy

qua tám tỉnh từ tây sang đơng qua Trung Quốc (Hình 1). Nó dài 5464 km

với diện tích lưu vực 752.443 km2, con sơng dài thứ 6 trên thế giới, thứ

hai ở Trung Quốc và thứ hai ở châu Á (Fu và cộng sự, 2004). Sông Hồng

Hà đóng một vai trò quan trọng khơng chỉ trong việc cấp nước cho 107

triệu người (Wang và cộng s, 2006) mà còn trong sản xuất nơng nghiệp ở

Trung Quốc vì 13% diện tích canh tác của các nước này phụ thuộc vào

nguồn nước từ đây . Khu vực thoát nước phía thượng lưu của trạm thuỷ

văn Tangnaihai (TNH) (Hình 1), nằm ở phía đơng bắc của TP, thường

được coi là nguồn lưu vực sơng Hồng Hà (SRYE). SRYE là "tháp nước"

của lưu vực sơng Hồng Hà vì nó đóng góp khoảng 35% tổng lượng nước

chảy hàng năm từ khoảng 16% diện tích lưu vực (Lan và cộng sự, 2010b).



Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 25



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CÁC SÔNG Ở CHÂU Á

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×