Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG II: BĂNG TAN Ở CÁC SÔNG TRÊN DÃY HIMALAYAN.

CHƯƠNG II: BĂNG TAN Ở CÁC SÔNG TRÊN DÃY HIMALAYAN.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



Trong hàng thập kỷ qua, gió mùa ở Ấn Độ, vốn mang tuyết xuống

vùng phía nam của Tây Tạng và vùng phía đơng và trung bộ của dãy

Himalaya, đã trở nên yếu hơn dù khơng rõ tại sao. Tuy nhiên, gió tây

mang tuyết đến Karakoram và Pamirs lại trở nên mạnh hơn.

Gió tây được tạo ra bởi khí nóng bốc lên từ các đại dương và di

chuyển về phía bắc (khí nóng di chuyển từ vùng ấm sang vùng lạnh) và về

phía đơng (vì lực Coriolis được sinh ra từ sự quay vòng của Trái đất).

Tình trạng ấm lên tồn cầu cũng đồng nghĩa với việc nhiều khí nóng bốc

lên hơn, do đó gió tây cũng mạnh hơn.

Gió mùa đến vào mùa hè, gió tây đến vào mùa đơng. Khí hậu ấm

hơn dường như ngăn cản tuyết mùa hè tích tụ hơn là tuyết mùa đơng. Tóm

lại, thay đổi trong sức mạnh của gió và nhiệt độ khơng khí giải thích cho

những gì đang diễn ra. Và khơng chỉ các sơng băng đang tan chảy.

Theo nhà nghiên cứu Vũ Khánh Bách thuộc Viện Nghiên cứu môi

trường và cấu tạo các khu vực lạnh giá và khô cằn ở Lan Châu (Trung

Quốc), băng vĩnh cửu ở Tây Tạng cũng đang tan nhanh trong vòng hai

thập kỷ qua.

Giảm tuyết rơi cũng có nghĩa là ít tuyết hơn trong sơng băng, và ít

dòng suối chảy. Khoảng thời gian tuyết rơi ngắn hơn ngăn không cho

tuyết biến thành tinh thể băng cứng. Do đó nhiều sơng băng có thể bị tan

chảy khi mùa hè đến. Thay đổi khí hậu cũng đã dẫn đến mưa, chứ không

phải tuyết, rơi xuống ngay cả ở độ cao lớn hơn. Điều này cũng đẩy nhanh

sự tan chảy của sông băng.

Khơng những thế sự nóng lên tồn cầu dường như đang đẩy nhanh

tốc độ tăng nhiệt độ ở các khu vực cao độ nhất định, đặc biệt là các khu

vực gần đường xích đạo, bao gồm vùng Greater Himalaya. Loại khác là

ảnh hưởng của bồ hóng từ hàng triệu gỗ củi và bếp than đốt ở Ấn Độ và

Trung Quốc và sự đốt cháy nhiên liệu diesel và than, làm cho bề mặt của

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 8



Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



các sông băng ở dãy Himalaya trở nên hấp thụ nhiệt hơn là phản chiếu

nhiệt, Địa mạo, chỉ làm tăng thêm quá trình nóng lên.

2.1.2. Sơng băng trên dãy Himalayan đang tan chảy.

Himalayas có nồng độ các sơng băng lớn nhất bên ngồi vùng cực.

Những Sông băng là một khu bảo tồn nước ngọt; nó cung cấp đầu nguồn

cho chín hệ thống sơng lớn trong châu Á - một cuộc sống của gần một

phần ba nhân loại. Các báo cáo chỉ ra rằng các sông băng ở dãy Himalaya

đang tan chảy với tốc độ chưa từng có trong những thập niên gần đây. Sự

gia tăng băng tan có thể gây ra sự gián đoạn đáng kể đối với an ninh nước,

đa dạng sinh học, thủy điện, công nghiệp, nông nghiệp và các ngành khác

trong tương lai của vùng. Các quốc gia phụ thuộc phần lớn vào nguồn

nước từ cao nguyên Tây Tạng là Bangladesh, Bhutan, Trung Quốc, Ấn

Độ, Myanmar, Nepal, Pakistan, Thái Lan và các nước thuộc tiểu vùng

Mekong, Lào và Việt Nam…



Hình 4: Các lưu vực sơng hình thành ở vùng HKH miền núi cao, làm nổi

bật các lưu vực sông Hằng, sông Indus và Brahmaputra (bản đồ do

Hammad Gilani, bản đồ của ICIMOD)

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 9



Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



Các bản đồ cập nhật mới nhất (9/2012) cho đến nay dựa trên dữ

liệu vệ tinh cho thấy các sông băng ở dãy Himalaya và Karakoram có diện

tích khoảng 40.800 km². Mặc dù gấp khoảng hai mươi lần lớn hơn tất cả

các sông băng của dãy núi Alps ở châu Âu, nhưng nó nhỏ hơn 20% so với

trước đây.



Hình 5. Hầu hết các sơng băng ở Himalaya cho thấy sự rút lui từ giữa thế

kỷ 19, trừ các sơng băng tại Nanga Parbat ở phía tây bắc (RA, CL) và sông

băng ở Karakoram, cho thấy một hành vi phức tạp (4).

Nhiệt độ trung bình tồn cầu dự kiến sẽ tăng từ 1,4 đến 5,8 o C

trong thời gian tới một trăm năm. Hậu quả của sự thay đổi này trong khí

hậu tồn cầu đã được chứng kiến ở dãy Hymalaya, nơi sông băng và hồ

băng đang thay đổi với tốc độ đáng báo động. Dãy núi Himalaya các sông



Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 10



Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



băng đang rút lui với tốc độ từ 10 đến 60 m / năm và nhiều sông băng nhỏ

(<0,2 Sq.km) đã biến mất.

- Các nghiên cứu cho thấy rằng điểm cuối của hầu hết các độ cao

sông băng thung lũng ở Bhutan, Trung Quốc, và Nepal đang rút lui rất nhanh;

Sự thay đổi theo chiều dọc và 100m đã được ghi lại trong năm mươi năm qua

và tỷ lệ rút lui là 30m / năm là chung. Khi sông băng rút lui, các hồ băng đang

phát triển, và nhiều lưu vực Himalayan đang báo cáo Hồ đang phát triển

nhanh.

Một ví dụ đáng chú ý là Hồ Imja Tsho trong lưu vực phụ Dudh

Koshi

(Khu vực Khumbu-Everest); Trong khi hồ này hầu như không tồn

tại vào năm 1960, bây giờ nó bao phủ gần 1 km2 và sơng băng Imja ni

nó đang rút lui ở mức 74m / năm chưa từng thấy (Giữa năm 2001 và năm

2006). Các quan sát tương tự đã được thực hiện ở lưu vực Phủ Chu của

Bhutan

- Himalaya, nơi mà sự thay đổi kích thước của một số hồ băng đã tăng

lên đến 800 phần trăm trong 40 năm qua. Hiện nay, một số hồ Supraglacial

trên sông băng Thorthormi đang phát triển nhanh chóng và sáp nhập.



Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 11



Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



Hình 6 : Thay đổi giới hạn băng giá giữa năm 1962, 1999 và

2008.



Hình 7 : Tỷ lệ phần trăm dự báo của băng tan ở các lưu vực Himalayan

(Nguồn: dữ liệu tỷ lệ phần trăm dự đoán từ Xu và những người

khác năm 2008 (44) Các tệp hình dạng chồng lên hình nền từ ESRI

ArcGlobe 10.0).

2.2. Dự báo của các nhà khoa học trong tương lai.

Theo Ủy ban liên Chính phủ về Thay đổi Khí hậu (IPCC), "sơng băng

ở Himayalas đang giảm nhanh hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới và nếu tỷ lệ

hiện tại tiếp tục, khả năng chúng biến mất vào năm 2035 và có lẽ sớm hơn

rất cao Nếu trái đất tiếp tục nóng lên với tốc độ hiện tại ". Theo báo cáo của

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 12



Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



IPCC tổng diện tích sơng băng ở Himalaya sẽ giảm từ 1930051 dặm vuông

để 38.000 dặm vuông vào năm 2035. Các nhà khoa học lo ngại rằng nếu

khơng có những giải pháp ứng phó kịp thời, các dòng sơng băng ở Himalaya

sẽ biến mất trong những thập kỷ tới, gây ra hạn hán cho nhiều vùng của châu

Á.

- Bên cạnh đó Ủy ban Liên chính phủ về Thay đổi Khí hậu (IPCC) có

báo cáo mới nhất (2014) dự đốn rằng các sơng băng ở Hymalaya có thể mất

từ 1/3 đến 1/2 khối lượng của chúng vào năm 2100. Theo IPCC, nhiệt độ bề

mặt trung bình tăng 1.8 độ Celsius từ năm 2006, sẽ làm co ngót băng đá lên

tới 45% vào năm 2100; Với mức tăng 3,7 độ, mức giảm sẽ là gần 68%. Các

nghiên cứu khác đã phát hiện ra rằng trong ba hoặc bốn thập kỷ qua, sự nóng

lên ở dãy Himalaya đã cao hơn mức trung bình 0,75% trong thế kỷ trước. Một

số đã xác nhận rằng nó đang nóng lên 5-6 lần nhanh hơn mức trung bình tồn

cầu.

- Dựa trên một dự đốn tốt nhất về khu vực sông băng vào năm 2050,

bảng số liệu ( bảng 1) cho thấy số người ở khu vực Himalayan có thể bị đe

dọa vì mất an ninh lương thực do sự thay đổi của sông băng ở dãy Himalaya.

Lượng mưa thượng lưu tăng lên một phần bù đắp cho tổn thất nước thượng

lưu, mặc dù nhu cầu tưới tiêu có thể gây căng thẳng hơn đối với an ninh

lương thực trong khu vực. Lưu vực sông Hồng Hà chỉ phụ thuộc vào băng

tan; Do đó có sự gia tăng đáng kể 9,5% về năng suất nước thượng lưu trong

lưu vực với ước tính tăng 3,0 ± 0,6 triệu người có thể được cho ăn trong lưu

vực sơng Hồng Hà.

Bảng 1:

Thơng số

Indus

Ganges Brahmaputra Yangtze Yellow

Tổng số dân(triệu người)

209.619 477.937

62.421

586.006 152.718

Nhu cầu nước tưới

908

716

480

331

525

tiêu(mm/năm)

Số người bị đe dọa do 26.3 ± 3.0 2.4 ± 0.2

34.5 ± 6.5

7.1 ± 1.3

mất an ninh lương thực

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 13



Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



(triệu người )

Tỉ lệ giảm cấp nước cấp

8.4*

17.6

19.6

5.2

thượng nguồn

Tỉ lệ tăng lương thực ở

25

8

25

5

14

thượng nguồn

- 1/5 số dân ở Nam Á không có nước uống an tồn và 1,8 tỷ người

khơng có điều kiện vệ sinh cơ bản. Với dân số trong khu vực dự kiến sẽ vượt

quá 2,2 tỷ người vào năm 2050, việc mở rộng tiếp cận các nguồn nước an

toàn sẽ chứng tỏ đầy thách thức. Sự suy giảm dự đoán về khả năng cung cấp

nước do biến đổi khí hậu gây ra sẽ chỉ làm trầm trọng thêm tình hình

CHƯƠNG III : TÁC ĐỘNG BĂNG TAN ĐẾN CHẾ ĐỘ THỦY VĂN

CÁC SƠNG Ở CHÂU Á

3.1. Các sơng ở châu Á :

3.1.1. Sơng Hằng :

Còn được gọi tại Ganga, trải dài 2.525 km (hơn 1.500 dặm) với

diện tích lưu vực 1.080.000 km2 (416.990 dặm vng). Con sơng chính

bắt nguồn từ nước chảy của sông băng Gangotri ở tây nam Hy Mã Lạp

Sơn và chảy theo hướng nam và đông thông qua một vùng đồng bằng

ngập nước to lớn đến đồng bằng của nó trên vịnh Bengal. Tại Bangladesh,

dòng sơng được nối với nhánh chính của nó là Brahmaputra. Ganges vượt

qua phần lớn miền Bắc Ấn Độ và Bangladesh. Một số chi nhánh nhỏ hơn

có nguồn gốc từ Nepal. Các chi lưu chính của sơng là : Yamuna, Rama

Ganges, Gomti, Ghagra, Sone, Gandak, Burhi Gandak, Koshi,

Mahananda[12] Đây là con sông lớn thứ ba trên thế giới.

Lưu vực sông Hằng là vùng đất nông nghiệp của cả Ấn Độ và

Bangladesh và lưu vực sông đông dân nhất trên thế giới. Con sông đã

được xây đập để sản xuất thủy điện. Phần lớn nó phụ thuộc vào gió mùa

theo mùa, mực nước sông biến động mạnh. Nước cũng được rút ra để tưới

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 14



Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II



tiêu. Đây là nguồn nước cho các thành phố nằm dọc theo tuyến đường của

nó. Các ngành cơng nghiệp rút ra từ nó. Và nó là thiêng liêng đối với

người Hindu.

Ngày nay, con sông đang phải đối mặt với những thách thức

nghiêm trọng từ việc sử dụng nước quá mức với một số khu vực khô cằn.

Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu các sơng băng của dãy Himalaya phương Tây

trải qua tình trạng tan chảy chuyên sâu? Sông Hằng, nơi khô cằn ở nhiều

nơi, sẽ khơng còn tồn tại trong một khoảng thời gian. Đối với 655 triệu

người phụ thuộc vào nó, điều này thể hiện một thảm hoạ sắp xảy ra.



Hình 8 : Sơng băng Gangotri, nguồn của sông Hằng, là một

trong những sông băng lớn nhất ở dãy Himalaya. Nó đã được rút đi

từ năm 1780 và trong những năm gần đây tốc độ rút lui đã tăng

nhanh. (Ảnh: NASA Earth Observatory, Jesse Allen).



Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến

chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG II: BĂNG TAN Ở CÁC SÔNG TRÊN DÃY HIMALAYAN.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×