Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Chất lượng thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

3 Chất lượng thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chất lượng thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của NHTM thể

hiện mức độ chính xác, hiệu quả, tốc độ thẩm định, sự linh hoạt khi đánh giá các dự

án.

Thẩm định là khâu cân nhắc, đánh giá, tham mưu cho lãnh đạo trong việc ra

quyết định. Do đó chất lượng thẩm định tốt sẽ đem lại những quyết định đúng đắn,

mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, bảo đảm an tồn tín dụng, và tạo cơ hội cho

doanh nghiệp đầu tư phát triển.

1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá

Việc đánh giá chất lượng thẩm định tại các ngân hàng, từ đó đưa ra giải pháp

nâng cao năng lực thẩm định là một trong những ưu tiên hàng đầu của các ngân

hàng hiện nay. Tuy nhiên, tại nước ta, chưa có cơ quan, Ban ngành, hay ngân hàng

nào thực hiện điều này. Để đánh giá quá trình thẩm định một dự án có đạt u cầu

chất lượng hay khơng, phải dựa vào một số chỉ tiêu cụ thể.

1.3.2.1 Chỉ tiêu định tính

 Tn theo đúng quy trình thẩm định chung

 Đưa ra kết luận cuối cùng

Khâu thẩm định phải đi đến kết luận cuối cùng tham mưu cho lãnh đạo: từ

chối hay đồng ý cho vay, cho vay bao nhiêu, giải ngân như thế nào, thu hồi vốn như

thế nào… Báo cáo thẩm định phải nêu được các nội dung: tính khả thi của dự án,

kết quả và hiệu quả của dự án, xác định rủi ro và cách phòng ngừa.

 Phát hiện được những sai phạm trong hồ sơ vay vốn

Do trình độ lập dự án của một số chủ đầu tư chưa cao, cộng với tính chủ quan,

áp đặt của các thông tin, trong hồ sơ vay vốn tồn tại những sai phạm vơ tình hoặc cố

ý. Các cán bộ thẩm định bằng kiến thức và kinh nghiệm của mình phải thẩm định

các thơng số, phát hiện những điểm bất hợp lý trong bộ hồ sơ, từ đó có cách giải

quyết phù hợp.

Sau đây là một ví dụ minh họa.

Khách hàng là công ty cổ phần kinh doanh bất động sản, đã xây xong phần thơ

tồn nhà 30 tầng. Tòa nhà được sử dụng kinh doanh như sau:

 Tầng hầm: kinh doanh chỗ để xe

 8 tầng làm trung tâm thương mại và văn phòng cho thuê

 22 tầng làm chung cư

 Đề nghị vay 60 tỷ để nhập thang máy từ Nhật Bản

 Dùng 8 tâng khu Trung tâm thương mại và Văn phòng làm tài sản bảo đảm



 Nguồn trả nợ: tiền cho thuê văn phòng và Trung tâm thương mại

Trong phần thơng số dự án, chủ đầu tư cho rằng diện tích 15m 2/ơ tô là phù hợp

cho khu vực kinh doanh chỗ để xe.

Tuy nhiên khi Ngân hàng tiến hành thẩm định, theo tiêu chuẩn xây dựng Việt

Nam, chỗ để xe ô tô hợp lý phải đáp ứng điều kiện 25m 2/ô tô (tính cả diện tích cho

đơn vị cứu hỏa tác nghiệp). Như vậy số chỗ để xe ô tô tầng hầm cung ứng sẽ giảm

đi đáng kể. Sau khi trừ đi số chỗ để xe trung bình dành cho hộ gia đình th chung

cư, chỗ trống còn lại khơng đủ đáp ứng nhu cầu của Văn phòng cho thuê, Trung tâm

thương mại, chưa nói đến kinh doanh chỗ để xe. Điều này sẽ tác động đến khà năng

cho thuê Văn phòng và Trung tâm thương mại của tòa nhà, doanh thu sẽ sụt giảm so

với dự kiến. Như vậy khâu tính toán và kế hoạch của dự án vấp phải một số vấn đề.

Cuối cùng cán bộ tín dụng đã quyết định không cho vay đối với dự án trên.

- Đánh giá của cán bộ thực hiện kiểm tra, kiểm soát

- Sự đóng góp ý kiến tư vấn, đưa ra phương án tối ưu nhằm hoàn thiện dự án

- Phát hiện và dự báo các xu hướng và rủi ro trong quá trình đầu tư

1.3.2.2 Chỉ tiêu định lượng

- Thẩm định với thời gian và chi phí hợp lý

Q trình thẩm định diễn ra theo trình tự nhưng phải đảm bảo yếu tố thời gian.

Nếu thời gian xem xét hồ sơ và thẩm định kéo dài hơn so với dự kiến ban đầu sẽ

ảnh hưởng đến tiến độ dự án và uy tín của ngân hàng.

- Chất lượng các khoản cho vay theo dự án, tỷ lệ nợ xấu

Khâu thẩm định là q trình xử lý thơng tin để ra quyết định. NHTM chỉ cho

vay đối với những dự án được thẩm định cho kết luận khả thi và có khả năng hồn

vốn cao.

Nếu cơng tác thẩm định khơng được chú trọng, sẽ dẫn đến những quyết định

sai lầm, cho vay các dự án không khả thi. Nếu những rủi ro đối với các dự án này

thực sự xảy ra, dự án khơng thể hồn vốn, ngân hàng sẽ khơng thể thu hồi được vốn

cho vay.

Tỷ lệ nợ xấu và chất lượng nợ thấp là biểu hiện của chất lượng hoạt động tín

dụng nói chung và hoạt động thẩm định dự án cho vay nói riêng còn thấp.

1.3.3 Nhân tố ảnh hưởng

1.3.3.1Nhân tố khách quan

 Khách hàng



Trình độ lập và quản lý dự án của chủ đầu tư ảnh hướng đến thời gian thẩm

định. Quá trình thẩm định bị trở ngại và chậm trễ do thiếu giấy tờ pháp lý, thiếu cơ

sở để thẩm định…

Ngoài ra, tư cách đạo đức và mức độ trung thực của khách hàng cũng là điều

NHTM cần quan tâm. Hiện nay, có rất nhiều thủ đoạn lừa gạt tinh vi của các chủ

doanh nghiệp,cung cấp thông tin sai lệch, nhằm chiếm đoạt vốn của NH.

 Cơ quan hữu quan

Khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động đầu tư và tín dụng là một trong những

cơ sở pháp lý để NHTM tiến hành thẩm định dự án. Các định mức về xây dựng cơ

bản, suất đầu tư, cơ sở pháp lý của hoạt động đầu tư… đều được các Bộ, ngành liên

quan hướng dẫn chi tiết. Đối với lĩnh vực tín dụng, NHTM phải nghiêm túc chấp

hành các quy định và hướng dẫn của NHNN và Bộ Tài chính.

Nếu mơi trường pháp lý đầy đủ, NHTM sẽ có đầy đủ cơ sở để đối chiếu, so

sánh các nội dung thẩm định, từ đó đưa ra các kết luận đúng đắn hơn. Ngược lại,

tình trạng văn bản pháp luật chồng chéo, không theo kịp thị trường, các NHTM sẽ

gặp nhiều khó khăn, thậm chí đưa ra những quyết định mạo hiểm.

 Biến động thị trường

Chỉ cần một thông số trong quá trình thẩm định biến động, kết quả sẽ dao

động so với tính tốn ban đầu. Tất cả các thông số trong báo cáo thẩm định đều

được dự kiến thơng qua các mơ hình và điều tra thống kê. Tuy nhiên, thị trường

năng động biến đổi hàng giờ, đặc biệt là những biến cố bất ngờ, tất yếu các hoạch

định ban đầu sẽ xê dịch. Ví dụ đơn giản nhất là giá xăng, giá vàng và ngoại tệ. Hơn

nữa, giá của các mặt hàng cơ bản này cũng có tác động mạnh đến mặt bằng giá

chung của các hàng hóa khác.

1.3.3.2 Nhân tố chủ quan

 Chất lượng nguồn nhân lực

Con người là trung tâm của mọi hoạt động, từ quản lý đến thực hành. Nguồn

nhân lực có chất lượng cao, được đào tạo bài bản và toàn diện, nhanh nhạy và linh

hoạt áp dụng kiến thức trong hoạt động thực tiễn, sẽ là chìa khóa thành cơng của

mỗi tổ chức.

Hoạt động thẩm định đòi hỏi các cá nhân tham gia khơng chỉ có kiến thức

chun mơn về ngân hàng-tài chính, mà còn kiến thức tổng hợp về nhiều ngành

nghề, các kĩ năng mềm và kinh nghiệm thẩm định tích lũy qua nhiều dự án.



Nhờ có những tri thức và kho trải nghiệm quý giá đó, các bộ phận có thể vận

dụng sáng tạo và linh hoạt vào từng dự án cụ thể, từ đó hoạch định những phương

án tốt nhất cho ngân hàng. Vì tầm quan trọng của đội ngũ nhân sự, các ngân hàng

liêp tiếp tạo nhiều ưu đãi, thu hút nhân tài, chú trọng các chương trình huấn luyện

và đào tạo đối với lớp nhân viên non trẻ, nhằm tạo dựng thế hệ các cán bộ nguồn nòng cốt của ngân hàng.

 Chất lượng thơng tin

Nắm trong tay thông tin là một lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ. Các thông

số và tài liệu về dự án là cơ sở để tiến hành phân tích tính khả thi của dự án.

Nếu thơng tin được cung cấp đầy đủ, có chất lượng cao, đáng tin cậy, các cán

bộ thẩm định có thể tiến hành xử lý thông tin trong thời gian ngắn và dễ dàng đưa ra

quyết định. Ngược lại, vấn đề thông tin không cân xứng tất yếu sẽ dẫn đến lựa chọn

ngược và quyết định sai lầm.

Nếu khách hàng vì lý do chủ quan hay khách quan, không cung cấp đủ thông

tin về dự án cho ngân hàng, quá trình thẩm định sẽ vấp phải nhiều vấn đề, đòi hỏi

cán bộ thẩm định phải đầu tư thêm thời gian và công sức thu thập tài liệu.

Hơn nữa, việc thông tin không minh bạch ở nước ta vẫn còn đặt ra nhiều lo

ngại. Các thông số trong hồ sơ vay vốn được dự kiến bởi chủ đầu tư, thiếu tính

khách quan và cơng bằng; báo cáo tài chính chưa qua kiểm tốn tồn tại nhiều sai

phạm và mờ ám.

 Phương pháp và nội dung thẩm định

Với nguồn thông tin thu thập được và trang thiết bị hiện đại, vấn đề còn lại đối

với ngân hàng là lựa chọn phương pháp thẩm định nào và kết hợp các phương pháp

này ra sao để công tác thẩm định có hiệu quả cao nhất.

Mỗi dự án có lĩnh vực đầu tư và quy mô vốn khác nhau, có đặc tính kỹ thuật

riêng biệt, do đó đòi hỏi những phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề hoàn toàn

độc lập. Với một dự án cụ thể, phương pháp truyền thống phát huy tác dụng hơn so

với phương pháp hiện đại. Hoặc với một dự án khác, phương án hiện đại và tiên tiến

sẽ rút ngắn thời gian thẩm định và tăng tính tin cậy của báo cáo thẩm định.

Điều quan trọng là các cán bộ thẩm định phải nắm rõ ý nghĩa, ưu điểm, nhược

điểm, nguyên tắc và cách áp dụng của từng phương pháp để sử dụng trong thực tế.

Ví dụ:

- Để phân tích tình hình tài chính của khách hàng thơng qua tính tốn định

lượng, NHTM thu thập các số liệu và chuẩn hóa thành các chỉ số tài chính. Các chỉ



số này được so sánh với các doanh nghiệp kinh doanh trong cùng lĩnh vực và các

chỉ số trung bình ngành. Do đặc tính kinh doanh khác nhau nên mỗi ngành kinh

doanh lại có các tiêu chuẩn đánh giá khác nhau.

- Thẩm định tài chính dự án có 2 quan điểm khác nhau: EIP và TIP.

Theo quan điểm EPV (Equity Point of View) - quan điểm của chủ sở hữu: xem

xét lợi ích của chủ dự án cũng như chi phí mà họ phải bỏ ra.

 NCF1=LNST + khấu hao-trả gốc vay

Theo quan điểm TIP (Total Investment Point of View) - quan điểm tổng vốn

đầu tư, đứng trên khía cạnh của các nhà đầu tư vào dự án gồm cả chủ sở hữu và chủ

nợ. Vì vậy, khi xem xét lợi ích và chi phí phải bao gồm cả 2 đối tượng trên.

 NCF2= LNST + khấu hao + lãi vay

Chủ

Dòng tiền trả lãi (EPV)vay Dòng tiền trả gốc

vay

(-):

Dòng tiền ra



sở



hữu

nợ



Chủ



TIP



+



0



+



0



(+): Dòng tiền vào

 Xác định một số chỉ tiêu quan trọng

Trong thẩm định tài chính dự án,có những chỉ tiêu trọng yếu, chỉ cần dao động

trong phạm vi nhỏ, cũng có thể làm thay đổi các thông số và kết quả của dự án,

thậm chí biến dự án lãi thành lỗ và ngược lại.

Một trong các chỉ tiêu đó là tỷ lệ chiết khấu. Việc xác định tỷ lệ chiết khấu rất

phức tạp. Để xem xét quyết định cho vay, NHTM phải tính toán hiệu quả kinh

doanh theo quan điểm TIP, và dùng lãi suất cho vay đúng bằng tỷ suất chiết khấu.

Nhưng với tình hình tài chính biến động từng ngày, dự án lại vận hành trung và dài

hạn, xác định tỷ suất chiết khấu là điều thực sự khó khăn. Hơn nữa, trên thực tế,

chưa có đủ cơ sở để định lượng tý suất này chính xác.

 Trang thiết bị cơng nghệ

Những bước tiến trong khoa học kỹ thuật và công nghệ thơng tin đã đem lại

lợi ích to lớn cho các ngân hàng. Các phần mềm hiện đại sẽ hỗ trợ đắc lực cho q

trình tính tốn số liệu, tìm kiếm và tổng hợp, xử lý thơng tin. Qua đó, tiết kiệm thời

gian, chi phí, làm giảm áp lực đối với nhân viên và vẫn đảm bảo yếu tố chính xác.

Ví dụ như các chỉ số NPV, IRR, DSCR … với các dự án 5-10 năm, việc tính

tốn bằng tay sẽ rất mất thời gian, tốn công sức và thiếu chính xác. Trong trường



hợp phân tích độ nhạy, mỗi thay đổi của biến sẽ dẫn đến NPV thay đổi theo. Như

vậy, phải tính lại NPV rất nhiều lần. Với Excel, ứng dụng phổ biến và truyền thống

nhất của công nghệ thơng tin trong thẩm định, việc tính tốn NPV chỉ cần vài thao

tác thay số đơn giản và mất vài giây.

 Công tác quản trị

Việc tổ chức thẩm định bao gồm: phân chia cơng việc, phối hợp các phòng ban

chức năng và các cán bộ, thống nhất báo cáo thẩm định, kiếm tra, kiểm soát. Khâu

tổ chức và phối hợp được thực hiện khoa học sẽ khai thác tốt nguồn lực và góp phần

nâng cao chất lượng thẩm định. Nếu việc tổ chức các phần hành chồng chéo nhau,

sẽ gây ra lãng phí nguồn lực, chậm tiến độ thẩm định. Việc quy định rõ nhiệm vụ

đối với các cá nhân sẽ làm tăng tính trách nhiệm và độc lập trong cơng việc.



Chương II

THỰC TRẠNG CƠNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG

CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN - CHI NHÁNH

ĐÔNG ĐÔ

2.1 Tổng quan về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển - Chi nhánh Đông Đơ

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Đơng Đơ được

thành lập trên cơ sở nâng cấp phòng giao dịch 2 của Sở Giao dịch 1 Ngân hàng Đầu

tư và Phát triển Việt Nam. Chi nhánh bước vào hoạt động từ ngày 31/07/2004 theo

quyết định 191/QĐ-HĐQT ký ngày 5/7/2004 của hội đồng quản trị BIDV. Việc

thành lập chi nhánh góp phần thúc đẩy mục tiêu mở rộng mạng lưới, phát triển thị

phần và khẳng định thương hiệu của BIDV.

Chi nhánh BIDV Đông Đô ra đời nhẳm thực hiện mục tiêu, chủ trương gắn

liền đổi mới và phát triển; mở rộng mạng lưới khách hàng thuộc mọi thành phần,

cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ, dảm bảo an toàn hệ thống.

Trong giai đoạn đầu, CN gặp nhiều khó khăn: cạnh tranh, phải xây dựng quan

hệ hình thành nhóm khách hàng quen thuộc, đội ngũ nhân lực chưa có kinh nghiệm

cao.Tuy nhiên sau 2 năm hoạt động, sau nhiều nỗ lực, chi nhánh trở thành một trong

những đơn vị kinh doanh hiệu quả nhất và là thành viên tiêu biểu trong toàn hệ

thống. Chi nhánh nhận được sự đánh giá cao của BIDV Việt Nam với thành tích là 1

trong 10 chi nhánh đứng đầu toàn hệ thống về huy động vốn.

Năm 2007, Chi nhánh đã thiết lập được mơ hình Chi nhánh bán lẻ ,được chứng

nhận phù hợp tiêu chuẩn Quacert - thuộc Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng

cấp giấy chứng nhận Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2000

trong lĩnh vực hoạt động: Cung cấp dịch vụ thanh tốn, tín dụng và bảo lãnh.

Năm 2008, Chi nhánh đạt được kết quả đáng khích lệ trong hoạt động và tuân

thủ chủ trương của Chính phủ và BIDV. Chi nhánh tiến hành cải cách tổ chức: xây

dựng và thiết kế lại chức năng nhiệm vụ của các phòng tổ theo mơ hình AT2.

Với lịch sử hình thành và phát triển, Chi nhánh BIDV Đông Đô khẳng định

bản thân là một trong những cơ sở tiên phong trong hệ thống, chú trọng triển khai

nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ, đối tượng phục vụ chủ yếu là SMEs, các doanh nghiệp

ngoài quốc doanh, tư nhân, cá thể… Chi nhánh được xây dựng theo mô hình ngân

hàng hiện đại với năng lực cạnh tranh cao; uy tín là ưu tiên hàng đầu; hạn chế rủi ro



và tăng cường an toàn hệ thống. Chi nhánh nỗ lực nghiên cứu thị trường, đa dạng

hóa danh mục sản phẩm dịch vụ. NH đã có khoảng hơn 120 sản phẩm dịch vụ và

danh mục này đang tiếp tục phong phú thêm. Chi nhánh luôn là một trong điểm

triển khai thí điểm trong tồn hệ thống các dịch vụ ngân hàng bán lẻ: Dịch vụ ATM,

thanh toán thẻ Visa, Master, chuyển tiền Western Union, BSMS …

Chi nhánh triển khai mô hình giao dịch một cửa hiệu quả với quy trìn và công

nghệ tiên tiến.

Đội ngũ cán bộ trẻ, năng động được đào tạo chính quy, nhanh nhạy với thị

trường và chính sách đổi mới của nhà nước để áp dụng trong q trình cơng tác.

Mạng lưới của chi nhánh ngày càng được mở rộng. Hiện nay chi nhánh có 9

điểm giao dịch: 5 phòng giao dịch, 3 quỹ tiết kiệm, 1 điểm giao dịch.

 CN Đông Đô - 14 Láng Hạ, Q.Ba Đình, Tp.Hà Nội

 PGD 1 - 78 Phạm Ngọc Thạch, Q.Đống Đa,

 PGD 2 - 24T1 Nhân Chính, Q.Thanh Xuân

 PGD 4 - 45 Thái Thịnh, Q.Đống Đa

 PGD 5 - 91 Đê La Thành, Q.Đống Đa

 ĐGD 9 - 34 Hai Bà Trưng, Q.Hoàn Kiếm,

 QTK 17 - Khu đô thị mới Trung Yên, Q.Thanh Xuân

 QTK 19- 16 Đoàn Thị Điểm, Q.Đống Đa

 QTK 22 -13 Lương Đình Của, Q.Đống Đa

Chi nhánh quản lý số lượng lớn máy ATM, phát hành và quản lý hơn 22000

thẻ ATM, phục vụ hơn 44.000 khách hàng cá nhân và 1.400 tổ chức.

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ

 Cung cấp các dịch vụ ngân hàng truyền thống và hiện đại.

 Kinh doanh về tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng phù hợp với pháp luật,



nâng cao lợi nhuận của hệ thống, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.

2.1.3 Cơ cấu tổ chức

 Khái quát: Đứng đầu chi nhánh là giám đốc, dưới giám đốc có 5 bộ phận hỗ

trợ cho hoạt động quản lý bao gồm 3 phó giám đốc và các phòng quản lý rủi ro và

kế hoạch tổng hợp. Cơ cấu này có sự thay đổi so với giai đoạn 2008. Mỗi phó giám

đốc phụ trách quản lý các phòng ban khác nhau. Mơ hình tổ chức của chi nhánh

BIDV Đơng Đơ được thiết kế và xây dựng theo mơ hình hiện đại hố ngân hàng,

phù hợp với quy mô và đặc điểm hoạt động của chi nhánh.

Bảng 2.1 - Cơ cấu tổ chức BIDV Đông Đô



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Chất lượng thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x