Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Lãi suất cho vay

Lãi suất cho vay

Tải bản đầy đủ - 0trang

hiện tại, từ đó tính NPV. Nếu lãi suất cho vay thực tế trên thị trường biến động, ảnh

hưởng đối với dự án có thể trên quy mơ lớn.

 Các yếu tố về thị trường đầu vào, đầu ra

Hiệu quả tài chính dự án đầu tư được tính tốn trên cơ sở dựa vào những số

liệu dự báo của thị trường. Các số liệu này được dự kiến thông qua các điều tra,

đánh giá thị trường, các thông tin thực tế trong quá khứ của doanh nghiệp. Tuy

nhiên, thị trường luôn tồn tại những biến động, giá bán dự kiến, giá nguyên liệu, tỷ

giá biến động … đều làm sai lệch kết quả đầu tư so với dự kiến.



 KẾT LUẬN:

 Số tiền cho vay: 130 tỷ VND

 Thời gian vay: 7 năm (ân hạn 2 năm)

 Lãi suất cho vay: lãi suất trung bình của tiết kiệm trả lãi sau kỳ hạn 12 tháng

của 4 NHTM quốc doanh tại Hà Nội + 3,5%.



2.3

Đánh giá công tác thẩm định dự án trong hoạt động cho vay tại BIDV

Đông Đô

2.3.1 Kết quả đạt được

Tuy mới được hình thành chưa lâu, nhưng Chi nhánh không ngừng phát triển

và đổi mới, khẳng định vị thế của mình trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, từng

bước trở thành một trong đơn vị hàng đầu của tồn hệ thống. Để có được thành

cơng đó, quy trình thẩm định dự án của Chi nhánh ln được chú trọng hồn thiện.

Các cán bộ phòng thẩm định luôn nỗ lực tiến hành nghiên cứu, thẩm định các dự án

nhằm giúp Chi nhánh tăng trưởng tín dụng, thúc đẩy hiệu quả kinh doanh, đồng thời

giảm thiểu rủi ro tín dụng.

Trong năm vừa qua, cơng tác thẩm định và tín dụng đối với các dự án vẫn tiếp

tục tăng trưởng, thể hiện qua:

- Tổng số dự án thẩm định: Từ số lượng 13 dự án lớn được thẩm định vào năm

2006, số lượng các dự án đưa vào thẩm định đã tăng đáng kể qua các năm.

Năm

2007

2008

2009



Mức gia tăng số lượng dự án

50%

52%

55%



- Dư nợ cho vay theo dự án chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng dư nợ

hàng năm, dao động xung quanh mức 40%. Dù đang chuyển hướng đầu tư vào lĩnh

vực Ngân hàng bán lẻ, những BIDV Đơng Đơ nói riêng và BIDV nói chung vẫn

duy trì lợi thế cạnh tranh trong cho vay đối với dự án.Tỷ trọng cho vay các dự án

trung-dài hạn vẫn ở mức cao trong tổng dư nợ. (Bảng 2.11 )

- Cơ cấu về đối tượng cho vay đối cho vay dự án đang có xu hướng nghiêng

về các khu vực ngoài quốc doanh, là thị trường khá hấp dẫn đối với các Ngân hàng.

- Cơ cấu các lĩnh vực, ngành nghề đầu tư ngày càng đa dạng, thể hiện sự phân

tán rủi ro rõ rệt trong hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, lĩnh vực xây lắp, điện,

bất động sản, vẫn là những ngành nghề thế mạnh của Chi nhánh. (Bảng 2.11)

2.3.1.1. Quy trình thẩm định:

Quy trình và nội dung thẩm định do BIDV Việt Nam quy định được tn thủ

chặt chẽ trong q trình thực hiện cơng tác thẩm định tại Chi nhánh Đơng Đơ. Quy

trình trên đã đảm bảo được rất nhiều yếu tố: khoa học, hiệu quả, nhanh gọn, hạn chế

rủi ro.



Quy trình thẩm định có sự tách biệt rõ rệt về chức năng, nhiêm vụ và trách

nghiệm của các phòng ban, cũng như các cán bộ tác nghiệp. Vì vậy việc phân cấp

thẩm định và xác định trách nhiệm đã góp phần thúc đấy cơng tác thẩm định diễn ra

nhanh chóng và hiệu quả

Các bước trong quy trình thẩm định được quy định rõ ràng, khoa học, hướng

dẫn chi tiết các phòng ban và cán bộ ngân hàng trong khâu tín dụng - thẩm định.

2.3.1.2. Đội ngũ nhân lực:

Tuy mới thành lập nhưng Chi nhánh đã thu hút và đào tạo được đội ngũ nhân

lực trẻ, nhiệt huyết và được trang bị đầy đủ kiến thức. Tất cả các cán bộ thẩm định

đều tốt nghiệp đại học hệ chính quy trong nước hoặc nước ngồi, đã tích lũy khối

lượng kiến thức sâu rộng về tài chính - ngân hàng, cũng như những lĩnh vực kinh tế

- xã hội khác, vốn rất cần trong thẩm định dự án đầu tư.

Các cán bộ thẩm định của Chi nhánh luôn nỗ lực trau dồi thêm kiến thức và

kinh nghiệm thơng qua những khóa học, khóa đào tạo và huấn luyện, các diễn đàn

và thảo luận.

Do nguồn nhân lực khá trẻ nên Chi nhánh Đông Đô luôn là một mơi trường

làm việc có tác phong chun nghiệp, linh động và nhạy bén với đổi thay của thị

trường.

BIDV nói chung và Chi nhánh BIDV Đơng Đơ nói riêng khơng ngừng rèn

luyện, nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho các cán bộ ngân hàng, khuyến khích họ

phát triển tồn diện, cống hiến cho Ngân hàng, trung thực và yêu nghề.

2.3.1.3. Trang thiết bị, công nghệ:

Hiện nay, Chi nhánh đã được trang bị hệ thống thiệt bị và công nghệ hiện đại,

đặc biệt là công nghệ thông tin.

Mỗi cán bộ thẩm định được trang bị máy tính nối mạng nội bộ và Internet,

nhằm phục vụ cho công tác thu thập, lưu trữ và xử lý thơng tin. Bên cạnh đó, cũng

như các phòng ban khác, phòng thẩm định có cơ sở vật chất đầy đủ và hiện đại: điện

thoại, hệ thống điều hòa, ánh sáng… tạo nên mơi trường làm việc hiệu quả.

2.3.1.4. Các tiêu chuẩn chất lượng thẩm định:

 Chỉ tiêu định tính

- Quy trình và kỹ thuật thẩm định: Cơng tác thẩm định tại Chi nhánh, không

phân biệt dự án khác nhau đều tuân thủ nghiêm túc từng bước trong quy trình chung

của ngân hàng.

- Kết quả thẩm định - Kết luận cuối cùng:



Sau khi thực hiện các quy trình và nội dung thẩm định, các cán bộ lập Báo cáo

thẩm định, trong đó nêu rõ kết luận độc lập, và giải trình cụ thể. Từ đó hình thành

đề xuất các phương án cho vay đối với khách hàng trình lên cấp trên ký duyệt.

- Phát hiện những sai sót trong hồ sơ vay vốn:

Khi đánh giá toàn bộ dự án, các cán bộ thực hiện kiểm tra các thông số và

thông tin, chứng thực độ tin cậy bằng nhiều phương pháp nghiên cứu và điều tra.

Các cán bộ xem xét mức độ sai phạm đó, tính tốn lại các chỉ tiêu, ra quyết định cho

vay hoặc đưa ra tư vấn nhằm hoàn thiện dự án.

 Chỉ tiêu định lượng

- Số lượng các dự án do Chi nhánh thẩm định ngày càng tăng lên đáng kể.

Năm 2006, chỉ mới có khoảng 13 dự án lớn được đưa vào thẩm định. Nhưng

bước sang 2009-2010, số lượng các hồ sơ vay vốn đã tăng lên. Các dự án này có

lĩnh vực hoạt động khá đa dạng: xây dựng, nhà máy xi măng, nhà máy sữa, chế biến

thực phẩm, nhà máy sản xuất bao bì đóng gói, xây dựng trung tâm thương mại …

Sự gia tăng này góp phần củng cố uy tín và năng lực cạnh tranh của Chi nhánh.

- Thời gian thẩm định:

Theo quy định chung, thời gian xem xét và thẩm định đối với các dự án nhóm

A là 25 ngày, nhóm B là 18 ngày, và các dự án còn lại là 9 ngày kể từ khi Chi nhánh

chính thức tiếp nhận hồ sơ và giấy đề nghị cho vay hợp pháp từ khách hàng. Các

cán bộ phòng Thẩm định ln nỗ lực hồn thành tốt cơng việc được giao, đưa ra

những đề xuất tham mưu cho lãnh đạo, đồng thời kết hợp với các phòng ban khác

xúc tiến cơng tác tín dụng. Khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn, phòng thẩm định và các

phòng ban chức năng có liên quan khác, tập trung nhân lực và tâm sức thẩm định

nhằm đưa ra kết luận cũng như đề xuất phương án khả thi trong thời gian ngắn nhất.

Một số dự án có thời gian thẩm định dài hơn thơng lệ do tính chất phức tạp,

quy mơ lớn hoặc giấy tờ, tài liệu chưa đầy đủ, chưa có cơ sở để thực hiên thẩm

định.

Hiện nay đối với tín dụng cá nhân và tín dụng tiêu dùng, thời gian thẩm định

được rút ngắn đáng kể so với trước đây, làm tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm

tín dụng Chi nhánh cung cấp.

- Kinh phí đầu tư cho cơng tác thẩm định:

Quá trình thẩm định phát sinh một số khoản chi phí phục vụ cho: thu thập

thơng tin, tìm hiểu doanh nghiệp, khảo sát thị trường, đối tác tư vấn, chi phí đi lại…

Chi phí dao động phụ thuộc vào quy mô dự án và chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ so với



lãi thu được từ cho vay đầu tư dự án. Nói chung, các khoản chi này đều được thống

kê minh bạch, và chi tiêu hợp lý.

- Chất lượng các khoản vay dự án

Dư nợ tín dụng của Chi nhánh liên tiếp tăng trưởng trong giai đoạn vừa qua

cho thấy hiệu quả và năng lực cạnh tranh của Chi nhánh nói chung và ưu việt trong

cơng tác thẩm định nói chung. Vì cơng tác thẩm định là một trong những mắt xích

quan trọng nhất trong bộ máy của ngân hàng, giúp cho ngân hàng có thể đưa ra kết

luận chính xác nhằm tăng nguồn thu mà vẫn hạn chế rủi ro, đảm bảo an tồn tín

dụng.

Các khoản nợ của Chi nhánh có chất lượng tốt. Tỉ lệ nợ xấu thấp hơn trung

bình tồn hệ thống và các hệ thống ngân hàng khác cho thấy công tác đánh giá các

khoản vay được thực hiện khá hiệu quả và đưa ra những kết luận khá chính xác.

Tuy nhiên khơng thể đòi hỏi tỉ lệ nợ xấu là 0% vì rủi ro ( trong đó có những rủi ro

hệ thống) vốn là bản chất của đầu tư.



Nợ quá hạn



2005



2006



2007



2008



2009



4%



3.2%



0.12%



2.76%



2%



Tình hình thu nợ của Chi nhánh trong thời gian qua khá tốt.

Đối với nợ ngắn hạn: Tổng doanh số thu nợ ngắn hạn có xu hướng tăng. Năm

2007 tăng hơn gấp đôi năm 2006. (Bảng 2.8 - Doanh số thu nợ ngắn hạn)

Đối với nợ trung và dài hạn: Doanh số thu nợ liên tiếp tăng với mức tăng

trưởng là: 100% năm 2007 và 15% năm 2008. (Bảng 2.9 - Doanh số thu nợ trung

và dài hạn)

2.3.2 Hạn chế

2.3.2.1 Nội dung thẩm định

 Chỉ tập trung vào thẩm định tài chính

Mặc dù nội dung thẩm định dự án bao quát nhiều lĩnh vực: pháp lý, tài chính,

kinh tế, quản lý…nhưng các NHTM nói chung và Chi nhánh Đơng Đơ nói riêng

vẫn nghiêng về phân tích tài chính dự án, đơi khi chưa chú trọng đến thẩm định dự

án trên phương diện thị trường, kỹ thuật, lợi ích kinh tế, quản lý và rủi ro.

Một nguyên nhân dễ hiểu của hạn chế trên là do việc xác định và đánh giá các

chỉ tiêu định lượng về tài chính tiến hành dễ dàng hơn so với việc thẩm định các yếu

tố phi tài chính và định tính. Hơn nữa, thẩm định dự án đòi hỏi các cán bộ trực tiếp

tham gia đảm nhiệm phải có cái nhìn tổng quát và kiến thức sâu sắc về ngành nghề,



lĩnh vực đầu tư (xây dựng, sản xuất, năng lượng…) và sự linh động, nhạy bén bởi

mỗi dự án có đặc điểm khác hoàn toàn nhau.

 Việc thẩm định một số chỉ tiêu:

- Doanh thu, chi phí, dòng tiền: Nhìn chung việc thẩm định các số liệu tài

chính trên vẫn dựa trên nguồn thông tin một chiều từ báo cáo của doanh nghiệp. Sự

phân tích của Ngân hàng chỉ dừng lại ở giá bán dự kiến, tốc độ tăng doanh số/doanh

thu…chứ chưa có sự đầu tư nghiên cứu khảo sát thị trường đầu vào, đầu ra, cung

cầu, phân tích ngành… Về các khoản chi phí, ngân hàng cũng chỉ tham khảo số

liệu, chứ chưa có sự khảo sát thực tế, và đánh giá mức hợp lý, hiệu quả của chi tiêu.

- Tỷ lệ chiết khấu: là một trong những chỉ tiêu trọng yếu trong phân tích dự án.

Chỉ cần một sự thay đổi nhỏ trong tỷ lệ chiết khấu có thể dẫn đến khác biệt đánh kể

trong kết quả kinh doanh, thời gian hoàn vốn của dự án. Việc xác định tỷ lệ chiết

khấu hiện nay chưa căn cứ vào những cơ sở vững chắc, mới tồn tại ở mức ước đốn.

Do đó, tỷ lệ chiết khấu được dùng trong tính tốn kết quả kinh doanh của dự án

chưa phản ánh được chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn. Lạm phát là một yếu tố

làm cho tỷ lệ này thay đổi, cũng chưa được tính đến. Ngồi ra, tỷ lệ này là cố định,

được tính cho suốt vòng đời của dự án, dẫn đến sai số có thể khá lớn.

- Một số chỉ tiêu về tài chính như: NPV, IRR, DSCR … được dùng để đánh

giá, lựa chọn dự án, được đề cập và tính tốn trong hầu hết các dự án. Nhưng các

ngân hàng vẫn chỉ dừng lại ở tính tốn số liệu, chưa so sánh các chỉ tiêu tài chính,

kết hợp các chỉ tiêu đưa ra kết luận hay phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu.

 Chưa quan tâm nhiều đến thẩm định rủi ro

Thẩm định rủi ro là một trong những bước quan trọng trong thẩm định, được

thực hiện thơng qua phân tích độ nhạy của dự án. Tuy nhiên phần lớn các dự án chỉ

được phân tích độ nhạy một chiều. Một số ít dự án được tiến hành phân tích độ

nhạy hai chiều và phân tích tình huống để nhận định rõ rủi ro và mức độ ảnh hưởng

đến kết quả dự án.

2.3.2.2 Nghiên cứu dự án ở trạng thái tĩnh

Tại các ngân hàng thương mại nói chung, việc xem xét, thẩm định dự án phần

lớn ở trạng thái “tĩnh”. Trong tương lai, Chi nhánh Đơng Đơ nói riêng và các ngân

hàng thương mại nói chung nên đặt các dự án trong trạng thái động của thị trường

để phân tích. Thị trường biến đổi không ngừng, nghiên cứu thị trường để xác định

những nhân tố làm thay đổi kết quả dự án, từ đó xác định mực độ ảnh hưởng của

các yếu tố đó, khả năng thích ứng của dự án trong trạng thái “động”.



2.3.2.3 Thông tin phục vụ công tác đánh giá

Thông tin, tài liệu dùng cho công tác thẩm định chủ yếu bắt nguồn từ đơn vị

xin vay vốn. Chính vì thế các tài liệu này khơng thể tránh khỏi tính chủ quan, khơng

chính xác. Các khách hàng mong muốn vay vốn thường tạo ra những báo cáo hoặc

dự đốn thị trường theo hướng có lợi cho mình.

Hơn nữa, chất lượng thông tin và số liệu trong các bản báo cáo của các doanh

nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa qua kiểm toán là

một mối lo ngại đối với Ngân hàng.

Ngân hàng phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thông tin một chiều từ các doanh

nghiệp xin vay vốn. Các báo cáo doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh dự kiến của

dự án do các doanh nghiệp lập, thế nhưng khi tiến hành thẩm định, những số liệu

này ít khi được xem xét đánh giá đúng mức. Dù được đầu tư kĩ lưỡng đến đâu, bản

thân dự án vẫn sẽ được nhìn nhận theo hướng chủ quan của người lập. Hơn nữa,

mỗi người có cách nhìn nhận vấn đề riêng, khối lượng kiến thức bao quát những

lĩnh vực khác nhau. Các chủ đầu tư thường nhấn mạnh và làm nổi bật điểm mạnh

của doanh nghiệp, của dự án, trong khi những điểm yếu ít khi được nhắc đến. Và

những yếu điểm này rất có thể là dẫn đến rủi ro trong khi đầu tư và vận hành dự án.

Các ngân hàng chưa tạo được liên kết thông tin với những đối tượng liên quan

đến hoạt động dự án: các nhà cung cấp, thị trường đầu ra, đối thủ cạnh tranh…

2.3.2.4 Công tác tái thẩm định

Công tác tái thẩm định sau khi Chi nhánh thực hiện giải ngân cho doanh

nghiệp chưa được quan tâm đúng mức. Một số dự án khi bắt đầu được giải ngân, đi

vào hoạt động, chưa tạo được hiệu quả và thành công như dự kiến, nhưng chưa

được ngân hàng nhìn nhận và đánh giá khách quan. Cần phải nhận thức rõ hơn về

tầm quan trọng và vai trò của nghiệp vụ này nhắm hạn chế rủi ro từ cho vay dự án.

2.3.2.5 Ưu tiên đối với một số đối tượng khách hàng

Đôi khi quyết định cho vay được dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa khách hàng

vay vốn và ngân hàng, hoặc chỉ thị của cấp trên (đối với các dự án do công ty nhà

nước tiến hành).

Trong một số trường hợp, kết quả thẩm định không phải là cơ sở duy nhất và

ưu tiên để ra quyết định. Khi tiến hành nghiên cứu dự án, ngân hàng thường quá chú

trọng tài sản cầm cố, thế chấp, đơn vị bảo lãnh, thời gian hồn vốn. Điều này có

nghĩa là các khách hàng truyền thống, lâu năm, các đơn vị kinh doanh nhà nước là

những khách hàng nhận được vốn giải ngân nhiều nhất. Trong khi khu vực kinh tế



tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn năng động và hoạt động hiệu

quả lại không được hưởng nhiều ưu đãi.

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế

2.3.3.1 Nguyên nhân chủ quan

2.3.3.1.1 Kiến thức tổng hợp của cán bộ thẩm định

Thẩm định dự án đòi hỏi các cán bộ tham gia phải có kiến thức sâu rộng về

nhiều lĩnh vực: tài chính, thị trường, kế tốn kiểm tốn … Hơn nữa mỗi dự án lại có

quy mơ, đặc điểm, lĩnh vực đầu tư riêng. Quy trình thẩm định và các bước trong nội

dung thẩm định đối với tất cả các dự án là như nhau, nhưng không thể áp đặt máy

móc các cơng thức tính tốn và các tiêu chuẩn đánh giá. Mỗi dự án là một thách

thức mới đối với các cán bộ phòng thẩm định. Do đó cơng việc thẩm định đặt ra u

cầu cao về kiến thức tổng hợp, khả năng chịu áp lực công việc cao.

Chi nhánh đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ trẻ và giàu kiến thức chuyên

môn. Tuy nhiên kiến thức chỉ là cơ sở cho các bước tiến hành thẩm định thực tế.

Các cán bộ cần không ngừng trau dồi kinh nghiệm và các kiến thức bổ trợ khác.

2.3.3.1.2 Công tác thu thập thông tin

Công tác thu thập thông tin ở các ngân hàng đều đối phải đối mặt với một số

khó khăn:

Sự trao đổi và liên kết thông tin giữa ngân hàng và các chủ thể liên quan đến

dự án chưa được triển khai. Trong khi đánh giá các dự án, ngân hàng phần lớn chỉ

dựa vào nguồn thông tin một chiều do chủ đầu tư cung cấp. Trong khi rất nhiều

những số liệu, báo cáo có thể được giải trình và tư vấn bởi các đối tượng như: cơng

ty kiếm tốn, cơng ty tư vấn, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, nhà bán lẻ…

2.3.3.2 Nguyên nhân khách quan

2.3.3.2.1 Khung pháp lý

Các cơ quan hữu quan chưa tạo ra môi trường pháp lý thực sự thuận lợi cho

hoạt động ngân hàng nói chung, và hoạt động thẩm định nói riêng. Mặc dù đã có

văn bản hướng dẫn, nhưng nhìn chung còn tồn tại nhiều thiếu sót và bất cập.

Thị trường tài chính có sự biến đổi và phát triển năng động từng ngày từng

giờ, những công cụ mới, hoạt động mới, rủi ro phát sinh không ngừng, nhưng các

bộ, ngành liên quan luôn chậm đổi mới và bổ sung chính sách. Một số cơ chế, chính

sách về hoạt động cho vay của Ngân hàng đang trong quá trình nghiên cứu, sửa mới

và bổ sung, tuy nhiên q trình này diễn ra q chậm, khơng theo kịp với biến đổi



thị trường, và chắp vá, khơng có sự thống nhất. Các quy định về kế toán, kiểm

toán… là cơ sở cho thẩm định tài chính dự án cũng đang gặp phải nhiều thiếu sót.

Trong tương lai, các cơ quan chức năng cần chú trọng tạo ra môi trường pháp

lý vững chắc để hoạt động thẩm định tiếp tục hoàn thiện và phát triển.

2.3.3.2.2 Thị trường biến động

Việt Nam là thị trường mới nổi, giai đoạn đầu thực hiện kinh tế thị trường. Vì

thế phải khẳng định rằng thị trường đang và sẽ tồn tại nhiều bất ổn do quá trình hình

thành, phát triển chưa lâu và những chính sách quản lý điều tiết của Nhà nước chưa

đủ mạnh, chưa đủ đúng đẵn để chèo lái nền kinh tế theo hướng phát triển nhanh mà

bền vững. Những rủi ro trong đầu tư và vận hành dự án là khơng thể tránh khỏi.

Việc dự tính kết quả kinh doanh của dự án (dự báo doanh thu, lợi nhuận, dòng

tiền …) là thực sự khó khăn trong cả bối cảnh thị trường biến động hàng ngày.

Trong khi thị trường giá cả của nước ta tiềm ẩn nhiều bất ổn, thì công tác dự báo

này không thể tránh khỏi sai lệch, thậm chí trên quy mơ lớn. Việc lập và lựa chọn

dự án là một thách thức, không chỉ với chủ đầu tư mà với cả cán bộ thẩm định.

Tóm lại, dù được cân nhắc kĩ lượng trên nhiều phương diện, kết quả thẩm định

vẫn có thể sai lệch so với thực tế, nhất là đối với dự án trung và dài hạn. Điều này

dẫn đến những quyết định sai lầm của các Ngân hàng trong hoạt động tín dụng.

2.3.3.2.3 Hệ thống thông tin

Nguồn thông tin phục vụ công tác thẩm định tại ngân hàng còn nhiều hạn chế

cả về chất lượng và số lượng. Hệ thống thơng tin còn nghèo nàn, thiếu thốn và ít

được cập nhật. Có nhiều ngun nhân khách quan làm cho các tài liệu và thông tin

thẩm định chưa đạt yêu cầu:

Chế độ tài chính kế tốn của nước ta chưa được thống nhất trên tồn hệ thống.

Trong các quy định về tài chính kế tốn, kiếm tốn, nhiều thiếu sót và bất cập vẫn

tồn tại. Một số những hoạt động, khoản mục … chưa được hướng dẫn chi tiết hoặc

chưa được thống nhất thực hành …

Chất lượng thơng tin từ các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chưa thực

sự đáng tin cậy. Kiểm toán độc lập tại nhiều doanh nghiệp cho thấy các sai phạm có

trọng yếu. Và số lượng các cơng ty vừa và nhỏ chưa qua kiểm toán là rất lớn. Hiện

tượng thông tin không minh bạch khá phổ biển ở nước ta. Hơn nữa, trình độ chun

mơn, đạo đức nghề nghiệp của kế toán trưởng cùng ban lãnh đạo ở một số doanh

nghiệp chưa cao cũng có thể dẫn đến những sai phạm trong báo cáo, số liệu …



Ngân hàng ln gặp khó khăn trong việc chứng thực các thơng tin từ báo cáo tài

chính dự tính của dự án.

Thị trường tư vấn ở nước ta vẫn đang ở giai đoạn đầu phát triển. Các ngân

hàng khó có thể tìm kiếm sự trợ giúp từ bên ngoài trong khâu thẩm định các dự án.

2.3.3.2.4 Trình độ chun mơn và đạo đức kinh doanh của chủ đầu tư

Một số chủ đầu tư có trình độ chun mơn, kiến thức đầu tư chưa sâu, các kĩ

năng thiết lập và quản lý dự án còn nhiều khiếm khuyết. Rất nhiều dự án được lập

một cách sơ sài, chưa bao quát đầy đủ các nội dung và chỉ tiêu chính hoặc các dự án

được lập ra khơng bám sát thực tiễn và có nhiều biến động lớn khi đi vào thực tế.

Nghiêm trọng hơn, hiện nay, một số chủ doanh nghiệp cố tình tạo ra những

thông tin giả, lập dự án với các chỉ tiêu khơng đáng tin cậy, mang nặng tính chủ

quan, vi phạm chế độ kế toán, kiểm toán… để được nhận vốn vay từ ngân hàng.

2.3.3.2.5 Bản chất rủi ro của đầu tư

Rủi ro là khả năng xảy ra sai biệt giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận dự kiến.

Bất cứ loại hình đầu tư nào cũng tiềm ẩn những rủi ro nhất định.

Khâu thẩm định được thực hiện trên báo cáo dự tính của dự án. Những số liệu

tính tốn được lập ra qua q trình nghiên cứu thị trường trong q khứ. Chỉ cần

một biến trong mơ hình tính tốn này dao động, kết quả của dự án sẽ bị sai lệch so

với thực tế. Tùy vào mỗi quan hệ giữa các biến và mức độ ảnh hưởng của biến đối

với kết quả dự án, mà sự sai lệch này có quy mơ lớn hay nhỏ. Trong một dự án, có

rất nhiều biến thay đổi có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả thẩm định, đưa ra những

kết quả thẩm định có thể trái ngược nhau.

Việc xác định và định lượng rủi ro đối với dự án khá phức tạp do bao hàm

nhiều yếu tố. Các công cụ và mơ hình hiện nay vẫn vấp phải nhiều khó khăn khi

tiến hành phân tích rủi ro khi đầu tư dự án.



Chương III

GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM

ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN

HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN - CHI NHÁNH ĐÔNG ĐÔ

3.1 Định hướng phát triển của Chi nhánh giai đoạn 2010-2015

3.1.1 Định hướng phát triển tổng thể của Chi nhánh giai đoạn 2010 - 2015

 Nghiêm túc thực hiện chỉ thị của Chính phủ và Ngân hàng nhà nước, góp

phần hồn thành mục tiêu vĩ mơ: thúc đẩy sản xuất kinh doanh, lưu thơng hàng hóa,

ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, gắn

với việc kiểm soát chất lượng tín dụng.

 Tập trung chuyển đổi phương thức hoạt động theo chỉ đạo của NHNN nhằm

thỏa mãn cao nhất các nhu cầu của từng đối tượng khách hàng, gia tăng nhanh hiệu

quả và kiểm soát được rủi ro theo từng lĩnh vực kinh doanh.

 Chủ động, độc lập trong hoạt động kinh doanh, từ đó góp phần thực hiện

mục tiêu, tôn chỉ của BIDV Việt Nam: “Ngân hàng chất lượng – uy tín hàng đầu

Việt Nam”

 Phát triển dịch vụ tài chính đa dạng

 Tình hình tài chính vững mạnh

 Tích cực chủ động chuẩn bị cho lộ trình cổ phần hóa

 Giải quyết triệt để vấn đề Nợ xấu

 Tăng trưởng ngân hàng trên cơ sở khả năng sinh lởi và bền vững

 Áp dụng các thông lệ và tuân theo tiêu chuẩn quốc tế

 Cải thiện và nâng cấp cơng nghệ Ngân hàng

 Phân nhóm khách hàng – Cung cấp sản phẩm dịch vụ chất lượng cao cho

thị trường mục tiêu

3.1.2 Định hướng phát triển cho vay theo dự án

Trên cơ sở chiến lược phát triển tổng thể lâu dài của BIDV Việt Nam là trở

thành ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam, cung cấp các sản phẩm dịch vụ

đa dạng, dẫn đầu cả về lĩnh vực ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ, Chi

nhánh Đơng Đơ đã xây dựng cho mình một kế hoạch cụ thể nhằm góp sức cho

thành cơng của tồn hệ thống. Trong đó, phát triển lĩnh vực cho vay dự án là một



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Lãi suất cho vay

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x