Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

58



bên có liên quan có thể đánh giá khơng chính xác về hiệu quả hoạt động kinh doanh

của công ty hoặc nhằm ảnh hưởng đến các hợp đồng có cam kết dựa trên lợi nhuận

kế toán báo cáo (Healy & Wahlen, 1999).

Nghiên cứu thực nghiệm trước đây cho thấy rằng hành vi điều chỉnh lợi

nhuận có thể ảnh hưởng đến môi trường thông tin doanh nghiệp, cụ thể ảnh hưởng

đến số lượng và chất lượng thông tin đặc thù công ty liên quan đến giá trị công bố

mà thị trường có thể tiếp cận được (O’Hara, 2003; Easley & O’Hara, 2004). Trong

khi đó, tính thơng tin của giá cổ phiếu phản ánh lượng thông tin đặc thù công ty

được chuyển hóa vào giá cổ phiếu thơng qua các giao dịch dựa trên thông tin của

các đối tượng tham gia thị trường (Morck, Yeung & Yu, 2000). Do vậy, rõ ràng

hành vi điều chỉnh lợi nhuận là một trong những nhân tố có thể ảnh hưởng đến tính

thơng tin của giá cổ phiếu (Zarowin, 2002; Jin & Myers, 2006; Fernandes &

Ferreira, 2009; Hutton, Marcus & Tehranian, 2009; Brockman & Schutte, 2010;

Rajgopal & Venkatachalam, 2011; Kim & Shi, 2012). Biến động về mức độ hành vi

điều chỉnh lợi nhuận của công ty niêm yết có thể ảnh hưởng đến việc tăng hay giảm

của tính thơng tin của giá cổ phiếu. Việc nghiên cứu về vấn đề này có ý nghĩa quan

trọng trong việc đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tính thông tin của giá cổ phiếu

để vốn và các nguồn lực khác được phân bổ hiệu quả hơn trong nền kinh tế.

Cho đến nay, các nghiên cứu trên thế giới cho thấy các lập luận trái ngược về

mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thơng tin của giá cổ phiếu

như đã trình bày ở Mục 1.3 (Zarowin, 2002; Huttoon, Marcus & Tehranian, 2006;

Jing, 2007; Ferreira & Laux, 2007; Johston, 2009; Dasgupta, Gan & Gao, 2010;

Rajgopal & Venkatachalam, 2011)..

Ngoài ra, ảnh hưởng (gồm cả mức độ và chiều hướng tác động) của hành vi

điều chỉnh lợi nhuận đến tính thơng tin của giá cổ phiếu phụ thuộc vào môi trường

thể chế và thông tin của mỗi quốc gia (Ball & cộng sự, 2000; Burgstahler & cộng

sự, 2006; Bushman & cộng sự, 2004; Bushman & Piotroski, 2006; Durnev & Kim,

2005; Haw & cộng sự, 2004; Hope, 2003; Leuz & cộng sự, 2003).

Xét bối cảnh cụ thể tại Việt Nam, môi trường thể chế và môi trường thông



59



tin nói chung của Việt Nam có các đặc điểm tương đồng với các nước đang phát

triển khác. Cụ thể, thị trường chứng khốn Việt Nam vẫn đang trong q trình hoàn

thiện về khung pháp lý cũng như cơ chế về công bố thông tin của các công ty niêm

yết, do đó tồn tại mức độ bất đối xứng thơng tin rất lớn. Điều này tạo cơ hội cho các

nhà quản trị thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua vận dụng các chính

sách kế tốn khi trình bày Báo cáo tài chính nhằm đạt được các mục tiêu khác nhau.

Ngoài ra, theo “Báo cáo Thẻ điểm Quản trị Công ty” được phối hợp xuất bản bởi Tổ

chức tài chính quốc tế IFC, Diễn đàn Quản trị Cơng ty Tồn cầu (GCGF) và Ủy

Ban Chứng khốn Nhà nước, thực trạng quản trị công ty của các doanh nghiệp niêm

yết ở Việt Nam còn mang nặng tính hình thức (IFC, 2012). Chính vấn đề quản trị

cơng ty ít hiệu quả này có thể tạo điều kiện cho những người điều hành công ty dễ

dàng thực hiện các hành vi tư lợi và thao túng các nguồn lực công ty. Cụ thể, những

người điều hành cơng ty có động cơ gia tăng mức độ hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Họ có xu hướng chỉ công bố thông tin một cách chọn lọc và có lợi cho cơng ty.

Điều này dẫn đến có ít thơng tin đặc thù cơng ty được tiếp cận bởi nhà đầu tư và

được chuyển hóa vào giá cổ phiếu, chất lượng thông tin được công bố đến thị

trường khFlorysiak (2015) chứng

minh rằng SYSGMM (Blundell & Bond, 1998), thường được sử dụng trước đây khi

giải quyết vấn đề này, cũng tạo ra ước lượng chệch đáng kể. Elsas & Florysiak

(2015) đề xuất một phương pháp mới cho mô hình dữ liệu bảng động. Tuy nhiên,



104



do cách tiếp cận khá mới và vì vậy, chưa thực hiện được trong các phần mềm thống

kê (ví dụ, STATA). Mặc dù vấn đề của mơ hình dữ liệu bảng động, biến chính trong

nghiên cứu của luận án là hành vi điều chỉnh lợi nhuận chứ khơng phải là biến trễ

phụ thuộc (đó là, giá trị trễ của tính thơng tin của giá cổ phiếu) nên mức độ ảnh

hưởng, nếu có, sẽ khơng là vấn đề nghiêm trọng.

Bảng 3.14 trình bày các kết quả của phân tích này tương ứng cho ảnh hưởng

của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thơng tin của giá cổ phiếu. Kết quả cho

thấy ước lượng hệ số trên biến dồn tích tùy ý vẫn khơng thay đổi về mặt định tính

và giá trị hệ số vẫn có ý nghĩa thống kê. Cụ thể, ước lượng hệ số của biến dồn tích

tùy ý là 0,170 (t-statistic= 1,13) với mức ý nghĩa 10%. Ngoài ra, việc đưa thêm biến

trễ tính thơng tin của giá cổ phiếu trong mơ hình hồi quy làm tăng R2 lên 40,49%.

Bảng 3.14: Hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thơng tin của giá cổ phiếu

(Kiểm sốt biến trễ phụ thuộc trong mơ hình)

Bảng trình bày kết quả của mơ hình hồi quy có dạng như sau:

Infori,t = γ + δDAi,t-1+ ηControlsi,t-1+n + t + ζi,t

Trong đó, Infori,t là Tính thơng tin của giá cổ phiếu, DA là biến dồn tích tùy ý đo lường Hành vi điều chỉnh

lợi nhuận, Controlsi là các biến kiểm sốt bao gồm Quy mơ cơng ty (MV), Hệ số giá thị trường trên giá trị sổ

sách của cổ phiếu (MB), Đòn bẩy (LEV), Lợi nhuận trên tổng tài sản của cơng ty (ROA), Tính bất ổn định của

lợi tức cổ phiếu (StdRet), Tỷ suất lợi tức năm của cổ phiếu (Ret12). Mơ hình hồi quy cũng bao gồm ảnh

hưởng cố định ngành (θn) và ảnh hưởng cố định năm (δt). Tất cả các biến độc lập được đưa vào mơ hình hồi

quy với giá trị trễ. Hồi quy cũng bao gồm giá trị trễ của biến phụ thuộc (l_Non_syn) trong mơ hình. Sai số

chuẩn robust được sử dụng và được ước lượng theo cụm mỗi công ty. *, **, *** thể hiện mức ý nghĩa tương

ứng với 10%, 5%, và 1%. Định nghĩa các biến được trình bày ở Mục 2.3. Mẫu nghiên cứu gồm toàn bộ công

ty niêm yết (không bao gồm các ngân hàng) trên hai Sở Giao dịch Chứng khốn TP Hồ Chí Minh và Sở Giao

dịch Chứng khoán Hà Nội trong khoảng thời gian 2007-2014.



Biến

DA



l_Non_syn

MV

MB



Mơ hình

0,170*

(1,13)

0,379***

(9,55)

-0,387***

(-11,37)

0,782***



105



LEV

ROA

StdRet

Ret12

Constant



Fix effects

Observations

Adjusted R-squared



(8,89)

0,255

(0,86)

-0,276

(-1,77)

-3,913***

(-6,12)

0,275**

(2,46)

1,138***

(3,69)

IY

2.146

40,49%

(Nguồn: Tính tốn của tác giả)



Thứ hai, dữ liệu nghiên cứu của luận án bao gồm tồn bộ các cơng ty niêm

yết trên hai Sở Giao dịch Chứng khốn TP. Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch Chứng

khốn Hà Nội. Sự khác nhau về quy mơ, điều kiện niêm yết, yêu cầu công bố thông

tin, cấu trúc vi mô thị trường của mỗi Sở Giao dịch có thể cũng ảnh hưởng chi phối

đến quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thơng tin của giá cổ phiếu.

Để giải quyết vấn đề này, tác giả kiểm sốt thêm trong mơ hình hồi quy ảnh hưởng

cố định Sở Giao dịch. Kết quả thể hiện ở Bảng 3.15 vẫn nhất quán với các phát hiện

trong phần phân tích chính. Cụ thể, ước lượng hệ số của biến dồn tích tùy ý là 0,185

(t-statistic= 2,06) với mức ý nghĩa 5%.

Bảng 3.15. Hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thơng tin của giá cổ phiếu

(Kiểm sốt ảnh hưởng cố định Sở Giao dịch)

Bảng trình bày kết quả của mơ hình hồi quy có dạng như sau: Infori,t = γ + δDAi,t-1+ ηControlsi,t-1+n + t +

φl + ζi,t

Trong đó, Infori,t là Tính thơng tin của giá cổ phiếu, DA là biến dồn tích tùy ý đo lường Hành vi điều chỉnh

lợi nhuận, Controlsi là các biến kiểm soát bao gồm Quy mô công ty (MV), Hệ số giá thị trường trên giá trị sổ



106



sách của cổ phiếu (MB), Đòn bẩy (LEV), Lợi nhuận trên tổng tài sản của cơng ty (ROA), Tính bất ổn định của

lợi tức cổ phiếu (StdRet), Tỷ suất lợi tức năm của cổ phiếu (Ret12). Mơ hình hồi quy cũng bao gồm ảnh

hưởng cố định ngành (θn) và ảnh hưởng cố định năm (δt) và ảnh hưởng của việc niêm yết trên sở giao dịch

(φl). Tất cả các biến độc lập được đưa vào mơ hình hồi quy với giá trị trễ.Sai số chuẩn robust được sử dụng

và được ước lượng theo cụm mỗi công ty. *, **, *** thể hiện mức ý nghĩa tương ứng với 10%, 5%, và 1%.

Định nghĩa các biến được trình bày ở Mục 2.3. Mẫu nghiên cứu gồm tồn bộ cơng ty niêm yết (khơng bao

gồm các ngân hàng) trên hai Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch Chứng khốn Hà

Nội trong khoảng thời gian 2007-2014.



Biến

DA

MV

MB

LEV

ROA

StdRet

Ret12

Constant



Fix effects

Observations

Adjusted R-squared



Mơ hình

0,185**

(2,06)

-0,576***

(-11,05)

1,103***

(11,30)

0,436

(1,07)

0,431

(0,53)

-4,036***

(-6,24)

0,209*

(1,93)

-0,372

(-1,05)

IYL

2.218

31,80%

(Nguồn: Tính tốn của tác giả)



Cuối cùng, mặc dù nghiên cứu đã kiểm soát gần như tồn bộ các biến đặc thù

cơng ty được ghi nhận trước đây có thể ảnh hưởng đến quan hệ giữa hành vi điều

chỉnh lợi nhuận và tính thơng tin của giá cổ phiếu, vẫn có khả năng rằng một nhân

tố đặc thù cơng ty nào đó ít hoặc không thay đổi theo thời gian nhưng không thể

quan sát và đo lường có tác động chi phối đến quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi



107



nhuận và tính thơng tin của giá cổ phiếu. Về lý thuyết, vấn đề này có thể giải quyết

bằng cách đưa thêm ảnh hưởng cố định cơng ty vào mơ hình hồi quy. Kết quả hồi

quy Bảng 3.16 cho thấy, phân tích thêm với ảnh hưởng cố định công ty vẫn cho kết

quả với dấu nhất quán với các phân tích ở phần trên, tuy nhiên, biến dồn tích tùy ý

đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận lại khơng có ý nghĩa thống kê. Một khả năng

giải thích cho kết quả này là với khoảng thời gian mẫu nghiên cứu là ngắn đối với

một dữ liệu bảng thông thường với quan sát theo tần suất năm (8 năm từ 2007 đến

2014) và biến dồn tích tùy ý đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận ít có sự biến

động theo thời gian. Các yếu tố này có thể có ảnh hưởng đáng kể đến năng lực kiểm

định nếu đưa ảnh hưởng cố định cơng ty vào mơ hình hồi quy.

Bảng 3.16: Hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thơng tin của giá cổ phiếu

(Kiểm sốt ảnh hưởng cố định cơng ty)

Bảng trình bày kết quả của mơ hình hồi quy có dạng như sau:

Infori,t = γ + δDAi,t-1+ ηControlsi,t-1 + ζi,t

Trong đó, Infori,t là Tính thơng tin của giá cổ phiếu, DA là biến dồn tích tùy ý đo lường Hành vi điều chỉnh

lợi nhuận, Controlsi là các biến kiểm soát bao gồm Quy mô công ty (MV), Hệ số giá thị trường trên giá trị sổ

sách của cổ phiếu (MB), Đòn bẩy (LEV), Lợi nhuận trên tổng tài sản của công ty (ROA), Tính bất ổn định của

lợi tức cổ phiếu (StdRet), Tỷ suất lợi tức năm của cổ phiếu (Ret12). Tất cả các biến độc lập được đưa vào mơ

hình hồi quy với giá trị trễ.Sai số chuẩn robust được sử dụng và được ước lượng theo cụm mỗi công ty. *, **,

*** thể hiện mức ý nghĩa tương ứng với 10%, 5%, và 1%. Định nghĩa các biến được trình bày ở Mục 2.3.

Mẫu nghiên cứu gồm tồn bộ công ty niêm yết (không bao gồm các ngân hàng) trên hai Sở Giao dịch Chứng

khốn TP Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội trong khoảng thời gian 2007-2014.



Biến



Mơ hình



DA



0,083

(0,78)



MV



-1,082***

(-5,20)



MB



0,040

(0,12)



LEV



-0,682

(-0,93)



108



Biến



Mơ hình



ROA



-1,946

(-1,42)



StdRet



-2,490***

(-2,96)



Ret12



0,234*

(1,70)



Constant



1,516***

(4,58)



Fix effects

Observations



2.218



Adjusted R-squared



62,40%

(Nguồn: Tính tốn của tác giả)



Tóm lại, phân tích thêm về tính bền vững của kết quả nghiên cứu cho thấy độ

tin cậy về tác động thuận chiều của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thơng tin

của giá cổ phiếu và quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thông tin của

giá cổ phiếu không chịu ảnh hưởng của vấn đề nội sinh. Các kết quả này minh

chứng cho giả thuyết rằng hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị làm tăng

tính thơng tin của giá cổ phiếu.



3.4. Kết luận

Chương này trình bày kết quả nghiên cứu về đo lường tính thơng tin của giá

cổ phiếu và đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các cơng ty niêm yết trên Sở

Giao dịch TP Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội trong khoảng thời gian

từ 2007 đến 2014. Trên cơ sở đó, cung cấp minh chứng thực nghiệm về mối quan hệ

giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thơng tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm

yết trên thị trường chứng khốn Việt Nam. Thơng qua phương pháp hồi quy dữ liệu bảng

đối với các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch TP Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch chứng

khoán Hà Nội trong khoảng thời gian từ 2007 đến 2014, kết quả ước lượng cho thấy mối

quan hệ thuận chiều giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thơng tin của giá cổ phiếu.

Kết quả này cho thấy giả thuyết nghiên cứu được chấp nhận và nhất quán với các nghiên



109



cứu trước đây trên thế giới về vấn đề này. Ngoài ra, kiểm định về tính bền vững của

kết quả nghiên cứu chứng minh độ tin cậy về ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi

nhuận đến tính thơng tin của giá cổ phiếu và cung cấp minh chứng cho thấy quan hệ

giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thơng tin của giá cổ phiếu không chịu ảnh

hưởng của vấn đề nội sinh. Các kết quả này khẳng định thêm cho giả thuyết hành vi

điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị làm tăng tính thơng tin của giá cổ phiếu.



110



CHƯƠNG 4

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC BÊN LIÊN QUAN

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu ở chương 3, chương này tác giả đề xuất

một vài khuyến nghị quan trọng về chính sách cho các cơ quan quản lý Nhà nước,

nhà quản trị công ty và nhà đầu tư trong việc gia tăng tính thơng tin của giá cổ phiếu

nhằm nâng cao hiệu quả của sự phân bổ vốn trong nền kinh tế.



4.1. Khuyến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước

Ở cấp độ vĩ mơ, thị trường chứng khốn hiệu quả cải thiện sự phân bổ vốn

của quốc gia bằng cách đưa nguồn vốn đến nơi sử dụng có hiệu quả cao nhất. Chức

năng này chỉ có thể được thực hiện khi giá cổ phiếu phản ánh chính xác và kịp thời

những thông tin liên quan đến giá trị của cơng ty. Nói cách khác, giá cổ phiếu phải

mang tính thơng tin cao (Wurgler, 2000; Durnev, Morck, & Yeung, 2004).

Kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy trong bối cảnh cụ thể của Việt

Nam, với môi trường thông tin chưa thật sự minh bạch, việc bảo vệ quyền lợi nhà

đầu tư chưa được chú trọng đúng mức và việc thực thi luật giao dịch nội gián chưa

thực sự hiệu quả, khi nhà quản trị điều chỉnh lợi nhuận sẽ làm tăng tính thơng tin

của giá cổ phiếu khả năng do các giao dịch dựa trên thông tin của các nhóm lợi ích

có quan hệ với cổ đơng nội bộ công ty. Do vậy, các khuyến nghị đối với cơ quan

quản lý Nhà nước tập trung trên hai phương diện: (1) thứ nhất, gia tăng tính minh

bạch của mơi trường thông tin; (2) thứ hai, tăng cường sự bảo vệ quyền lợi cho nhà

đầu tư khi tham gia thị trường.

(1) Việc cải thiện tính thơng tin của giá cổ phiếu có thể được thực hiện tốt

hơn nếu số lượng và chất lượng thông tin đặc thù công ty phục vụ cho mục đích đầu

tư ln có sẵn đối với các đối tượng tham gia thị trường. Điều này có khả năng thực

hiện được nếu giảm mức độ điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị. Đây không chỉ là

một yêu cầu cấp thiết đối với các công ty niêm yết mà còn là một yêu cầu cấp thiết

đối với thị trường chứng khoán Việt Nam. Giảm mức độ điều chỉnh lợi nhuận của

nhà quản trị trong các công ty niêm yết có thể sẽ tạo niềm tin cho nhà đầu tư, giúp



111



cho nhà đầu tư có đầy đủ thơng tin để ra quyết định đầu tư. Cụ thể, nhà hoạch định

chính sách cần có những giải pháp hồn thiện chuẩn mực và các quy định kế toán

để tăng cường độ tin cậy của thông tin công bố. Đồng thời, cần có thêm giải pháp

tăng cường sự tn thủ chính sách kế tốn và các quy định về cơng bố thơng tin đối

với các cơng ty niêm yết và có chế tài xử lý hữu hiệu hơn đối với hành vi điều chỉnh

lợi nhuận của nhà quản trị. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý Nhà nước có thể xem

xét việc thiết lập khung pháp lý liên quan đến vấn đề công bố thông tin liên tục

(continuos disclosure) nhằm tăng cường chất lượng thơng tin cơng bố. Từ đó, phần

nào hạn chế sự bất cân xứng thông tin giữa các cổ đông nội bộ công ty và nhà đầu

tư bên ngoài.

(2) Tuy nhiên, Jin & Myers (2006) đã chứng minh rằng mặc dù trong thực tế,

minh bạch thông tin và bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư thường đi cùng với nhau, minh

bạch thông tin không thể lý giải hồn tồn cho tính thơng tin của giá cổ phiếu nếu

bỏ qua vai trò của việc bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư.

Để tăng cường bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, từ đó khuyến khích họ tham gia

ngày càng nhiều hơn vào các hoạt động của thị trường, có thể thực hiện một số

những giải pháp sau:

Thứ nhất, cần nhanh chóng chuẩn hóa các quy định trong quản lý và phát

triển thị trường chứng khốn theo thơng lệ quốc tế, đặc biệt là theo các mục tiêu và

nguyên tắc do IOSCO khuyến nghị; đồng thời, có kế hoạch hệ thống hóa các quy

định về bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán đảm bảo đồng bộ, hiệu quả

hướng tới mục tiêu xây dựng một văn bản pháp luật thống nhất về bảo vệ nhà đầu

tư. Việc xây dựng và ban hành một văn bản pháp luật thống nhất về bảo vệ nhà đầu

tư giúp tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động này được diễn ra minh bạch

và hiệu quả hơn thế còn tạo tiền đề cho sự ra đời của các Quỹ bảo vệ nhà đầu tư –

một trong những biện pháp khắc phục cuối cùng khi quyền và lợi ích hợp pháp của

nhà đầu tư bị xâm phạm.

Thứ hai, cần bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp luật bảo vệ nhà đầu tư

tham gia các sản phẩm chứng khoán mới, đặc biệt là các sản phẩm trên thị trường



112



chứng khoán phái sinh. Đây là các sản phẩm còn khá xa lạ nên những hiểu biết của

nhà đầu tư còn ít, nguồn thơng tin về các sản phẩm này còn chưa phổ biến. Đây

chính là nguyên nhân làm gia tăng rủi ro cho nhà đầu tư khi tham gia vào các sản

phẩm này.

Thứ ba, cần hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của

Quỹ Bảo vệ nhà đầu tư. Xây dựng Quỹ Bảo vệ nhà đầu tư là một trong những giải

pháp đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của nhà đầu tư. Các quỹ

này thường được coi là “biện pháp bảo vệ cuối cùng” dành cho nhà đầu tư, được áp

dụng trong các trường hợp tổ chức trung gian khơng có khả năng thanh toán cho

nhà đầu tư do vỡ nợ, phá sản hoặc nhà đầu tư bị tổ chức kinh doanh lừa đảo.

Việc sử dụng Quỹ Bảo vệ nhà đầu tư như một biện pháp hữu hiệu trong bảo

vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán phát triển mạnh mẽ tại các nước phát

triển. Ở Việt Nam, Quỹ Bảo vệ nhà đầu tư lại có điểm khác biệt. Trong quy định

của Luật Chứng khoán và các văn bản pháp luật có liên quan Quỹ Bảo vệ nhà đầu

tư khơng tồn tại độc lập mà lại nằm trong chính các cơng ty chứng khốn thơng qua

hoạt động tách lập quỹ của các cơng ty này. Việc trích lập Quỹ Bảo vệ nhà đầu tư

tại cơng ty chứng khốn có một số hạn chế, đó là cơng ty chứng khốn vừa là chủ

thể lập và quản lý quỹ, lại vừa ban hành quy chế sử dụng quỹ và chi trả tiền bồi

thường thiệt hại cho nhà đầu tư.

Có thế thấy rằng, việc xây dựng cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu

tư trên thị trường chứng khốn là vơ cùng quan trọng và cần thiết, để tạo lập một thị

trường chứng khoán lành mạnh và bền vững. Để xây dựng được cơ chế này cần có

sự tham gia của tất cả các thành viên trong thị trường, nhất là của các cơ quản lý

Nhà nước thông qua hoạt động xây dựng và ban hành chính sách pháp luật chặt chẽ

và hiệu quả.

Ngồi ra, Ủy ban Chứng khốn Nhà nước tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện

khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của thị trường chứng khốn nói chung, hoạt

động giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm nói riêng. Đặc biệt, phối hợp với hai Sở

Giao dịch chứng khốn tiếp tục đổi mới và hồn thiện hệ thống giám sát giao dịch



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×