Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN VÀ TÍNH THÔNG TIN CỦA GIÁ CỔ PHIẾU

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN VÀ TÍNH THÔNG TIN CỦA GIÁ CỔ PHIẾU

Tải bản đầy đủ - 0trang

12



trị và giao dịch cổ phiếu của công ty dựa trên các thơng tin đó được gọi là q trình

chuyển hố thơng tin vào giá cổ phiếu, do vậy làm cho giá cổ phiếu mang tính

thơng tin (Rangan, 1998; Morck, Yeung & Yu, 2000).

Trong một thị trường hiệu quả, giá cổ phiếu sẽ chứa đựng tất cả các thơng tin

có sẵn và phản ánh giá trị nội tại của doanh nghiệp. Tuy nhiên, giá cổ phiếu có thể

khơng phản ánh hết tất cả các thơng tin có sẵn bởi vì hạn chế về chi phí thơng tin

(Grossman & Stiglitz, 1980) và sự hạn chế của giao dịch (Shleifer & Vishiny,

1997). Do đó, mức độ về tính thơng tin của giá cổ phiếu có thể khác nhau giữa các

doanh nghiệp và có hàm ý quan trọng đối với cả nhà quản trị và nhà đầu tư. Giá cổ

phiếu có tính thơng tin cao có thể giảm rủi ro thơng tin cho những người tham gia

giao dịch trên thị trường và dẫn đến chi phí vốn của cơng ty sẽ thấp hơn (Fernandes

& Ferreira, 2009).

Các nhà kinh tế học chứng minh rằng giá cổ phiếu thay đổi khi có những

thơng tin mới liên quan đến giá trị công ty được công bố đến thị trường (Fama,

1965; Fama & Blumme, 1966). Giá cổ phiếu phản ánh cả thông tin vĩ mô (thông tin

về tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát...) và thông tin đặc thù cơng ty (thơng tin về

tình hình kinh doanh, quản trị của một công ty). Thông tin vĩ mô ảnh hưởng đến

toàn bộ các cổ phiếu trên thị trường, trong khi đó thơng tin đặc thù cơng ty chỉ ảnh

hưởng đến biến động giá cổ phiếu công ty. Các bằng chứng thực nghiệm đều khẳng

định các giao dịch dựa trên thông tin thúc đẩy sự biến động của giá cổ phiếu

(French & Roll, 1986).

Tính thơng tin của giá cổ phiếu được hiểu là lượng thông tin đặc thù công ty

liên quan đến giá trị được chứa đựng trong giá cổ phiếu. Có nghĩa là khi giá cổ

phiếu của cơng ty chứa đựng càng nhiều thông tin đặc thù công ty thì tính thơng tin

của giá cổ phiếu càng cao.



1.1.2. Ý nghĩa của tính thơng tin của giá cổ phiếu

Một chức năng quan trọng của thị trường tài chính là đảm bảo việc phân bổ

vốn trong nền kinh tế một cách hiệu quả (hiệu quả chức năng), theo đó các dòng

vốn đầu tư phải được hướng đến những nơi sử dụng hiệu quả trong nền kinh tế, và



13



do vậy đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế

(Tobin, 1984; Levine & Zervos, 1998). Chức năng này chỉ có thể thực hiện tốt khi

giá cổ phiếu phản ánh chính xác và kịp thời những thơng tin liên quan đến giá trị

của cơng ty. Nói cách khác, giá cổ phiếu phải mang tính thơng tin cao (hiệu quả

thông tin). Thật vậy, minh chứng cho quan điểm này, các nghiên cứu trên thế giới

đã chứng minh rằng vốn và các nguồn lực khác được phân bổ hiệu quả hơn trong

nền kinh tế khi giá cổ phiếu mang tính thơng tin cao (Morck, Yeng & Yu, 2000;

Durnev, Morck & Yeung, 2004).

Tính thơng tin của giá cổ phiếu là chỉ dấu giúp các nhà quản trị nhận biết

phản ứng của thị trường về những quyết định của nhà quản trị, do vậy giúp họ đưa

ra những quyết định quản trị tốt hơn nhằm hướng đến làm tăng giá trị công ty

(Durnev, Morck & Yeung, 2004; Chen, Goldstein & Jiang, 2007). Ngồi ra, tính

thơng tin cao của giá cổ phiếu cũng góp phần làm giảm rủi ro thơng tin cho những

người tham gia giao dịch trên thị trường và dẫn đến chi phí vốn cổ phần của cơng ty

sẽ thấp hơn (Fernandes & Ferreira, 2009). Do vậy, hướng đến gia tăng tính thơng

tin của giá cổ phiếu là một trong những quan tâm lớn của người quản trị công ty.

Tính thơng tin của giá cổ phiếu cho phép nhà đầu tư trên thị trường nhận

diện chất lượng các quyết định của những nhà quản trị công ty và lựa chọn cơng ty

cho mục đích đầu tư (Durnev, Morck & Yeung, 2004; Chen, Goldstein & Jiang,

2007), từ đó xây dựng và quản lý có hiệu quả danh mục đầu tư. Do vậy, quyết định

đầu tư cổ phiếu chỉ trở nên hiệu quả hơn khi giá cổ phiếu mang tính thơng tin cao.



1.1.3. Đo lường tính thơng tin của giá cổ phiếu

Tính thơng tin của giá cổ phiếu là khái niệm được sử dụng để phản ánh

lượng thông tin đặc thù công ty liên quan đến giá trị được chứa đựng trong giá cổ

phiếu (Wurgler, 2000; Chen, Goldstein & Jiang, 2007; Ferreira, Ferreira & Raposo,

2011). Tính thơng tin của giá cổ phiếu cao hàm ý rằng giá cổ phiếu chứa đựng nhiều

thơng tin đặc thù cơng ty hơn và ít thơng tin chung của thị trường (Roll, 1988).

Tính thơng tin của giá cổ phiếu là một biến không thể quan sát trực tiếp mà

phải được đo lường gián tiếp thông qua mơ hình thị trường. Nhìn chung, có thể đo



14



lường tính thông tin của giá cổ phiếu bằng các phương pháp khác nhau được tổng

hợp từ các nghiên cứu điển hình trước đây.

Thứ nhất, dựa trên cách tiếp cận của Roll (1988), Morck, Yeung & Yu

(2000) và Jin & Myers (2006), tính thơng tin của giá cổ phiếu của mỗi cơng ty được

đo lường cho mỗi năm dựa trên giá trị R2 từ hồi quy mơ hình thị trường sau:

ri,t = α + βrM,t + εi,t



(1)



Trong đó: ri,t : Tỷ suất lợi tức của cổ phiếu i tại tuần t của mỗi năm.

rM,t : Tỷ suất lợi tức của danh mục thị trường tại tuần t của mỗi năm.

Giá trị R2 từ hồi quy mơ hình (1) là giá trị đo lường mức độ biến động của tỷ

suất lợi tức cổ phiếu i (ri) được gây ra bởi biến động chung của thị trường (rM) Roll

(1988). Một giá trị R2 thấp, hay giá trị (1-R2) cao, nghĩa là biến động tỷ suất lợi tức

của cổ phiếu cơng ty được giải thích phần lớn bởi thông tin đặc thù của công ty và ít

chịu ảnh hưởng bởi thơng tin chung của thị trường (Morck, Yeung & Yu, 2000; Jin

& Myers, 2006). Nói cách khác, R2 thấp hàm ý giá cổ phiếu của cơng ty mang tính

thơng tin cao.

Bởi vì giá trị R2 bị giới hạn giữa 0 và 1, R2 được biến đổi logarit để đo lường

tính thơng tin của giá cổ phiếu như sau:

Non_syni = log((1- R2)/R2)



(2)



Non_syni : tính thơng tin của giá cổ phiếu của công ty i

Một giá trị cao của Non_syn thể hiện giá cổ phiếu mang tính thông tin cao và

ngược lại.

Thứ hai, một đo lường tiếp theo của tính thơng tin giá cổ phiếu được sử dụng

trong một số nghiên cứu trước đây trên thế giới là xác suất giao dịch dựa trên thông

tin PIN (probability of informed trading) (Easley, Hvidkjaer & O’Hara, 2002; Chen,

Goldstein & Jiang, 2007; Brockman & Yan, 2009; Ferreira, Ferreira & Raposo,

2011). Đo lường này dựa trên quan điểm khi các yếu tố khác khơng đổi, vì thơng tin

đặc thù cơng ty được chuyển hố vào giá cổ phiếu thơng qua các giao dịch dựa trên

thông tin nên khối lượng giao dịch của các nhà đầu tư có thơng tin càng nhiều, càng

nhiều thơng tin đặc thù cơng ty được chuyển hóa vào giá cổ phiếu. Hệ quả, tính



15



thơng tin của giá cổ phiếu càng cao. Minh chứng từ các nghiên cứu thực nghiệm

ủng hộ cho quan điểm PIN phản ánh lượng thơng tin đặc thù cơng ty trong giá cổ

phiếu. Ví dụ, Easley, Hvidkjaer & O’Hara (2002) tìm thấy cổ phiếu có PIN cao hơn

có lợi tức cao hơn, nhất quán với quan điểm giá cổ phiếu phản ánh rủi ro thông tin

đặc thù được phản ánh bởi PIN. Chen, Goldstein & Jiang (2007) cho rằng khoản

đầu tư công ty nhạy cảm hơn với giá đối với cổ phiếu có PIN cao, nhất quán với

việc giá của các cổ phiếu này có tính thơng tin cao hơn. Các nghiên cứu khác sử

dụng PIN để đo lường tính thơng tin của giá cổ phiếu bao gồm Brockman & Yan

(2009), Ferreira, Ferreira & Raposo (2011).



1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến tính thơng tin của giá cổ phiếu

Vì ý nghĩa kinh tế quan trọng của tính thơng tin của giá cổ phiếu trên cả hai

phương diện học thuật và thực tiễn, nghiên cứu về tính thơng tin của giá cổ phiếu đã

thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới trên nhiều khía cạnh

khác nhau ở cả góc độ vĩ mơ cũng như góc độ cơng ty.



1.1.4.1. Các nhân tố vĩ mô

Kể từ khi Roll (1988) chỉ ra tính thơng tin của giá cổ phiếu chịu tác động bởi

thông tin liên quan đến giá trị công ty, nhiều nghiên cứu đã cung cấp các bằng

chứng thực nghiệm ủng hộ cho quan điểm này. Một số nghiên cứu ở góc độ vĩ mơ

cho thấy tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng vĩ mơ xét trên khía cạnh hiệu quả của

mơi trường thể chế, sự bảo vệ lợi ích nhà đầu tư và môi trường thông tin minh bạch

trong việc đảm bảo hiệu quả của tính thơng tin của giá cổ phiếu.

Morck, Yeung & Yu (2000) là một trong những nghiên cứu đầu tiên đưa ra

quan điểm về ảnh hưởng của mơi trường thể chế quốc gia đến tính thông tin của

giá cổ phiếu. Dựa trên mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ cổ phiếu niêm yết trên 40

quốc gia từ năm 1993 đến năm 1997, các tác giả cho thấy giá cổ phiếu có tính thơng

tin thấp ở các nước đang phát triển (được đo lường bằng GDP tính trên đầu người),

ở những nước có mơi trường thể chế yếu hoặc thiếu sự bảo vệ quyền lợi của nhà

đầu tư so với các nước phát triển. Điều này được giải thích bởi yếu tố quy mơ nhỏ và

sự tương quan ở mức độ cao của các nhân tố nền tảng của nền kinh tế. Tuy nhiên, sự



16



yếu kém trong việc bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư lại là ngun nhân chủ yếu dẫn

đến tính thơng tin của giá cổ phiếu thấp tại các nước đang phát triển này.

Cụ thể, trong các quốc gia với sự bảo vệ không đầy đủ quyền lợi của nhà đầu

tư, những hoạt động như thao túng thị trường, thao túng thơng tin, giao dịch nội

gián, những hành động mang tính tư lợi của những người điều hành công ty thường

là phổ biến. Thêm vào đó, nhà đầu tư thường khó tiếp cận những thơng tin hữu ích

cho việc đầu tư. Điều này làm cho việc thu thập và phân tích thơng tin đầu tư khơng

có nhiều ý nghĩa đối với nhà đầu tư, do vậy nhà đầu tư khơng có động lực để thu

thập và phân tích thơng tin. Kết quả là giao dịch trên thị trường ít được dựa vào

thơng tin, dẫn đến giá cổ phiếu khơng mang tính thông tin cao.

Nghiên cứu của Jin & Myers (2006) phát triển dựa trên quan điểm của

Morck, Yeung & Yu (2000) và cho rằng sự thiếu minh bạch thông tin kết hợp với

sự yếu kém trong việc bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư làm cho tính thơng tin của giá

cổ phiếu thấp hơn. Jin và Myers (2006) chứng minh rằng mặc dù trong thực tế, bảo

vệ quyền lợi của nhà đầu tư và minh bạch thông tin thường đi cùng với nhau, bảo vệ

không đầy đủ quyền lợi của nhà đầu tư khơng thể lý giải hồn tồn cho tính thơng

tin của giá cổ phiếu nếu bỏ qua vai trò sự minh bạch thông tin. Cụ thể, Jin và Myers

(2006) xây dựng một mơ hình lý thuyết và nhấn mạnh sự khác biệt giữa bảo vệ

quyền lợi của nhà đầu tư và minh bạch thơng tin trong phân tích tính thông tin của

giá cổ phiếu. Jin & Myers (2006) chứng minh rằng đối với các quốc gia thiếu sự

bảo vệ lợi ích cho nhà đầu tư nhưng thơng tin các công ty vẫn minh bạch, nhà đầu

tư biết rõ và vẫn có thể dễ dàng tiếp cận đầy đủ các thơng tin hữu ích liên quan đến

giá trị cơng ty để phân tích cho mục đích đầu tư. Trong trường hợp này, nhà đầu tư

khơng được hưởng hồn tồn những lợi ích từ cơng ty do họ khơng được bảo vệ đầy

đủ, phần lợi ích khơng được hưởng bởi nhà đầu tư sẽ bị những người điều hành

công ty chiếm đoạt dưới các hình thức khác nhau. Thị trường sẽ định giá công ty

trên cơ sở một phần của những dòng tiền do cơng ty tạo ra mà nhà đầu tư sẽ được

hưởng với tư cách là chủ sở hữu cơng ty. Khi đó, giá trị thị trường của cơng ty chỉ là

một phần giá trị đầy đủ của công ty (Giá trị đầy đủ của công ty là giá trị được xác



17



định nếu như nhà đầu tư được hưởng hồn tồn các lợi ích do cơng ty tạo ra, khơng

có sự tư lợi của những người điều hành cơng ty). Giá trị thị trường này vẫn dao

động để phản ánh sự dao động của các dòng tiền do cơng ty tạo ra, nhưng giá trị này

luôn chỉ bằng một phần giá trị đầy đủ của công ty. Phần trăm thay đổi trong giá trị

thị trường của công ty không bị tác động bởi hành vi tư lợi của ban điều hành công

ty, do vậy, giá cổ phiếu trên thị trường vẫn phản ánh đầy đủ thơng tin và tính thông

tin của giá cổ phiếu sẽ không bị ảnh hưởng.

Tuy nhiên, nếu thông tin về công ty không minh bạch với nhà đầu tư (ban

điều hành cơng ty cố tình thao túng hoặc làm sai lệch báo cáo tài chính, chỉ cung

cấp các thông tin tốt đến thị trường và che đậy các thông tin bất lợi về công ty), nhà

đầu tư chỉ có thể tiếp cận phần lớn thơng tin chung của thị trường và chỉ một phần

nhỏ thông tin đặc thù công ty. Điều này dẫn đến giao dịch cổ phiếu của nhà đầu tư

chủ yếu dựa trên thơng tin chung của thị trường và ít có thơng tin đặc thù công ty.

Kết quả, biến động giá cổ phiếu chủ yếu là do tác động của thông tin thị trường và ít

chịu ảnh hưởng bởi thơng tin đặc thù cơng ty, dẫn đến tính thơng tin của giá cổ

phiếu thấp.

Mơ hình lý thuyết được minh chứng bởi các kết quả thực nghiệm của chính

các tác giả. Sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 40 quốc gia trên thế giới trong khoảng

thời gian từ năm 1990 đến 2001, Jin & Myers (2006) thấy rằng tính thơng tin của

giá cổ phiếu thấp ở những nước có mơi trường thơng tin kém minh bạch.

Quan điểm của nghiên cứu Morck, Yeung & Yu (2000) và Jin & Myers

(2006) được xác nhận ở hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm sau này về ảnh hưởng

của môi trường thể chế, môi trường thông tin và đặc điểm kinh tế vĩ mơ đến tính

thơng tin của giá cổ phiếu.

Li và cộng sự (2004) kiểm định mối quan hệ thuận chiều giữa sự hội nhập

của thị trường vốn và tính thơng tin của giá cổ phiếu tại 17 quốc gia từ năm 1990

đến năm 2001. Hội nhập tài chính cho phép chia sẻ thơng tin và đa dạng hóa danh

mục đầu tư tồn cầu được thực hiện thuận lợi hơn. Ngoài ra, việc hội nhập cũng làm

cho quốc gia phải hướng đến cải thiện môi trường thể chế và áp dụng những chuẩn



18



mực nhằm tăng cường sự minh bạch nhiều hơn.

Phù hợp với giả thuyết này, Li và cộng sự (2004) thấy rằng tính thơng tin của

giá cổ phiếu thấp ở các nước có sự hội nhập thấp về mặt kinh tế tài chính vào nền

kinh tế thế giới. Tính thơng tin của giá cổ phiếu thấp ở các quốc gia này được lý giải

là do hội nhập thấp thì việc chia sẻ thơng tin khơng thuận lợi, đồng thời không tạo

động lực cho quốc gia hướng đến cải thiện môi trường thể chế và áp dụng chuẩn

mực để tăng cường sự minh bạch thông tin. Do vậy, nhà đầu tư khó có thể tiếp cận

thơng tin tài chính minh bạch và định giá cổ phiếu phần lớn dựa trên thông tin vĩ mô

thị trường. Hệ quả, tính thơng tin của giá cổ phiếu thấp.

Sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 48 quốc gia trong khoảng thời gian từ 1980

đến 2003, Fernandes & Ferreira (2009) đánh giá tác động của việc thực thi luật giao

dịch nội gián đến tính thơng tin của giá cổ phiếu. Lợi ích và chi phí của các giao

dịch nội gián và sự cần thiết phải quản lý những giao dịch này là một câu hỏi nghiên

cứu thu hút sự quan tâm của những nhà kinh tế học tài chính.

Có hai quan điểm đối lập nhau về tác động của giao dịch nội gián đến tính

thơng tin của giá cổ phiếu. Quan điểm thứ nhất lập luận rằng bởi vì lợi thế thơng tin

của những người thực hiện giao dịch nội gián, giao dịch nội gián góp phần chuyển

hóa kịp thời và chính xác thông tin đặc thù công ty vào giá cổ phiếu và do vậy làm

gia tăng tính thơng tin của giá cổ phiếu (Manne, 1966; Carlton & Fischel, 1983).

Quan điểm này không ủng hộ việc thực thi luật giao dịch nội gián.

Trái lại, quan điểm đối lập tranh luận rằng giao dịch nội gián sẽ làm giảm

động lực thu thập và phân tích thơng tin của những nhà đầu tư bên ngồi bởi vì

thơng tin sẽ trở nên khơng còn nhiều giá trị khi đã bị rò rỉ ra thị trường thông qua

các giao dịch nội gián (Fishman & Hagerty, 1992). Hệ quả là giao dịch nội gián sẽ

dẫn đến làm giảm tính thơng tin của giá cổ phiếu. Quan điểm này, do vậy, tán thành

việc triển khai thực thi luật giao dịch nội gián. Việc thực thi luật giao dịch nội gián

khuyến khích các giao dịch dựa trên thơng tin với các nhà đầu tư bên ngồi, từ đó

gia tăng tính thơng tin của giá cổ phiếu. Ngồi ra, các tác giả thấy rằng việc thực thi

luật giao dịch nội gián có hiệu quả hơn ở các nước phát triển trong việc cải thiện



19



tính thơng tin của giá cổ phiếu.

Brockman, Liebenberg & Schutte (2010) thực hiện nghiên cứu trên mẫu gồm

36 quốc gia từ năm 1998 đến 2007 và thấy rằng tính thơng tin của giá cổ phiếu giảm

trong thời kì suy thối kinh tế và tăng khi kinh tế phát triển. Kết quả này chứng

minh sự phát triển kinh tế tài chính và tính minh bạch thơng tin góp phần cải

thiện tính thơng tin của giá cổ phiếu.

Eun, Wang & Xiao (2015) nghiên cứu ảnh hưởng của văn hóa quốc gia đến

tính thơng tin của giá cổ phiếu trên 47 quốc gia từ năm 1990 đến 2010. Trong các

quốc gia với những ràng buộc khắc khe về văn hóa, nhà đầu tư thường có cùng một

xu hướng giống nhau trong việc thu thập, xử lý và phân tích thơng tin. Do vậy, nhà

đầu tư thường có xu hướng đầu tư tương tự và dẫn đến xu hướng đồng biến động

cao trên giá các tài sản đầu tư, từ đó tính thơng tin của giá cổ phiếu thấp.

Một yếu tố nữa phản ánh khía cạnh văn hóa là xu hướng đề cao chủ nghĩa tập

thể hay chủ nghĩa cá nhân. Trong một quốc gia với xu hướng nhấn mạnh giá trị của

chủ nghĩa tập thể, nhà đầu tư thường tránh những hành động trái ngược với thơng lệ

chung. Họ có xu hướng đi theo hành vi của đám đông và thường đánh giá, phân tích

vấn đề từ góc độ tổng thể nhiều hơn là xem xét theo khía cạnh riêng biệt. Điều này

có thể dẫn đến nhà đầu tư có xu hướng giao dịch chủ yếu dựa trên thông tin chung

của thị trường, và do vậy làm giảm tính thơng tin của giá cổ phiếu.

Minh chứng cho các giả thuyết trên, kết quả nghiên cứu của Eun, Wang &

Xiao (2015) cho thấy rằng giá cổ phiếu mang tính thơng tin thấp ở những nước có

nhiều ràng buộc khắt khe về văn hóa và ở những nước đề cao chủ nghĩa tập thể.



1.1.4.2. Các nhân tố vi mơ

Ở góc độ cơng ty, các nghiên cứu thực nghiệm chứng minh những yếu tố liên

quan đến vấn đề quản trị công ty, sự minh bạch của mơi trường thơng tin doanh

nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện tính thơng tin của giá cổ phiếu. Đa

số các nghiên cứu được thực hiện ở các nước phát triển, và số lượng nghiên cứu

được tiến hành tại các nước đang phát triển còn hạn chế.

Sử dụng mẫu nghiên cứu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán



20



Mỹ từ năm 1984 đến năm 2000, Piotroski & Roustone (2004) kiểm định tác động

của các chuyên gia phân tích tài chính và hành vi giao dịch của cổ đơng nội bộ

doanh nghiệp đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Piotroski & Roustone (2004) thấy

rằng các hoạt động của nhà phân tích chứng khốn có ảnh hưởng ngược chiều đến

tính thơng tin của giá cổ phiếu. Lập luận này phù hợp với giả thuyết rằng các

chuyên gia phân tích thường tập trung nhiều hơn vào phân tích thơng tin kinh tế vĩ

mơ và do vậy làm gia tăng lượng thông tin chung của thị trường được chuyển hóa

vào giá cổ phiếu, dẫn đến tính thông tin của giá cổ phiếu thấp. Ngược lại, giao dịch

của các cổ đông nội bộ lại làm gia tăng tính thơng tin của giá cổ phiếu. Điều này

được giải thích là do những cổ đơng nội bộ có lợi thế thông tin. Do vậy, giao dịch

của họ sẽ thúc đẩy sự chuyển hóa thơng tin đặc thù cơng ty vào giá cổ phiếu và kết

quả là làm tăng tính thông tin của giá cổ phiếu. Kết quả của nghiên cứu này cho

thấy các chuyên gia phân tích và cổ đơng nội bộ đều có ảnh hưởng đến mơi trường

thơng tin của công ty. Trong nghiên cứu này cũng kiểm sốt thêm một số biến đặc

thù cơng ty như quy mô công ty và lợi nhuận trên tổng tài sản có thể có ảnh hưởng

đến tính thơng tin của giá cổ phiếu.

Trong một nghiên cứu tương tự đối với các công ty niêm yết ở 25 nước đang

phát triển trong giai đoạn từ năm 1993 đến 1999, Chan & Hameed (2006) cũng thấy

rằng các chun gia phân tích chứng khốn cung cấp nhiều thông tin chung của

thị trường hơn là thơng tin đặc thù cơng ty, từ đó dẫn đến làm giảm tính thơng tin

của giá cổ phiếu. Kết quả này được lý giải là do ở các quốc gia đang phát triển,

lượng thông tin công bố hạn chế cả về số lượng cũng như chất lượng, chi phí thu

thập và phân tích thơng tin đặc thù cơng ty là rất lớn. Do đó, các nhà phân tích chủ

yếu dựa trên thông tin kinh tế vĩ mô để đưa ra các dự báo liên quan đến lợi nhuận

tương lai của doanh nghiệp. Nghiên cứu này cũng sử dụng biến kiểm sốt quy mơ

cơng ty trong mơ hình hồi quy.

Nghiên cứu của Ferreira & Laux (2007) kiểm định mối quan hệ giữa quản trị

cơng ty và tính thơng tin của giá cổ phiếu và cho thấy các doanh nghiệp có mức dự

phòng về chống thâu tóm thấp thì tính thơng tin của giá cổ phiếu cao. Nguyên nhân là



21



do mức dự phòng về chống thâu tóm thấp thể hiện sự hội nhập của thị trường cao và

cho phép việc chia sẻ thông tin được thực hiện thuận lợi hơn. Điều này dẫn đến việc

bảo vệ quyền lợi các cổ đông tốt hơn và góp phần cải thiện tính thơng tin của giá cổ

phiếu thơng qua việc gia tăng tính minh bạch. Ferreira & Laux (2007) cho rằng mức

dự phòng về chống thâu tóm thấp tạo động lực cho các nhà đầu tư thu thập thông tin

đặc thù công ty nhiều hơn. Từ đó, giao dịch có thơng tin cải thiện việc chuyển hóa

thơng tin vào giá cổ phiếu, kết quả làm tăng tính thơng tin của giá cổ phiếu. Nghiên

cứu này cũng sử dụng biến kiểm sốt quy mơ cơng ty, hệ số giá thị trường trên giá

trị sổ sách của cổ phiếu và đòn bẩy trong mơ hình hồi quy.

Fernades & Ferreira (2008) đã nghiên cứu tác động của việc niêm yết cổ

phiếu của cơng ty ra nước ngồi đến tính thơng tin của giá cổ phiếu dựa trên mẫu

các công ty niêm yết trên 40 quốc gia từ năm 1980 đến năm 2003. Các tác giả cho

rằng do việc tăng cường yêu cầu về minh bạch và công bố thông tin tại quốc gia mà

cổ phiếu công ty được niêm yết, việc niêm yết cổ phiếu của công ty ra nước ngồi

sẽ dẫn đến gia tăng mức độ cơng bố thông tin và chất lượng quản trị công ty. Từ đó,

điều này sẽ ảnh hưởng đến mơi trường thơng tin cơng ty và tính thơng tin của giá cổ

phiếu. Kết quả từ nghiên cứu của các tác giả cho thấy việc niêm yết cổ phiếu của

công ty ra nước ngồi có tác động khác nhau đến tính thơng tin của giá cổ phiếu. Cụ

thể, việc niêm yết cổ phiếu cơng ty ra nước ngồi làm tăng tính thơng tin của giá cổ

phiếu tại các nước phát triển. Ngược lại, ở các nước đang phát triển, việc niêm yết

cổ phiếu của cơng ty ra nước ngồi lại làm giảm tính thơng tin của giá cổ phiếu.

Bên cạnh đó, Fernades & Ferreira (2008) thấy rằng thông tin được cung cấp từ các

nhà phân tích tài chính ở các nước đang phát triển chứa đựng nhiều thông tin chung

thị trường hơn là thông tin đặc thù doanh nghiệp. Điều này nhất quán với kết quả

nghiên cứu của Chan & Hameed (2006). Nghiên cứu này cũng sử dụng biến kiểm

sốt quy mơ cơng ty, hệ số giá thị trường trên giá trị sổ sách của cổ phiếu và đòn

bẩy trong mơ hình hồi quy.

Nghiên cứu của Gu, Kim & Qiu (2010) dựa trên mẫu các công ty Trung

Quốc bao gồm 6.120 quan sát từ năm 1996 đến 2003. Các tác giả này thấy rằng tính



22



thơng tin của giá cổ phiếu là một hàm tuyến tính của sở hữu cổ đơng lớn. Kết quả

này được lý giải thông qua ảnh hưởng đối với vấn đề quản trị cơng ty của cổ đơng

lớn. Ngồi việc cải thiện vấn đề quản trị công ty, cấu trúc sở hữu còn ảnh hưởng

đến mơi trường thơng tin của công ty thông qua tác động đến việc thực hiện báo cáo

tài chính của cơng ty, hành vi điều chỉnh lợi nhuận của ban điều hành, hoặc từ chính

lợi thế về thông tin và thực hiện giao dịch dựa trên thơng tin của những nhóm sở hữu.

Brockman & Yan (2009) nghiên cứu trên mẫu các công ty niêm yết của Mỹ

từ năm 1996 đến 2001. Các tác giả thấy rằng cổ đơng lớn có lợi thế về thơng tin

hơn cổ đơng nhỏ do họ có động cơ cũng như khả năng tốt hơn trong việc thu thập

và xử lý thông tin liên quan đến giá trị. Do đó, cổ đơng lớn trong công ty giúp cải

thiện vấn đề quản trị công ty và gia tăng chất lượng của thông tin được cơng bố ra

cơng chúng, kết quả dẫn đến tính thông tin của cổ phiếu cao. Trong nghiên cứu này

cũng kiểm sốt thêm một số biến đặc thù cơng ty như quy mô công ty và lợi nhuận

trên tổng tài sản trong mơ hình hồi quy.

Sử dụng mẫu các cơng ty niêm yết tại Mỹ từ năm 1987 đến 2010, An &

Zhang (2013) cung cấp bằng chứng cho thấy tính thơng tin của giá cổ phiếu có quan

hệ thuận với sở hữu cổ đông lớn là nhà đầu tư tổ chức. Các nhà đầu tư tổ chức

thường quan tâm đến việc kiểm sốt cơng ty, do đó, hạn chế những hoạt động mang

tính tư lợi của nhà quản trị qua các hành vi như điều chỉnh lợi nhuận. Điều này làm

gia tăng chất lượng thông tin được công bố và dẫn đến giá cổ phiếu mang tính thơng

tin cao. Nghiên cứu này cũng sử dụng biến kiểm sốt quy mơ công ty, hệ số giá thị

trường trên giá trị sổ sách của cổ phiếu và đòn bẩy trong mơ hình hồi quy.

Nghiên cứu của Gul, Cheng & Leung (2011) phản ánh mối quan hệ giữa tiền

thưởng và tính thơng tin của giá cổ phiếu tại thị trường Trung Quốc. Các cơng ty

Trung Quốc có chính sách tiền thưởng tốt hơn thì tính thơng tin của giá cổ phiếu

thấp hơn vì việc sử dụng tiền thưởng phản ánh vấn đề đại diện và thị trường nhận

thức tiêu cực về vấn đề này. Bên cạnh đó, mối quan hệ ngược chiều giữa tiền

thưởng và tính thơng tin của giá cổ phiếu bị yếu đi tại các doanh nghiệp có chất

lượng báo cáo tài chính tốt, phản ánh ảnh hưởng tích cực của cơ chế quản trị công



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN VÀ TÍNH THÔNG TIN CỦA GIÁ CỔ PHIẾU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×