Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tính cấp thiết của luận án

Tính cấp thiết của luận án

Tải bản đầy đủ - 0trang

2



Tehranian, 2009; Kim & Shi, 2012). Các nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh

rằng vốn và các nguồn lực khác được phân bổ hiệu quả hơn trong nền kinh tế khi

giá cổ phiếu mang tính thơng tin cao (Wurgler, 2000; Durnev, Morck & Yeung,

2004). Bên cạnh đó, tính thơng tin của giá cổ phiếu là chỉ dấu giúp các nhà quản trị

nhận biết phản ứng của thị trường về những quyết định của nhà quản trị, và do vậy

giúp họ đưa ra những quyết định quản trị tốt hơn nhằm hướng đến làm tăng giá trị

công ty (Durnev, Morck & Yeung, 2004; Chen, Goldstein & Jiang, 2007). Ngồi ra,

tính thơng tin cao của giá cổ phiếu cũng góp phần làm giảm rủi ro thông tin cho

những người tham gia giao dịch trên thị trường và dẫn đến chi phí vốn cổ phần của

công ty sẽ thấp hơn (Fernandes & Ferreira, 2009). Tính thơng tin của giá cổ phiếu

cho phép nhà đầu tư trên thị trường nhận diện chất lượng các quyết định của những

nhà quản trị công ty và lựa chọn cơng ty cho mục đích đầu tư (Durnev, Morck &

Yeung, 2004; Chen, Goldstein & Jiang, 2007) từ đó xây dựng và quản lý có hiệu

quả danh mục đầu tư. Có thể thấy, việc cải thiện tính thơng tin của giá cổ phiếu

ngày càng trở nên cấp thiết vì có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan quản lý Nhà

nước, nhà quản trị cũng như nhà đầu tư.

Nghiên cứu thực nghiệm trước đây cho thấy rằng hành vi điều chỉnh lợi

nhuận có thể ảnh hưởng đến mơi trường thông tin doanh nghiệp, cụ thể ảnh hưởng

đến số lượng và chất lượng thông tin. Do vậy, hành vi điều chỉnh lợi nhuận là một

trong những nhân tố có thể ảnh hưởng đến tính thơng tin của giá cổ phiếu (Zarowin,

2002; Jin & Myers, 2006; Fernandes & Ferreira, 2009; Hutton, Marcus &

Tehranian, 2009; Brockman, Liebenberg & Schutte, 2010; Rajgopal &

Venkatachalam, 2011; Kim & Shi, 2012).

Hiện nay, có nhiều quan điểm về hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở nhiều góc

độ khác nhau, trong phạm vi luận án này, điều chỉnh lợi nhuận được hiểu như sau:

"Hành vi điều chỉnh lợi nhuận là việc nhà quản lý sử dụng các đánh giá chủ

quan của mình trong quá trình lập báo cáo tài chính và trong q trình thực hiện

các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi báo cáo tài chính nhằm làm cho các bên có liên

quan đánh giá khơng chính xác về hiệu quả kinh tế hoặc nhằm ảnh hưởng đến kết



3



quả của các hợp đồng dựa trên số liệu kế toán báo cáo" (Healy & Wahlen, 1999).

Tuy nhiên, ảnh hưởng (gồm cả mức độ và chiều hướng tác động) của hành vi

điều chỉnh lợi nhuận đến tính thơng tin của giá cổ phiếu phụ thuộc vào môi trường

thể chế và thông tin của mỗi quốc gia (Ball & cộng sự, 2000; Hope, 2003; Leuz &

cộng sự, 2003; Bushman & cộng sự, 2004; Haw & cộng sự, 2004; Durnev & Kim,

2005; Burgstahler & cộng sự, 2006; Bushman & Piotroski, 2006). Cho đến nay, các

nghiên cứu trên thế giới cho thấy các lập luận trái ngược về mối quan hệ giữa hành

vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thơng tin của giá cổ phiếu. Vấn đề này đã thu hút sự

quan tâm của nhiều học giả hàng đầu thế giới.

Quan điểm thứ nhất chứng minh rằng mức độ điều chỉnh lợi nhuận càng

tăng thì tính thơng tin của giá cổ phiếu càng tăng. Trong khi đa số các nghiên cứu

về ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu

trước đây được thực hiện tại các nước phát triển có mơi trường thể chế tốt, quyền

lợi của nhà đầu tư được bảo vệ đầy đủ thì số lượng nghiên cứu về vấn đề này tại các

nước đang phát triển còn hạn chế. Đặt trong bối cảnh các nước đang phát triển với

môi trường thể chế đang trong q trình hồn thiện và việc bảo vệ quyền lợi nhà

đầu tư chưa được quan tâm đúng mức thì những hoạt động như thao túng thị trường,

thao túng thông tin, giao dịch nội gián, và những hành động mang tính tư lợi của

những người điều hành thường là phổ biến (Morck, Yeung & Yu, 2000). Trong môi

trường như thế, thơng tin đặc thù cơng ty có khả năng khơng được cơng bố đầy đủ

và chính xác thơng qua kênh chính thức là các báo cáo tài chính mà lại bị rò rỉ bởi

những đối tượng có lợi thế thông tin trong nội bộ công ty. Do vậy, khi nhà quản trị

thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận, mặc dù các nhà đầu tư bên ngồi khó có thể

tiếp cận các thơng tin đặc thù cơng ty hữu ích cho việc đầu tư nhưng nhóm lợi ích

này lại tận dụng được lợi thế thông tin nội bộ của mình để thực hiện giao dịch cổ

phiếu của cơng ty và giao dịch này góp phần chuyển hóa kịp thời và chính xác

thơng tin đặc thù cơng ty liên quan đến giá trị vào giá cổ phiếu. Hệ quả, làm gia

tăng tính thơng tin của giá cổ phiếu (Manne, 1966; Carlton & Fischel, 1983). Minh

chứng cho quan điểm này được trình bày trong nghiên cứu của Zarowin (2002) và



4



Rajgopal & Venkatachlam (2011).

Trong khi đó, quan điểm thứ hai cung cấp minh chứng cho thấy mức độ điều

chỉnh lợi nhuận càng tăng thì tính thơng tin của giá cổ phiếu càng giảm. Đối với

các nước phát triển với môi trường thể chế tốt, quyền lợi nhà đầu tư được bảo vệ

đầy đủ, việc thực thi luật giao dịch nội gián chặt chẽ, khi nhà quản trị thực hiện việc

điều chỉnh lợi nhuận, mặc dù họ sở hữu lợi thế thông tin nội bộ cơng ty nhưng sẽ

khơng có cơ hội tận dụng lợi thế này để tiến hành giao dịch cổ phiếu do luật pháp

không cho phép. Quan điểm này cho rằng khi mức độ điều chỉnh lợi nhuận của nhà

quản trị tăng sẽ làm giảm tính minh bạch thơng tin công ty công bố. Điều này sẽ

làm tăng chi phí thu thập thơng tin đặc thù cơng ty liên quan đến giá trị và dẫn đến

làm giảm lượng các giao dịch dựa trên thông tin của các nhà đầu tư (Grossman &

Stiglitz, 1980). Điều này hạn chế lượng thông tin đặc thù cơng ty được chuyển hóa

vào giá cổ phiếu. Do vậy, dẫn đến làm giảm tính thơng tin của giá cổ phiếu.

Dựa trên nghiên cứu của Jin & Myers (2006), khi phân tích các nhân tố thuộc

về cơng ty, Hutton, Marcus & Tehrannian (2009) sử dụng mẫu các công ty niêm yết

ở Mỹ trong giai đoạn 1991 đến 2005, cho thấy hành vi điều chỉnh lợi nhuận làm cho

thông tin được công bố đến thị trường bị hạn chế cả về số lượng lẫn chất lượng,

không đáng tin cậy, rủi ro thông tin cao. Điều này sẽ làm cho giá cổ phiếu chứa

đựng ít thơng tin liên quan đến giá trị cơng ty và làm giảm tính thơng tin của giá cổ

phiếu (Fan &Wong, 2002; Gul, Kim & Qiu, 2010; Jin & Myers, 2006). Các nghiên

cứu của Jing (2007) và Johston (2009) cũng ủng hộ cho quan điểm này.

Dựa vào hai quan điểm trên, có thể thấy, tác động thật sự của hành vi điều

chỉnh lợi nhuận đến tính thơng tin của giá cổ phiếu sẽ phụ thuộc vào môi trường thể

chế của quốc gia, cụ thể, nếu mơi trường thể chế yếu thì hành vi điều chỉnh lợi

nhuận sẽ có tác động cùng chiều đến tính thơng tin của giá cổ phiếu, ngược lại, nếu

môi trường thể chế mạnh thì hành vi điều chỉnh lợi nhuận sẽ tác động ngược chiều

đến tính thơng tin của giá cổ phiếu. Đây là một vấn đề cần nghiên cứu thực nghiệm.

Cho đến nay, có thể thấy các nghiên cứu ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh

lợi nhuận đến tính thơng tin của giá cổ phiếu phần lớn tập trung ở các nước phát



5



triển, hầu như chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này thực hiện tại các nước đang

phát triển được ghi nhận (theo sự hiểu biết tốt nhất của tác giả). Khác với các nước

phát triển, các quốc gia đang phát triển đang trong q trình hồn thiện về môi

trường thể chế và môi trường thông tin cùng với sự chú trọng chưa đúng mức về

việc bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư và luật giao dịch nội gián chưa được thực thi một

cách hiệu quả. Các đặc điểm này có thể chi phối mối quan hệ giữa hành vi điều

chỉnh lợi nhuận và tính thơng tin của giá cổ phiếu. Điều này có thể dẫn đến việc

nghiên cứu về vấn đề này tại các quốc gia khác nhau sẽ có sự khác biệt về kết quả

nghiên cứu.

Vì vậy, nghiên cứu về ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính

thơng tin của giá cổ phiếu là một yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay tại Việt

Nam vì một số lý do sau: (1) tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ

giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thơng tin của giá cổ phiếu trong các

nghiên cứu trước đây; (2) sự khác biệt về môi trường thể chế, môi trường thông tin

và sự bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư giữa các quốc gia có thể ảnh hưởng đến quan

hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thơng tin của giá cổ phiếu; (3) việc cải

thiện tính thơng tin của giá cổ phiếu của các cơng ty niêm yết có ý nghĩa quan trọng

đối với cơ quan Nhà nước, nhà quản trị và nhà đầu tư; (4) đây là một nghiên cứu

đầu tiên tại Việt Nam về ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản

trị đến tính thơng tin của giá cổ phiếu1, nghiên cứu này cho phép kiểm soát các yếu

tố của môi trường thể chế nhằm làm rõ mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi

nhuận và tính thơng tin của giá cổ phiếu gắn với bối cảnh cụ thể của thị trường

chứng khoán Việt Nam.



2. Mục tiêu nghiên cứu

Thông qua việc xác định khoảng trống nghiên cứu trên, luận án sẽ hướng đến

mục tiêu chính là:

+ Đánh giá được tác động của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thơng

tin của giá cổ phiếu của của các cơng ty niêm yết trên thị trường chứng khốn Việt

1



Theo hiểu biết tốt nhất của tác giả, chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này được ghi nhận tại Việt Nam.



6



Nam.

Để đạt được mục tiêu chính như trên, luận án thực hiện một số nhiệm vụ

nghiên cứu cụ thể như sau:

+ Thứ nhất, hệ thống hóa lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu liên quan

đến tính thơng tin của giá cổ phiếu, hành vi điều chỉnh lợi nhuận và mối quan hệ

giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thơng tin của giá cổ phiếu.

+ Thứ hai, lựa chọn phương pháp phù hợp trong đo lường tính thông tin của

giá cổ phiếu và nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết

trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

+ Thứ ba, thiết lập mơ hình nhằm thực hiện nghiên cứu thực chứng để làm rõ

mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thơng tin của giá cổ phiếu

của các cơng ty niêm yết trên thị trường chứng khốn Việt Nam.



3. Câu hỏi nghiên cứu

Từ mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:

Mức độ điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng

khốn Việt Nam có ảnh hưởng như thế nào đến tính thơng tin của giá cổ phiếu?



4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

+ Tính thơng tin của giá cổ phiếu và hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các

công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

+ Ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thơng tin của giá cổ

phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.



4.2. Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu trên dữ liệu thu thập được của

các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khốn TP. Hồ Chí Minh và Sở Giao

dịch Chứng khốn Hà Nội (khơng bao gồm các ngân hàng).

+ Phạm vi thời gian: dữ liệu nghiên cứu được thu thập trong khoảng thời

gian từ năm 2007 đến 2014.

+ Phạm vi nội dung: luận án chỉ giới hạn nghiên cứu ảnh hưởng của hành vi



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tính cấp thiết của luận án

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×