Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN II: THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH VIỆT NAM

PHẦN II: THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khu vực kinh tế đã có vốn đầu tư nước ngoài năm 2010 tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ về thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tổng số vốn đầu tư tực tiếp nước ngoài

được cấp phép mới và tăng thêm ước khoảng 21 tỉ USD , trong đó số vốn thực hiện ước 11 tỉ USD, góp phần đổi mới công nghệ sản xuất ,tăng kim ngạch xuất khẩu

và tạo việc làm cho người lao động.



II – BỘI CHI NGÂN SÁCH VÀ MỐI LIÊN HỆ ĐẾN LẠM PHÁT VÀ

MẤT CÂN ĐỐI VĨ MÔ



1. Khái niệm và bản chất của lạm phát

KN: là một quá trình giá tăng liên tục, tức là mức giá chung tăng lên hoặc là quá trình đồng tiền liên tục giảm giá.



Nguyên nhân

 Do cầu kéo

 Do cung tiền tăng cao và liên tục

 Do chi phí đẩy

 Nguyên nhân khác



Như vậy, với nguyên nhân gây ra lạm phát nêu trên, bội chi NSNN nằm trong yếu tố cơ cấu và tiền tệ, đôi lúc cả trong yếu tố cầu kéo. Thực

tế, một công cụ chính sách trọng tâm trong việc thay đổi mức tổng cầu và cán cân ngoại thương là việc giảm thâm hụt ngân sách. Chính sách

ngân sách hạn chế giống như là giảm mức giá với bất kỳ giá nào trong một cuộc suy thoái kinh tế trầm trọng.



2. Bội chi NSNN với lạm phát

Tình hình bội chi NSNN Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015

Đơn vị: tỷ đồng



Năm



Tổng thu cân đối NSNN



Tổng



chi



cân



đối



Thâm hụt NSNN



NSNN



Tỷ



lệ



bội



chi



NSNN so với GDP



2011



962.982



1.034.244



112.034



4,4%



2012



1.038.451



1.170.924



173.815



5,36%



2013



1.084.064



1.277.710



236.769



6,6%



2014



782.7



1.006.700



224



5,3%



2015(ước tính)



911.1



1.147.100



226



5,0%



(Nguồn: Tổng hợp từ cổng TTĐT Bộ Tài chính)



Năm 2011 được xem là năm nhà nước thay đổi công tác điều hành, ngay từ đầu năm Chính phủ đã ban hành và triển khai

quyết liệt Nghị quyết 11 nên kết quả thu ngân sách năm 2011 vượt kế hoạch 21,3%.



Tuy nhiên, mặc dù giảm bội chi song các khoản chi ứng trước, nợ tạm ứng, thiếu hụt nguồn hoàn thuế đã làm cho kết quả

giảm bội chi khơng có nhiều ý nghĩa về tài khoá.



Năm 2012

Bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) theo báo cáo quyết toán là 173.815 tỷ đồng (5,36% GDP). Theo đó, tổng thu

NSNN năm 2012 là 1.038.451 tỷ đồng, tăng 1,9% so với dự toán, Tổng chi NSNN năm 2012 là 1.170.924 tỷ đồng, tăng

8,3% so với dự tốn.



Ngun nhân :

Do thâm hụt ngân sách và nợ cơng tăng ở nhiều nước EU, Mỹ, Nhật Bản, đe dọa đến sự ổn định của nền kinh tế thế giới.

Tăng trưởng kinh tế chưa thực sự được cải thiện nhiều sau khủng hoảng. Đồng thời những bất ổn về chính trị xung đột

khu vực, tranh chấp lãnh thổ sẽ gây nhiều khó khăn cho sự phát triển. Các chính sách và biện pháp bảo hộ mậu dịch hàng

rào thuế quan và phi thuế quan gia tăng.



Năm 2015

Thu ngân sách Nhà nước (NSNN) dự tính sẽ vào khoảng 921 nghìn tỷ đồng, chi NSNN khoảng 1,147 triệu tỷ đồng và theo đó bội chi

NSNN vào khoảng 226 nghìn tỷ đồng, tương đương 5% GDP.



3. Giải pháp kiểm soát bội chi NSNN và kiềm chế lạm phát trong thời gian tới



- Cần có sự rà sốt để chuyển vốn từ các cơng trình chưa khởi cơng, khởi cơng chậm, hoặc thủ tục khơng đầy đủ sang cho các cơng trình

chuyển tiếp, cơng trình cấp bách, cơng trình có hiệu quả kinh tế cao.



- Về chi tiêu thường xuyên, cũng nên rà soát lại tất cả các khâu hoạt động để tổ chức lại bộ máy cho hợp lý hơn, đồng thời cắt giảm các



khoản chi chưa thật cần thiết để tập trung nguồn lực cho các công tác khác quan trọng và cấp thiết hơn.



- Kiểm soát bội chi NSNN và triệt để thực hiện chính sách có thu mới chi, khơng để bội chi NSNN tăng cao, nếu cần thiết nên giảm tỷ lệ



bội chi NSNN so với GDP dưới mức 5%, tức là nên ở khoảng 3-4%. Đồng thời, tiến tới tính tốn cân đối các nguồn phát hành trái phiếu,

công trái giáo dục một cách hiệu quả hơn, nếu chưa thật cần thiết hoặc chưa đủ thủ tục thì nên cắt giảm.



4. Kết luận

– NSNN có mối quan hệ nhân quả với lạm phát. Nếu thâm hụt NSNN quá mức có thể dẫn đến lạm phát cao. Đặc biệt,

nếu bù đắp thâm hụt NSNN bằng việc phát hành tiền sẽ tất yếu dẫn đến lạm phát .



– Tăng chi NSNN để kích thích tiêu dùng và tăng cầu tiêu dùng, sẽ kích thích đầu tư phát triển và tăng đầu tư phát triển sẽ đưa



đến tăng trưởng cao. Tuy nhiên, nếu tăng chi quá mức cho phép, tức là tăng chi đến mức làm cho thâm hụt NSNN quá cao và để

bù đắp thâm hụt này phải đi vay nợ quá lớn thì sẽ đưa đến gánh nặng nợ. Kết quả là đưa đến kích thích tiêu dùng (kích cầu quá

mức) thì ở chu kỳ sau sẽ kéo theo lạm phát, mà lạm phát cao lại làm giảm đầu tư phát triển và giảm đầu tư phát triển kéo theo

giảm tăng trưởng. Như vậy, thực tế ở đây là cần có liều lượng của chi tiêu NSNNở mức cho phép nhằm đẩy đầu tư phát triển

tăng lên và tiếp theo là đưa tăng trưởng kinh tế lên cao mà không kéo theo lạm phát cao.



III/ GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH VIỆT NAM

1. Các biện pháp giảm thâm hụt ngân sách



a,Biện pháp tăng thu giảm chi

Đây là biện pháp mà Chính phủ bằng những quyền hạn và nhiệm vụ được giao, tính tốn hợp lý để tăng các khoản thu như thu từ Thuế.... và cắt giảm

chi tiêu.

b,Vay nợ trong nước

+ Vay nợ trong nước được chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành

cơng trái, trái phiếu.

+ Ở Việt Nam, Chính phủ thường uỷ nhiệm cho Kho bạc nhà nước phát

hành trái phiếu dưới các hình thức: tín phiếu kho bạc; trái phiếu kho bạc;

trái phiếu cơng trình.

c,Sử dụng dự trữ ngoại tệ

+ Về bản chất, dự trữ ngoại tệ là tài sản Nhà nước, hình thành từ việc mua

các nguồn ngoại tệ và một phần tiền gửi của các tổ chức tài chính, giao cho

NHNN quản lý trực tiếp.



+ Mặt khác, dự trữ ngoại tệ không phải tiền mặt hay vàng mà là các giấy tờ có

giá (giấy tờ mua trái phiếu Chính phủ Việt Nam của các chính phủ nước ngồi)



d,Phát hành tiền







+ Biện pháp này giúp cho Chính phủ huy động nhanh nguồn vốn để cân đối ngân sách Nhà nước mà khơng tốn kém nhiều chi phí nhưng sẽ gây ra lạm phát

nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách.



+ Chính phủ khi bị thâm hụt ngân sách sẽ đi vay Ngân Hàng Trung ương để bù đắp. Để đáp ứng nhu cầu này, tất nhiên, ngân hàng trung ương sẽ tăng việc in tiền.

Điều này sẽ tạo thêm cơ sở tiền tệ. chính vì vậy, nó được gọi là tiền tệ hóa thâm hụt.



+ Ưu điểm của biện pháp này là nhu cầu bù tiền để đáp ứng ngân sách nhà nước được đáo ứng một cách nhanh chóng, khơng phải trả lãi, không phải gánh

thêm các gánh nặng nợ nần.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN II: THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×