Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Biểu đồ đường cột kết hợp của tỷ giá và cán cân thương mại

Biểu đồ đường cột kết hợp của tỷ giá và cán cân thương mại

Tải bản đầy đủ - 0trang

III, Tổng Kết

1, Quan điểm của chính phủ về điều tiết tỷ giá



 Tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là một trong những chính sách kinh tế vĩ mơ quan

trọng của mỗi quốc gia. Diễn biến của TGHĐ giữa USD với Euro, giữa USD/JPY

cũng như sự biến động tỷ giá giữa USD/VND trong thời gian qua cho thấy, tỷ giá

luôn là vấn đề thời sự, rất nhạy cảm. Ở Việt Nam, TGHĐ không chỉ tác động đến

xuất nhập khẩu, cán cân thương mại, nợ quốc gia, thu hút đầu tư trực tiếp, gián

tiếp, mà còn ảnh hưởng khơng nhỏ đến niềm tin của dân chúng. Khi TGHĐ biến

động theo chiều hướng không thuận, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã

thực hiện nhiều giải pháp như: nới rộng biên độ +/-5% (3/2009); hạ biên độ xuống

+/- 3% (2/2010), đồng thời với việc điều chỉnh tăng tỷ giá liên ngân hàng 3,36% ;

4/2010 NHNN u cầu các Tổng cơng ty, Tập đồn có thu ngoại tệ phải bán cho

ngân hàng và kiểm kiểm soát chặt chẽ các giao dịch mua bán ngoại tệ tại các địa

điểm mua bán ngoại tệ. Ngày 18/8/2010, NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá liên

ngân hàng lên hơn 2% (từ 18.544VND/USD lên 18.932 VND/USD) và giữa

nguyên biên độ. Với những giải pháp này, thị trường ngoại tệ, thị trường vàng đã

từng bước bình ổn, tỷ giá chính thức so với tỷ giá trên thị trường tự do được thu

hẹp, từng bước lành mạnh hóa các giao dịch vốn trong xã hội.

 Trong thời gian tới, TGHĐ biến động theo hướng nào, quả thật khơng dễ dự

đốn. Sự biến động của tỷ giá sẽ khó lường, bởi nhiều nhân tố tác động như: nhập

siêu còn lớn khơng chỉ trong ngắn hạn mà cả trong trung hạn; thâm hụt ngân sách

vẫn ở mức cao (trên dưới 6%/GDP); giá vàng trong nước và thế giới luôn tăng

mạnh (do khủng hoảng chi tiêu công tại một số quốc gia Châu Âu, châu Mỹ); nhu

cầu ngoại tệ nói chung, USD nói riêng vào những tháng cuối năm sẽ tăng cao do

khách hàng vay vốn đến hạn trả nợ ngân hàng; do nhu cầu chuyển lợi nhuận về

nước của các nhà đầu tư nước ngoài; do kinh tế ngầm vẫn phát triển rất mạnh, khó

có khả năng ngăn chặn, nên đơla hóa nền kinh tế còn ở mức cao; do thực hiện

chính sách đồng tiền mạnh/ hay yếu của một số quốc gia trong khu vực… Như vậy

sẽ có vài vấn đề đặt ra đối với TGHĐ:

- Một là, có thể điều chỉnh TGHĐ theo quan hệ cung cầu ngoại tệ trong bối

cảnh một số nước Châu Âu đang rơi vào cuộc khủng hoảng nợ cơng, còn Trung

quốc lại nâng giá đồng nhân dân tệ?

Trong bối cảnh khủng hoảng nợ công từ một số nước Châu Âu đang có

chiều hướng lan rộng.Trong 7 tháng đầu năm 2010, Euro đã giảm giá 15,7% so với

Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại



Page 28



USD, giảm 8,5% so với đồng GBP và thậm chí giảm 20% so với đồng JPY.i Trung

quốc nâng giá Nhân dân tệ, ít nhiều tác động đến quan hệ ngoại thương giữa hai

nuớc, tuy không lớn.

Như vậy TGHĐ sẽ phải điều chỉnh thế nào và khi nào để không gây ra

những cú sốc và không tạo kỳ vọng mất giá đồng Việt Nam. TGHĐ là giá cả đối

ngoại của đồng tiền, theo tín hiệu thị trường tỷ giá lúc lên, lúc xuống phải được

xem là việc bình thường của nền kinh tế. Còn khi tỷ giá diễn biến theo chiều hướng

bất lợi, thì bất cứ Quốc gia nào cũng cần can thiệp tỷ giá. Điểm khác nhau ở chỗ:

thời điểm can thiệp; công cụ can thiệp, mức độ can thiệp và sự giám sát của quá

trình can thiệp. Kinh nghiệm của nhiều Quốc gia trong điều hành chính sách tỷ giá

cho thấy, việc chọn thời điểm điều chỉnh với “liều lượng” hợp lý là yếu tố quan

trọng, thậm chí quyết định cho việc ổn định tỷ giá và khắc phục áp lực cộng hưởng

lên tỷ giá và thị trường. Với kinh nghiệm này, khi tỷ giá đang dần ở thế ổn định,

NHTW sẽ chủ động (tính tốn một cách cụ thể) điều chỉnh tăng/giảm nếu dự báo

trong thời gian tới là cần thiết, không nên để diễn biến tỷ giá ở mức “nóng” mới

điều chỉnh, bởi điều chỉnh thời điểm này dễ gây hiệu ứng bất ổn từ tỷ giá sang các

chỉ tiêu vĩ mơ khác.

- Hai là, để khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, thì xử lý TGHĐ

có phải là biện pháp hữu hiệu?

Ở Việt Nam, một số cơng trình nghiên cứu ii đã cho rằng: các đợt phá giá

tiền vừa qua, khơng có tác dụng cải thiện cán cân thương mại”, vì thế nếu cứ coi

TGHĐ là một trong những rào cản cho xuất khẩu, để “lập luận” cần phải giảm giá

VND, để cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam sẽ là chưa ổn? Do cơ cấu mặt

hàng xuất khẩu của Việt Nam có nhiều bất cập, 70 -80% đầu vào của mặt hàng

xuất khẩu là nhập khẩu, trong khi xuất khẩu lại lệ thuộc vào biến động trên thị

trường quốc tế về điều kiện thương mại cũng như biến động giá cả. Ở khía cạnh

nhập khẩu, TGHĐ có thực sự hạn hạn chế nhập khẩu, để thơng qua đó hạn chế

nhập siêu? Điều này cũng không hẳn như vậy. Do xuất khẩu nhiều, nhưng hầu hết

ở dạng thô, giá trị gia tăng trên từng đơn vị xuất khẩu không cao, trong khi nhập

siêu rất lớn, chủ yếu từ Trung Quốc (chiếm đến 80-90%/tổng kim ngạch nhập

khẩu). Như vậy sự phụ thuộc của giá cả trong nước vào giá cả thị trường quốc tế

khá lớn. Do đó, các ý kiến cho rằng cần xử lý tỷ giá theo hướng tăng để khuyến

khích xuất khẩu, chủ động nhập khẩu là trực tiếp hoặc gián tiếp thu hẹp vai trò của

Tỷ giá hối đối và cán cân thương mại



Page 29



tỷ giá, trong khi TGHĐ còn liên quan đến hàng loạt vấn đề như cán cân thanh toán,

nợ quốc gia, thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán và bất động sản. Chỉ xét

riêng mối quan hệ giữa tỷ giá với nợ quốc gia cũng cho thấy cần rất thận trọng

trong việc nâng hay giảm giá của tiền đồng. Nợ quốc gia của Việt Nam chủ yếu là

nợ nước ngoài (khoảng 40% GDP), nếu giảm giá tiền tệ thì ảnh hưởng khơng nhỏ

đến nợ quốc gia. Với cơ cấu nợ công iv của Việt Nam nghiêng về nợ nước ngồi,

thì khi tỷ giá điều chỉnh tăng lên, sẽ dẫn đến rủi ro nợ công do lãi suất biến động

theo xu hướng tăng. Như vậy sẽ dẫn đến chênh lệch lãi suất quá lớn giữa thị trường

trong nước và thị trường quốc tế, sẽ làm gia tăng mức độ đơla hóa và tiếp tục tạo

áp lực lên TGHĐ. Vì vậy, khi cần điều chỉnh tỷ giá không chỉ đặt nó trong mối

quan hệ với xuất, nhập khẩu, mà còn phải xem nó trong mối quan hệ với đầu tư, lãi

suất và vay nợ nước ngoài v.v… trong chiến lược chung là nâng cao uy tín và vị

thế của VND, hướng đến một đồng tiền tự do chuyển đổi trong khu vực.

- Ba là, có khắc phục được yếu tố kỳ vọng VND mất giá?

Khi người dân và doanh nghiệp luôn kỳ vọng VND mất giá, sẽ làm giảm

niềm tin của người dân vào điều hành chính sách tài chính – tiền tệ của Chính phủ,

NHNN, tiếp tục gây ra những bất ổn trên thị trường. Điều này đã và đang xảy ra

trong dân chúng. Khi tỷ giá trên thị trường tự do biến động tăng, người dân nghĩ

ngay đến việc NHNN sẽ điều chỉnh tỷ giá theo hướng VND giảm giá. Khi giảm giá

VND thì giá một số hàng hóa dịch vụ tăng, lãi suất cho vay và huy động cũng bị

đẩy lên cao, các giao dịch ngắn hạn trở lên phổ biến hơn lúc nào hết (gửi tiền cũng

chỉ chấp nhận kỳ hạn ngắn từ tuần, đến tháng; nếu có gửi kỳ hạn 6 tháng hay 1

năm thì các NHTM lại phải áp dụng theo kiểu “rút ra trước hạn ở thời điểm nào sẽ

được hưởng lãi suất ở kỳ hạn đó”. Nếu vẫn cứ tiếp cách hành xử này, VND luôn

đặt trong xu thế điều chỉnh giảm. Điều này là rất bất ổn trong trung hạn. Vậy có

khắc phục được vấn đề này khơng? Theo chúng tơi có thể khắc phục được bằng

cách trong ngắn hạn cần chấp nhận một tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn hiện tại (trên

dưới 5%), duy trì một tỷ lệ lạm phát thấp (trên dưới 6%), đồng thời với nó là dùng

các biện pháp để nâng giá tiền đồng, tạo một sự thay đổi từ nhận thức của người

dân. Việc làm này sẽ tạo yếu tố tâm lý rất quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh niềm

tin của người dân bị suy giảm về sự không ổn định sức mua của tiền đồng, họ có

tiền nhàn rỗi sẽ nhanh chóng chuyển sang vàng và ngoại tệ nắm giữ v.



Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại



Page 30



Khi VND lên giá, có thể sẽ làm tăng thêm tình trạng nhập siêu, xuất

khẩu có thể giảm đi. Nhưng như đã phân tích trên, yếu tố tỷ giá có tác động đến

xuất nhập khẩu nhưng khơng hẳn là yếu tố quyết định. Vì vậy hướng đến sự ổn

định tỷ giá trong trung hạn, rất cần thiết có cách nhìn mới về vấn đề này.

2, Một số đề xuất của cá nhân thông qua tài liệu và tư liệu



Càng tìm hiểu nhóm em càng cảm thấy vấn đề điều hành tỷ giá là một vấn

đề hệ trọng. Có lẽ các nhà hoạch định, các chuyên gia cũng đã như chúng em: cùng

ngồi lại với nhau, bàn bạc về vấn đề điều hành tỷ giá ra sao, đưa ra những giải

pháp, đề xuất rồi cãi vã nhau để cuối cùng chẳng có đề xuất nào được thơng qua

(những đề xuất như neo VNĐ vào một nhóm tiền tệ như Trung Quốc thực hiện hay

phá giá VNĐ để hỗ trợ xuất khẩu, thả nổi tỷ giá hoàn tồn đều khơng được nhóm

thong qua); nhưng họ là những chuyên gia, còn chúng em mới chỉ tiếp xúc với

kinh tế Vĩ Mơ trong một thời gian ngắn, cả nhóm lại cố gắng họp nhau để cùng tìm

kiếm 1 đề xuất, rốt cuộc thì cũng có câu trả lời

a, Mục tiêu: những đề xuất dưới đây hướng tới sự ổn định và phát triển bền vững

của nền kinh tế Vĩ Mô trong lâu dài, với đối tượng tác động là chính sách về tỷ giá

b, Đề xuất

Một là, đất nước cần chú trọng tới việc đào tạo các chuyên gia kinh tế, phải

đầu tư nguồn lực, ưu đãi, hỗ trợ, tăng chính sách đãi ngộ để nâng cao trình độ của

họ. Khi có những con người phù hợp, chúng ta sẽ dự đoán được những biến động

kinh tế trong ngắn hạn chính xác hơn, từ đó có những thay đổi trong tỷ giá kịp thời,

hợp lý. Mặt khác, với những con người phù hợp, họ sẽ đấu tranh để những chính

sách đúng đắn được bảo đảm thực thi

Hai là, ngân hàng trung ương cần phải linh hoạt hơn trong vấn đề điều chỉnh

tỷ giá. Hiện nay NHTW đang theo đuổi chế độ tỷ giá cố định có điều chỉnh, neo

VNĐ vào USD và kiên định giữ ổn định tỷ giá – chỉ thay đổi mức tỷ giá trong biên

độ 2% (bất chấp việc USD đang ngày càng mạnh lên). Có lẽ điều khiến NHTW

theo đuổi con đường này là lý do nợ công, nếu tỷ giá tăng 1%, nợ công của VN sẽ

tăng 10.000 tỷ đồng, nếu giữ nguyên tỷ giá, nợ công giảm 12.000 tỷ đồng (nguồn:

bộ kế hoạch và đầu tư); mặt khác, khi điều chỉnh tỷ giá, xăng dầu sẽ lên giá, rất dễ

dẫn tới lạm phát tăng nhanh, đe dọa sự ổn định kinh tế Vĩ Mơ. Nhìn vào tình hình

kinh tế quốc gia khoảng thời gian gần đây chúng ta có thể thấy sự ổn định và dần

Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại



Page 31



phát triển, chứng tỏ con đường điều hành tỷ giá của NHTW là hợp lý, nhưng đứng

trước sự hội nhập ngày càng sâu rộng kinh tế thế giới, chúng ta cần phải linh hoạt

hơn. Biên độ 2% là biên độ NHTW tính tốn trong bối cảnh kinh tế khơng có nhiều

biến động, điều này sẽ cản trở sự tự do của thị trường. Chúng em xin đề xuất mở

rộng biên độ (mở rộng lên bao nhiêu thì cần phải tính tốn cẩn thận, việc này vượt

q khả năng của nhóm) đồng thời điều chỉnh tỷ giá có tăng có giảm, như vậy:

ngoài việc khiến tỷ giá linh hoạt hơn, tăng giảm bù trừ vẫn có thể đảm bảo tỷ giá

không tăng cao gây sức nặng nợ công và lạm phát

Ba là, chính phủ cần phải có những chỉ đạo để các bộ ngành, các doanh

nghiệp cung cấp số liệu cho nhau, để NHTW có cơ sở tính tốn, từ đó có cơ sở

khoa học để điều chỉnh tỷ giá. Và việc phối hợp chính sách cũng thực hiện được

chính xác hơn

KẾT LUẬN

Từ những dữ liệu thực tế chúng ta khẳng định được tỷ giá hối đối có tác

động tới cán cân thương mại ở Việt Nam, đồng thời, cán cân thương mại cũng ảnh

hưởng tới tỷ giá hối đoái. Hiện nay, vấn đề điều hành tỷ giá theo chính sách như

thế nào vẫn là một bài toán lớn đối với chúng ta

Danh mục tài liệu tham khảo:

1. Các website: ngân hàng nhà nước, tổng tục thống kê, cafef, vietstock

2. Các bài luận văn của các bạn sinh viên

+Lê Thị Đông, Đại học Ngoại Thương

+Pham Hồng Phúc, ĐHKT TPHCM

3. Các bài phân tích sưu tầm của PGS.TS Nguyễn Thị Mùi, TS Cấn Văn Lực

4. Giáo trình KTVM -ĐHTM



Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại



Page 32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Biểu đồ đường cột kết hợp của tỷ giá và cán cân thương mại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×