Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Do không có số liệu chi tiết về các chi phí sản xuất hàng năm trong mô hình trồng cây Bưởi diễn và Vải thiều tại khu vực nên đề tài chỉ đánh giá thunhập và chi phí trung bình năm 2015 của các hộ gia đình. Đặc biệt, các mô hình này đã hết giai đoạn xâ...

Do không có số liệu chi tiết về các chi phí sản xuất hàng năm trong mô hình trồng cây Bưởi diễn và Vải thiều tại khu vực nên đề tài chỉ đánh giá thunhập và chi phí trung bình năm 2015 của các hộ gia đình. Đặc biệt, các mô hình này đã hết giai đoạn xâ...

Tải bản đầy đủ - 0trang

50



hình này đã hết giai đoạn xây dựng cơ bản 3-4 năm và đã cho thu nhập ổn

định nên đề tài cũng tính hiệu quả kinh tế theo phƣơng pháp tĩnh.Tổng chi phí

là sử dụng số liệu năm 2015 cộng vớiphần chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng

trong năm đầu chia cho số năm.

Bảng 4.6: Hiệu quả kinh tế mơ hình cây ăn quả

Đơn vị tính: Đồng/ha/năm

TT



Nội dung



1



Mơ hình canh tác

Bƣởi diễn



Vải thiều



Chi phí



125.600.000



35.100.000



2



Thu nhập



220.000.000



75.000.000



3



Lợi nhuận



94.400.000



39.900.000



1



2



Xếp hạng



(Tổng hợp số liệu điều tra 2016)

Từ bảng kết quả cho thấy: 2 loài cây này trồng năm 2015 cho thu nhập

khá cao: Vải thiều năm thứ 5 trung bình từ 4- 6 tấn/ha, đơn giá 15.000đ/kg,

thu nhập trung bình 60 - 90 triệu/ha. Bƣởi diễn năm thứ 5 ra quả ổn định từ

8000 - 10000 quả/ha, đơn giá 25.000đ/quả đạt 200 - 250 triệu đồng/ha. Tuy

nhiên, sản lƣợng cả 2 loại cây này vẫn thấp hơn so với Bƣởi diễn trồng tại

Phú Xuyên Hà Nội trung bình đạt 300 - 500 đồng/ha/năm (Dẫn theo Báo Hà

Nội mới ngày 16/4/2016). Do cộng thêm phần chi phí xây dựng cơ bản nên

chi phí /ha trồng bƣởi diễn là 125,6 triệu đồng và trồng vải thiều là 35,1 triệu

đồng. Thu nhập trung bình mỗi ha Bƣởi diễn là 94,4 triệu đồng và Vải thiều là

39,9 triệu đồng.

4.3.3. Hiệu quả về xã hội

Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội là chỉ tiêu khó định lƣợng đƣợc.

Trong phạm vi của đề tài, hiệu quả xã hội của các mơ hình sử dụng đất đƣợc



51



đánh giá kết quả thảo luận cùng với ngƣời dân trực tiếp tham gia trồng và một

số cán bộ trong khu vực đã thống nhất đƣa ra các tiêu chí đánh giá nhƣ sau:

- Mức độ hài lòng, khả năng chấp nhận của ngƣời dân: Tổng hợp của 4

tiêu chí nhỏ:

+ Vốn đầu tƣ thấp: Vốn đầu tƣ cho sản xuất là vấn đề đƣợc quan tâm

đặc biệt với ngƣời dân miền núi, nơi có điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn,

yếu tố kinh tế đã chi phối lựa chọn của ngƣời dân đối với các mơ hình canh

tác. Vốn đầu tƣ bao gồm tiền mặt, vật tƣ, công cụ sản xuất.

+ Phù hợp phong tục tập quán: Ở khu vực nông nghiệp là hoạt động sản

xuất chủ yếu, quyết định thu nhập chính của ngƣời dân, nó đã đi sâu vào đời

sống vật chất và tinh thần. Các mơ hình canh tác càng phù hợp với phong tục

tập quán thì càng dễ phổ cập và áp dụng đối với địa phƣơng đó, tỷ lệ ngƣời

dân chấp nhận mơ hình cao.

+ Kỹ thuật canh tác đơn giản: Kỹ thuật canh tác đơn giản, dễ làm, có

hiệu quả cao thì dễ đƣợc ngƣời dân chấp nhận.

+ Đóng góp trong thu nhập, kinh tế hộ: Mơ hình đóng vai trò chủ yếu

trong thu nhập kinh tế của gia đình thì đƣợc ngƣời dân ƣu tiên lựa chọn.

- Điều kiện, khả năng lan rộng các mơ hình:

+ Sản phẩm dễ tiêu thụ và có thị trƣờng ổn định: Đây là một chỉ tiêu

dùng để xác định mơ hình canh tác đó có thể nhân rộng và phát triển đƣợc hay

không. Với ngƣời nông dân, vốn đầu tƣ cho sản xuất ít, tâm lý muốn thu

nhanh lợi nhuận, nên mơ hình canh tác nào nhanh cho sản phẩm, dễ bán trên

thị trƣờng thì dễ đƣợc ngƣời dân lựa chọn.

+ Giá thành sản phẩm cao: Mơ hình canh tác nào cho sản phẩm bán ra

thị trƣờng đƣợc giá, thì mơ hình canh tác đó đƣợc ngƣời dân chấp nhận.

+ Thu hút đƣợc lao động: Đây là chỉ tiêu quan trọng, vì hoạt động sản

xuất nơng nghiệp có tính mùa vụ, trong năm sẽ có thời gian lao động nhàn rỗi.



52



Mơ hình canh tác nào thƣờng xun tạo việc làm thì dễ thu hút ngƣời lao

động hơn.

+ Nhanh cho sản phẩm thu hoạch: Lồi cây trồng nào có chu kỳ kinh

doanh ngắn, nhanh cho sản phẩm thì đƣợc ngƣời dân chấp nhận cao.

- Khả năng phát triển sản xuất hàng hố: Là tiềm năng của loại sản

phẩm đó có thể đáp ứng và phù hợp với yêu cầu của thị trƣờng.

Kết quả đánh giá đƣợc thể hiện trong bảng sau:

Bảng 4.7: Đánh giá xã hội của các mô hình canh tác xã Nam Sơn

Mơ hình canh tác cây nông nghiệp ngắn ngày

Chỉ tiêu đánh giá

Lúa

nƣớc



Ngô

lai



Khoai

lang



Đu

đủ



1



1



1



1



0



0



0



1



1



1



1



1



0



0



1



1



1



1



1



0



0



0



0



1



1



1



1



0



0



0



1



1



1



1



0



1



1



1



1



1



0



0



0



0



0



0



1



1



1



1



1



1



1



1



0



0



0



0



1



1



1



0



0



Tổng điểm



5



5



8



8



8



3



1



Xếp hạng



2



2



1



1



1



3



4



Vốn đầu tƣ thấp

Kỹ thuật canh tác

đơn giản

Phù hợp với phong

tục tập quán

Thu nhập kinh tế

chủ yếu trong cơ cấu

kinh tế hộ

Sản phẩm bán đƣợc

giá cao, dễ tiêu thụ

Nhanh cho sản

phẩm thu hoạch

Giải quyết đƣợc

nhiều việc làm

Khả năng lan rộng

trong thôn, xã...

Khả năng phát triển

sản xuất hàng hoá



Chuối tiêu

Bƣởi

hồng



Vải



(Tổng hợp số liệu điều tra 2016)



53



Nhƣ vậy, theo đánh giá của các hộ gia đình: mơ hình trồng Chuối tiêu

hồng, đu đủ và khoai lang là có nhiều ƣu điểm nhất. Lúa và ngơ là 2 loại cây

trồng truyền thống, tuy nhiên gió giá cả bấp bênh và khơng phải là thu nhập

chính của các hộ do vậy đứng thứ 2. Bƣởi diễn tuy có giá trị kinh tế, cho thu

nhập cao nhƣng sản phẩm thu hoạch tập trung vào cuối năm nên bà còn cũng

đánh giá thấp hơn và đứng thứ 3. Cây vải do diện tích ít, chi phí chăm sóc

cao, giá phụ thuộc thị trƣờng nên đƣợc đánh giá thấp nhất.

Ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng trên 60% cơ cấu kinh tế của xã và

đƣợc xem là ngành kinh tế chủ lực từ trƣớc đến nay và có thể trong tƣơng lai

gần khơng có ngành kinh tế nào vƣơn lên nắm vai trò chủ lực thay thế ngành

nơng nghiệp. Tuy nhiên về hiệu quả xã hội của các mơ hình sử dụng đất trong

thời gian vài năm trở lại đây đã có sự thay đổi và chuyển biến đáng kể.

- Lúa nƣớc: Đây là cây trồng có lịch sử lâu đời tại địa phƣơng, vốn đầu

tƣ thấp, kỹ thuật canh tác đơn giản, phù hợp với tập quán canh tác của ngƣời

dân nhƣng hiệu quả xã hội có xếp hạng thấp nhất trong cơ cấu cây trồng của

xã. Mức độ lan rộng cũng nhƣ khả năng phát triển hàng hóa của loại cây này

hiện nay rất thấp, số công lao động khoảng 60 cơng/ha. Phần lớn diện tích

trồng lúa khơng mang lại hiệu quả kinh tế hoặc không chủ động đƣợc

nguồn nƣớc tƣới, thƣờng xuyên xảy ra hạn, đƣợc chuyển sang trồng các

loại cây ngắn ngày hoặc hoa màu mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Sản

phẩm làm ra chỉ 1 phần đáp ứng nhu cầu lƣơng thực của hộ gia đình, ít

tham gia lƣu thơng hàng hóa. Bên cạnh đó do sức hút lợi nhuận từ các cây

cơng nghiệp lâu năm, cho nên hầu hết ngƣời dân không còn mong muốn

phát triển mơ hình canh tác này.



54



Bảng 4.8: Khả năng thu hút lao động của các mơ hình canh tác

Mơ hình canh tác



Cơng lao động/ha



Lúa nƣớc



60



Lúa nƣớc - Ngô lai



100



Lúa nƣớc - Khoai lang



75



Chuối tiêu hồng



250



Đu đủ



250



Bƣởi diễn



350



Vải thiều



350

(Tổng hợp số liệu điều tra 2016)



- Ngô lai: Thu hút công lao động khoảng 100 công/ha. Sản phẩm chủ

yếu cung cấp cho hoạt động chăn nuôi Heo, Gà…., hầu nhƣ khơng tham gia

sản xuất hàng hóa.Diện tích chủ yếu trồng xen với Bƣởi, Hồng xiên trong

những năm đầu chƣa khép tán.

- Khoai lang: Giống nhƣ các loại cây nông nghiệp ngắn ngày khác,

khoai lang cũng có xu hƣớng ngày càng giảm về diện tích, khả năng lan rộng

và phát triển sản xuất hàng hóa. Mặc dù đây là lồi cây trồng có lịch sử lâu

đời ở địa phƣơng, mức đầu tƣ cơng lao động khoảng 60 cơng/ha, đóng góp 1

phần đáng kể trong thu nhập kinh tế của ngƣời dân. Hiện nay, hầu hết diện

tích trồng khoai lang chuyển sang trồng các cây Chuối tiêu hông, cây đu đủ,

và cây ăn quả. Hiện nay, diện tích còn khoảng trên dƣới 20 ha đƣợc trồng

bằng các giống chất lƣợng không cao.Nhiều khả năng, diện tích này sẽ tiếp

tục giảm nữa bởi sự phát triển mạnh mẽ của cây Bƣởi, Vải.

- Bƣởi diễn: Đƣợc gây trồng phổ biến những năm gần đây. Cùng với

nhiều lài cây ăn quả khác nhƣ: Xoài, Táo, Vải, Nhƣng cây Bƣởi vẫn là cây

trồng chủ lực, mang lại thu nhập chính cho hầu hết ngƣời dân địa phƣơng và

đóng góp chính trong nguồn thu kinh tế của xã. Mức đầu tƣ công lao động



55



khoảng 350 công/ha. Năng suất đạt 8000-10000quả/ha/năm, cho thu nhập 200

-250 triệu/ha/năm, nhờ áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, đặc biệt là việc

trồng mời bằng các giống tốt. Cây Bƣởi vẫn đang làm loại cây có sức hút lớn

trong nhu cầu của ngƣời dân.

- Vải thiều: Đƣợc gây trồng phổ biến vào những năm 2006 - 2010 và

giảm diện tích nhanh chóng trong những năm gần đây. Vì cây Vải khơng

mang lại hiệu quả kinh tế cho ngƣời dân, các vùng lân cận nhƣ tỉnh Bắc

Giang có một vùng chuyên trồng Vải thiều chất lƣợng cũng nhƣ giá thành ở

đó rẻ hơn.

Một thực tế hiện nay là nông dân sản xuất theo thị trƣờng là chính. Ở

đây ngƣời nơng dân sẵn sàng chặt bỏ các loại cây trồng truyền thống để

chuyển sang trồng cây khác theo nhu cầu thị trƣờng ở thời điểm hiện tại.

Mơ hình phổ nhất thời điểm hiện nay là nơng dân tìm mọi cách để mở rộng

diện tích Bƣởi bằng cách chặt bỏ diện tích Vải và nhiều lồi cây khác,

trồng cây trên đất khơng phù hợp, dẫn đến năng suất không cao và kém hiệu

quả kinh tế.

4.3.4. Hiệu quả môi trường sinh thái

Hiệu quả môi trƣờng là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh

tính bền vững của mơ hình canh tác. Trong thực tế, tác động môi trƣờng diễn

ra rất phức tạp và theo nhiều yếu tố khác nhau, cây trồng đƣợc phát triển tốt

khi phù hợp với đặc tính, chất lƣợng của đất. Tuy nhiên, trong quá trình sản

xuất dƣới sự hoạt động của con ngƣời sử dụng hệ thống cây trồng, sẽ tạo nên

những ảnh hƣởng rất khác nhau đến môi trƣờng.

Cũng nhƣ đánh giá hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trƣờng của các mơ

hình canh tác đƣợc đánh giá dựa trên kết quả đánh giásự nhận biết của ngƣời

dânvề ảnh hƣởng của việc canh tác đến môi trƣờng đất, cũng nhƣ các biện



56



pháp bảo vệ đất mà ngƣời dân đã sử dụng trong quá trình canh tác. Kết quả

tổng hợp từ bảng phỏng vấn thể hiện ở một số chiểu tiêu sau đây:

- Màu đất sẫm hơn (màu đất đƣợc cải thiện);

- Kết cấu đất đƣợc cải thiện;

- Lớp đất mặt dày hơn;

- Độ màu mở của đất tăng lên;

- Số lƣợng và chất lƣợng nƣớc tƣới, nƣớc sinh hoạt ở khu vực gần nơi

canh tác;

- Độ chua của đất đất tăng/giảm;

- Năng suất cây trồng tăng/giảm.

Tổng hợp kết quả điều tra về nhận thức của ngƣời dân về tác động của

q trình canh tác đến mơi trƣờng sinh thái đƣợc tổng hợp ở bảng sau:

Bảng 4.9: Đánh giá môi trƣờng sinh thái

Độ Lƣợng

màu nƣớc

Độ

mở và chất chua

của lƣợng

đất

đất

nƣớc



Màu

đất

sẫm

hơn



Độ

ẩm

đất



Kết

cấu

đất



Lớp

đất

mặt

dày

hơn



0



0



0



0



0



0



-1



1



0



5



1



1



1



0



0



0



-1



1



3



4



1



1



1



1



1



0



-1



1



5



3



1



1



1



1



1



1



0



1



7



1



Đu đủ



1



1



1



1



1



0



0



1



6



2



Bƣởi diễn



1



1



1



0



1



1



0



0



5



3



Vải thiều



1



1



0



0



0



1



0



0



3



4



Chỉ tiêu



hình



Lúa nƣớc 2

vụ

Lúa &Ngơ

lai

Lúa &

Khoai lang

Chuối tiêu

hồng



Năng

suất

cây

trồng



Tổng Xếp

điểm hạng



57



Từ kết quả điều tra phỏng vấn trên 30 hộ gia đình, kết hợp một số cán

bộ thơn xã cho thấy: Trong những năm gần đây, cùng với sự đầu tƣ khoa học

kỹ thuật, giống mới kết hợp với sự nhận thức của ngƣời dân về vai trò của đất

đối với cây trồng, ảnh hƣởng của các biện pháp canh tác đối với đất...Hầu hết

các hộ gia đình ở đây đã quan tâm đến phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực

vật có nguồn gốc hữu cơ và biết tận dụng vật chất hữu cơ sau khai thác làm

nguồn phân bón...Do vậy, 100% số ngƣời đƣợc hỏi cho rằng khi trồng chuối

tiêu hồng, đu đủ, bƣởi diễn, vải thiều, khoai lang và ngơ vụ đơng thì lớp đất

mặt có màu sắc thẫm hơn, độ ẩm đất tăng, lớp đất mặt tăng lên, dễ cày xới

hơn do kết cấu đất đƣợc cải thiện. Đặc biệt, mực nƣớc ngầm không thay đổi,

đảm bảo lƣợng nƣớc tƣới trong những tháng mùa khô, dẫn đến năng suất, sản

lƣợng cây trồng đều tăng. Tuy nhiên, với mơ hình trồng lúa nƣớc 2 vụ và một

vụ do thói quen nên việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật

còn nhiều nên đất ngày càng chua hơn, sâu bệnh nhiều và năng suất không

tăng hơn so với trƣớc đây. Tuy nhiên, mức độ ảnh hƣởng đến mơi trƣờng của

các mơ hình cũng khác nhau vì ngƣời dân đã sử dụng nhiều loại cây trồng

khác nhau. Trong các mơ hình đƣợc đánh giá cho thấy: mơ hình trồng Chuối

tiêu hồng là mơ hình canh tác có hiệu quả mơi trƣờng cao nhất, sau đó đến Đu

đủ, Bƣởi, Ngô lai, Lúa nƣớc và Vải thiều là mơ hình có hiệu quả về mặt mơi

trƣờng thấp nhất. Vì trong canh tác còn sử dụng nhiều phân bón hóa học và

thuốc bảo vệ thực vật.

Để đánh giá thêm về mức độ đầu tƣ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật

trong canh tác và ảnh hƣởng của nó đến môi trƣờng. Đề tài đã tổng hợp kết

quả về mức độ đầu tƣ phân bón cho các loại cây trồng nhƣ sau:



58



Bảng 4.10: So sánh mức đầu tƣ phân bón với tiêu chuẩn bón phân cân đối và hợp lý

Theo điều tra nông hộ

Loại cây

trồng



Theo tiêu chuẩn [6]



K2O

(kg/ha)



P2O5

(kg/ha)



N

(kg/ha)



Phân

chuồng

(tấn/ha)



K2O

(kg/ha)



P2O5

(kg/ha)



N

(kg/ha)



Phân chuồng

(tấn/ha)



Lúa nƣớc



100



100



200



-



30 - 60



80 - 90



120 - 130



8- 10



Đu đủ



90



100



80



8



80 - 90



70 - 80



50 - 60



8 - 10



Khoai lang



100



100



100



10



150 - 160



150 - 160



100 - 120



8 - 10



Ngô Lai



150



100



100



4



80 - 100



70 - 80



150 - 180



8 -10



Chuối tiêu

hồng



300



150



100



25



300



120



300



25 - 30



Bƣởi diễn



300



400



100



5-6



100 - 120



120 - 150



100 - 120



10 - 12



Vải thiều



300



400



300



6-8



80 - 200



200 - 400



80 - 100



10 - 12



(Tổng hợp số liệu điều tra 2016)



59



Từ kết quả điều tra cho thấy:

+ Lúa nƣớc: Lƣợng phân hóa học bón cho đất nhiều hơn lƣợng định mức

quy định. Ngƣời dân không đầu tƣ phân chuồng để bổ sung dinh dƣỡng cho

đất, mà chủ yếu bón phân đạm khoảng 200 kg/ha. Trong khi đó, hàm lƣợng

đạm khuyến cáo dùng cho cây lúa là 120 - 130kg /ha và lân, ka li cũng dều

cao hơn mức quy định. Nhƣ vậy rõ ràng đối với cây Lúa đã có sự mất cân đối

rất lớn trong vấn đề cung cấp dinh dƣỡng cho cây. Kết quả là đất ở đây càng

ngày càng chua hơn.

+ Ngơ lai: Đã có đầu tƣ phân hữu cơ đầu tƣ phân hữu cơ nhƣng so với

quy định nhiều gấp 2 - 2,5 lần, chủ yếu vẫn sử dụng phân hóa học với hàm

lƣợng P2O5 và K2O cao hơn định mức cho phép, trong khi đó đạm là yếu tố

dinh dƣỡng quan trọng nhất, đóng vai trò tạo năng suất và chất lƣợng thì lại

thấp hơn định mức.

+ Khoai lang: Đã sử dụng tối đa nguồn phân hữu cơ 8- 10 tấn/ha, các

loại phân khác nhƣ ure, lân và ka li đều trong mức quy định. Ngoài ra, bà con

còn sử dụng thêm 300 - 500 kg phân bón hữu cơ vi sinh. Do vậy, năng suất

khoai khá cao, cũng nhƣ chất lƣợng đất và có tác dụng bảo vệ đất chống

xói mòn.

+ Chuối tiêu hồng: Là cây có nhu cầu dinh dƣỡng cao, trong đó cao nhất

là kali sau đó là đạm. Hiện tại ngƣời dân đã chú trọng bón kali và lân cho cây,

lƣợng đạm ít hơn nhƣng đã đầu tƣ phân bón hữu cơ với số lƣợng khá lớn.Ngoài

ra trên địa bàn xã, đa số ngƣời dân đã bón thêm vơi bột cho Chuối tiêu hồng để

cung cấp thêm canxi cho cây cũng nhƣ chống chua đất, lƣợng phân bón khoảng

500 kg/ha.Do đó, mơ hình Chuối tiêu hồng đất khá tốt, năng suất ổn định và

hiệu quả cao.

+ Bƣởi: Hiện tại chƣa có tiêu chuẩn nào qui định mức phân bón cân đối

và hợp lý. Nhƣng theo quy trình kỹ thuật trồng Bƣởi diễn của Viện nghiên



60



cứu rau quả Hà Nội cho rằng đây là loại cây có nhu cầu đạm và kali là cao

nhất sau tới lân, canxi, magiê và các vi lƣợng khác. Đa số hộ nông dân sử

dụng N,P,K đều cao hơn trong quy trình trồng năm đầu. Nhƣng chƣa quan

tâm đầu tƣ phân bón hữu cơ chủ bằng 1/2 lƣợng khuyến cáo.Trong q trình

sử dụng bà con còn sử dụng nhiều đợt phun thuốc phòng trừ sâu hại lá, hoa

quả nên cũng gây ảnh hƣởng đến môi trƣờng.

+ Vải thiều: Tƣơng tự nhƣ Bƣởi diễn nên năng suất, chất lƣợng quả

không ổn định, mẫu mã không đẹp. Đặc biệt là chu kỳ sai quả không đều dẫn

đến năng suất không ổn định. Do thói quen nên hầu nhƣ trong vƣờn vải các

chất thải hữu cơ (cành khô, lá rụng, cuống quả...) thƣờng bị đốt làm giảm

nguồn chất hữu cơ cho đất hàng năm.

Cùng với phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật là yếu tố rất quan

trọng đảm bảo an ninh lƣơng thực. Trong những năm gần đây, trƣớc những

diễn biến bất thƣờng của thời tiết đã gây ảnh hƣởng lớn tới sản xuất nơng

nghiệp, theo đó sâu bệnh hại có điều kiện thuận lợi để phát sinh. Theo kết quả

điều tra, hầu hết các hộ nông dân trên địa bàn xã đều sử dụng thuốc BVTV để

phòng trừ sâu bệnh hại cho cây trồng ở các mức độ khác nhau. Các cây nơng

nghiệp ngắn ngày có mức đầu tƣ ít hơn so với các cây cơng nghiệp lâu năm,

trung bình khoảng 2 lít thuốc/ha. Một số bệnh thƣờng gặp trên cây trồng nhƣ

bệnh vàng lá do vi khuẩn, rầy nâu, sâu cuốn lá nhỏ (trên cây Lúa), sâu đục

thân, rệp muỗi, gỉ sắt (trên cây Ngô lai)…. Khi có sâu bệnh hại, đa số ngƣời

dân chỉ chú trọng sử dụng thuốc BVTV để trị bệnh mà không quan tâm đến

các biện pháp khác nhƣ vệ sinh đồng ruộng, sử dụng các chế phẩm sinh học,

sử dụng thiên địch bắt sâu…

Bƣởi diễn và Vải thiều có mức độ đầu tƣ thuốc BVTV cao hơn rất nhiều.

Trung bình Bƣởi mỗi ha khoảng 5 lít thuốc để phòng trừ rệp sáp, sâu đục thân.

Bƣởi đƣợc xem là cây trồng đạt hiệu quả kinh tế cao, với điều kiện khí hậu và

đất đai thuận lợi đã tạo ra sản phẩm chất lƣợng cao, mang lại thu nhập cho bà

con nông dân. Tuy nhiên, vải thƣờng có nhiều loại bệnh nguy hiểm gây chết



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Do không có số liệu chi tiết về các chi phí sản xuất hàng năm trong mô hình trồng cây Bưởi diễn và Vải thiều tại khu vực nên đề tài chỉ đánh giá thunhập và chi phí trung bình năm 2015 của các hộ gia đình. Đặc biệt, các mô hình này đã hết giai đoạn xâ...

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×