Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.2: Thành phần năng suất và khối lượng hạt/chậu

Bảng 3.2: Thành phần năng suất và khối lượng hạt/chậu

Tải bản đầy đủ - 0trang

biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1% (Bảng 3.2). Trường hợp không tưới mặn

hoặc tưới ở giai đoạn 45-60 NSKS đạt được trọng lượng 1.000 hạt cao hơn

các nghiệm thức khác. Đối với giống lúa, trọng lượng 1.000 hạt dao động từ

16,6 đến 21,0 g và khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1% (Bảng 3.2).

Trong đó, giống lúa Pokkali và OM 5451 đạt được trọng lượng 1.000 hạt cao

hơn so với giống lúa IR 28 và IR 50404. Kết quả này cũng phù hợp với nhận

định của Khatun and Flowers (1995a). Trọng lượng hạt giảm là do mặn hạn

chế tốc độ quang hợp dẫn đến giảm hàm lượng đường cung cấp cho hạt.

3.1.2.4 Khối lượng hạt trên chậu (g/chậu)

Khối lượng hạt/chậu có liên quan rất lớn đến giống lúa và giai đoạn tưới

mặn. Các giai đoạn tưới mặn khác nhau làm cho khối lượng hạt/chậu dao

động từ 7,72 đến 20 g/chậu và khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1%

(Bảng 3.2). Không tưới mặn hoặc tưới 1 lần ở giai đoạn 45-60 NSKS đạt

được khối lượng hạt/chậu ở mức cao bằng 20 g/chậu và 11,3 g tương ứng,

cao hơn so với các nghiệm thức khác từ 16,3-61,5%. Các giống lúa đạt được

khối lượng hạt khác nhau và khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Trong

đó, giống lúa Pokkali và OM 5451 có khối lượng hạt cao nhất bằng 14,7 g và

13,3 g; cao hơn giống IR 28 từ 27,1 đến 34,0%. Khatun et al. (1995b) báo

cáo rằng mặn làm giảm sức sống của hạt phấn và sự tạo hạt lúa. Sự thụ phấn

thành cơng có liên quan rất nhiều đến năng suất hạt (Abdullah et al., 2001).

Độ mặn của nước hoặc đất cao cũng là nguyên nhân làm cho hạt lúa bất thụ

dẫn đến giảm năng suất (Zeng et al., 2003).

3.1.3 Sự tích lũy proline trong cây lúa nhiễm mặn

Hàm lượng proline khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 1% giữa các lần

quan sát (Bảng 3.3). Hàm lượng proline khác biệt nhau giữa giai đoạn 20

NSKS so với 50 NSKS, giai đoạn 50 NSKS so với 65 NSKS. Trong đó, giai

đoạn 45 NSKS có hàm lượng proline cao hơn so với giai đoạn giai đoạn 20

và 65 NSKS.

Bảng 3.3: Nồng độ proline (µmol/g DW) trong cây lúa ở các giai đoạn sinh trưởng

Nghiệm thức



Thời gian sinh trưởng (NSKS)



Trung bình



20



50



65



Pokkali



4,83a



6,49b



1,66b



4,33a



IR 28



3,99c



4,87d



1,15d



3,34c



OM 5451



4,48b



6,84a



1,93a



4,41a



IR 50404



4,06c



6, 15c



1,43c



3,88b



Giống lúa



11



Nghiệm thức



Thời gian sinh trưởng (NSKS)



Trung bình



20



50



65



Khơng tưới mặn



3,56b



5,08c



0,857c



3,17b



10-20 NSKS



5,08a



6,20b



1,62b



4,30a



45-60 NSKS



3,74b



6,80a



2, 05a



4,20b



10-20 và 45-60 NSKS



4,98a



6,27b



1,65b



4,30a



F(Giống)



**



**



**



**



F(Tưới)



**



**



**



**



F(G x T)



**



**



**



**



7,0



6,0



11,0



4,0



Giai đoạn tưới mặn



CV (%)



Ghi chú: Các số trong cùng một cột có mẫu tự theo sau giống nhau thì khác biệt khơng có ý

nghĩa thống kê khi dùng phép kiểm định Duncan, (**): khác biệt có ý nghĩa thống kê 1%.



Hàm lượng proline trung bình trong trường hợp tưới mặn 1 lần (10-20

NSKS) hoặc tưới 2 lần (10-20 và 45-60 NSKS) cao hơn có ý nghĩa so với

các trường hợp tưới mặn 1 lần lúc 45-60 NSKS và đối chứng. Đối với giống

lúa, giống Pokkali và OM5451 có khả năng tổng hợp proline nhiều hơn so

với giống IR28 và IR50404.

Cây lúa tích lũy nhiều proline trong điều kiện nhiễm mặn để điều chỉnh

thẩm thấu, hạn chế hấp thu và vận chuyển Na+, Cl- từ rễ tới thân cây, nên

tăng khả năng chống chịu mặn. Nồng độ proline tích lũy nhiều ở lần tưới

mặn đầu, sau đó giảm dần ở các lần tưới mặn tiếp theo (Wu et al., 2003).

3.2 Ảnh hưởng của Canxi oxít, KNO3, n-Triacontanol, Brassinolide

và Humate Kali đến sinh trưởng và năng suất lúa trong điều kiện tưới

mặn 4‰ NaCl trong nhà lưới vào giai đoạn 10-20 ngày sau khi sạ

3.2.1 Diễn biến ECe của đất

Giá trị ECe đất của các nghiệm thức gia tăng ở giai đoạn sau tưới mặn,

sau đó giảm dần cho đến khi thu hoạch và khác biệt không ý nghĩa thống kê

(Bảng 3.4). Theo Jan Kotuby-Amacher (2000), ECe của đất từ 0-2 mS/cm

không ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng khi cây phản ứng đối với độ

mặn đất.



12



Bảng 3.4: Giá trị ECe đất (mS/cm) qua các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa

Nghiệm thức



Trước

khi sạ



Sau khi tưới

mặn



Thu hoạch



3,30

3,26

3,34

3,30

3,29

3,34



4,99

5,30

5,18

5,36

5,12

4,92



4,15

4,06

4,09

4,09

4,00

4,08



3,30



4,97



4,01



3,36



5,48



4,08



3,31



4,86



3,96



ns



ns



ns



1,66



4,07



3,93



Đối chứng

Phun KNO3

Bón Humate Kali 60%,

Bón Canxi oxít (CaO)

Phun n-Triacontanol

Phun n-Triacontanol gấp đơi

Bón Humate kali 60%

Phun n-Triacontanol gấp đơi

Bón Canxi oxít (CaO)

Phun n-Triacontanol gấp đôi

Phun Brassinolide

F

CV (%)



Ghi chú: Các số trong cùng một cột có mẫu tự theo sau giống nhau thì khác biệt khơng có ý

nghĩa thống kê khi dùng phép kiểm định Duncan, (ns): khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê.



3.2.2 Thành phần năng suất và năng suất lúa thí nghiệm

3.2.2.1 Số bông/chậu

Số bông/chậu lúc thu hoạch của các nghiệm thức có sự biến thiên từ 11,0

đến13,2 bơng/chậu và khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%

(Bảng 3.5). Các nghiệm thức sử dụng CaO, n-Triacontanol hoặc kết hợp hai

chất CaO và n-Triacontanol cũng cho số chồi cao nhất đồng thời cao hơn đối

chứng 1,95 bông/chậu.

3.2.2.2 Số hạt chắc/bông

Số hạt chắc/bông lúa của các nghiệm thức biến thiên từ 25,8 đến 57,7 hạt

và khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1% (Bảng 3.5). Khi cây lúa

trồng trong điều kiện mặn mà không sử dụng các chất bổ sung như KNO3,

CaO, n-Triacontanol thì làm giảm số hạt chắc/bông khoảng 39,2%. Theo

Gain et al. (2004), nồng độ muối trong đất cao và áp suất thẩm thấu gây ảnh

hưởng tới sự hấp thụ nước và các chất dinh dưỡng của cây lúa. Tuy nhiên,

việc bổ sung các chất như KNO3, CaO, n-Triacontanol, Brassinolide,

Humate kali làm giảm ảnh hưởng mặn đồng thời gia tăng số hạt chắc/bông

nhiều hơn so với đối chứng.

13



3.2.2.3 Trọng lượng 1.000 hạt

Trọng lượng 1.000 hạt của các nghiệm thức trong thí nghiệm biến thiên từ

21,5 đến 22,0 g và khác biệt không ý nghĩa thống kê (Bảng 3.5). Các nghiệm

thức sử dụng tăng cường khả năng chịu mặn dạng bón hoặc phun trong điều

kiện mặn có trọng lượng 1.000 hạt tương tự so với nghiệm thức đối chứng.

Tuy nhiên, Feagley and Fenn (1998), cho rằng bổ sung Ca2+ cho lúa làm gia

tăng đến 15% lượng năng lượng của lá cờ được vận chuyển đến các hạt đang

vào chắc và khi khơng có Ca2+ thì chỉ 5% năng lượng được vận chuyển.

Bảng 3.5: Thành phần năng suất và khối lượng hạt/chậu

Số bông/

chậu



Số hạt

chắc/

bông



Trọng lượng

1000 hạt (g)



Khối lượng

hạt/chậu (g)



Đối chứng



11,0d



25,8c



21,7



5,22c



Phun KNO3



12,7b



57,7a



21,6



13,5a



c



b



21,5



9,27b



Nghiệm thức



Bón Humate Kali 60%



12,3



Bón Canxi oxít (CaO)



12,9ab



56,7a



21,7



13,6a



Phun n-Triacontanol



12,8ab



57,6a



22,0



13,8a



Phun n-Triacontanol gấp đơi



11,1d



28,0c



21,6



5,72c



Bón Humate kali 60%

Phun n-Triacontanol gấp đơi



11,2d



27,2c



21,5



5,57c



Bón Canxi oxít (CaO)

Phun n-Triacontanol gấp đơi



13,2a



55,7a



21,9



13,7a



Phun Brassinolide



12,0c



45,6b



21,6



10,1b



**



**



ns



**



2,24



8,52



1,11



8,69



F

CV (%)



41,3



Ghi chú: Các số trong cùng một cột có mẫu tự theo sau giống nhau thì khác biệt khơng có ý

nghĩa thống kê khi dùng phép kiểm định Duncan; (ns): khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê,

(**): khác biệt có ý nghĩa thống kê 1%.



3.2.2.4 Khối lượng hạt

Khối lượng hạt/chậu của các nghiệm thức biến thiên từ 5,22 đến 13,8

g/chậu, khác biệt có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 1% (Bảng 3.5).

Khối lượng hạt/chậu của nghiệm thức đối chứng là 5,22 g/chậu, giảm

61,8% so với nghiệm thức sử dụng KNO3, CaO, n-Triacontanol và giảm

46,3% so với trường hợp sử dụng Brassinolide, Humate kali. Do trong quá

trình sinh trưởng từ 30 NSKS đến thu hoạch cây lúa sinh trưởng trong môi

14



trường đất bị nhiễm mặn (ECe đất lúc 30 NSKS làà 5,13 mS/cm, ECe đất

đ

thu hoạch 4,02 mS/cm).

Shah et al. (2003), cho rằng bổ sung Ca2+ vào môi trường

ờng sinh trưởng

tr

làm

giảm hấp thu và di chuyển Na+ tới

ới chồi, giảm sốc mặn nhờ gia tăng ngưỡng

ng

chịu mặn khi sự tích lũy proline xảy ra. Sử dụng n-Triacontanol

Triacontanol kích thích

bơm proton H+ để bơm Na+ ra ngoài làm giảm

ảm độc chất muối trong tế bào

b

(Krishnan and Kumari, 2008).

3.2.3 Sự tích lũy proline sau giai đoạn tưới mặn

Theo kết quả Hình 3.1, nồng độ proline của

ủa các nghiệm thức biến thiên

thi từ

3,41 đến 7,98 µmol/g DW (Dry weight: trọng lượng

ợng khơ) và

v khác biệt có ý

nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%. Khi bón Canxi oxít, phun n-Triacontanol,

n

hoặc kết hợp cả hai chất này đã làm tăng hàm lượng

ợng proline trong cây lúc 10

ngày sau khi tưới

ới mặn. Khi bón Humate kali hoặc phun Brassinolide cũng

làm tăng hàm lượng proline trong cây cao hơn so với

ới đối chứng.

Shah et al. (2003), cho rằng bổ sung Ca2+ làm tăng sinh trưởng

trư

của rễ

đồng thời kích thích tích lũy proline trong điều kiện

ện mặn cao. Theo Perveen

et al. (2014), sử dụng n-Triacontanol nồng

ồng độ 20 µM phun lên giống lúa

MH-97 (giống mẫn cảm

ảm mặn) trồng trong dung dịch có chứa 150 mM NaCl

(3,45‰) giúp tăng hàm lượng

ợng proline cao so với đối chứng.



Hình 3.1: Biểu đồ tích lũy proline của các nghiệm thức tư

ưới mặn

Ghi chú:

Nghiệm thức 1

Nghiệm thức 2

Nghiệm thức 3

Nghiệm thức 4

Nghiệm thức 5

Nghiệm thức 6

Nghiệm thức 7



Đối chứng (không xử lý)

Phun KNO3

Bón Humate Kali 60%,

Bón Canxi oxít (CaO)

Phun n-Triacontanol

Phun n-Triacontanol gấp đơi

Bón Humate kali 60%

Phun n-Triacontanol gấp đơi



15



Nghiệm thức 8

Nghiệm thức 9



Bón Canxi oxít (CaO)

Phun n-Triacontanol gấp đơi

Phun Brassinolide



3.3 Ảnh hưởng của Canxi oxít, KNO3, n-Triacontanol, Brassinolide và

HumateKali đến sinh trưởng và năng suất lúa tưới mặn 4‰ NaCl trong

điều kiện ngồi đồng tại huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng

3.3.1 Độ dẫn điện (ECe) của đất qua các giai đoạn

Độ dẫn điện qua các giai đoạn tưới mặn được thể hiện ở Bảng 3.6 cho thấy

sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức. Trị số ECe

trung bình dao động từ 36,29 đến 5,22 mS/cm giữa các nghiệm thức. Nhìn

chung, khi giá trị ECe trong đất ở mức trên 4mS/cm là có ảnh hưởng nhiều

đến sinh trưởng và phát triển của cây lúa sau thời gian dài tưới mặn.

Bảng 3.6: Giá trị ECe (mS/cm) đất qua các giai đoạn sinh trưởng

Trước khi sạ



Sau khi tưới

mặn (30 NSKS)



Thu hoạch



Đối chứng (khơng xử lý)



3,29



5,00



4,69



Phun KNO3



3,34



5,20



4,76



Bón Humate Kali 60%



3,30



5,08



4,48



Bón Canxi oxít (CaO)



3,28



5,09



5,00



Phun n-Triacontanol



3,34



5,22



4,77



Bón Canxi oxít (CaO)

Phun n-Triacontanol gấp đơi



3,30



5,19



4,90



Phun Brassinolide



3,35



5,16



4,54



ns



ns



ns



2,0



5,0



7,0



Nghiệm thức



F

CV (%)



Ghi chú: Các số trong cùng một cột có mẫu tự theo sau giống nhau thì khác biệt khơng có ý

nghĩa thống kê khi dùng phép kiểm định Duncan, (ns): khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê.



Các nghiệm thức được tưới mặn với nồng độ và thời gian như nhau cho

thấy độ mặn khơng có sự thay đổi lớn giữa các nghiệm thức. Việc sử dụng

các chất chưa có ảnh hưởng đến độ mặn trong đất. Theo Grattan et al.

(2002), độ mặn của nước ruộng vượt quá 1,9 mS/cmcó thể làm giảm năng

suất lúa, nhưng các khuyến cáo hiện tại cho thấy mặn ảnh hưởng năng suất

từ 3,0 mS/cmtrở lên.Slinger and Tenison (2007), nhận thấy khi sử dụng

nước tưới có độ mặn với EC > 2 mS/cmsẽ dẫn đến sự suy giảm về năng suất

lúa. Độ mặn nước tưới là rất quan trọng đối với giai đoạn cây mạ và trổ

bông (Fraga et al., 2010).

16



3.3.2 Thành phần năng suất và năng suất

3.3.2.1 Số bông/m2

Ở giai đoạn thu hoạch, số bơng/m2 có sự khác biệt thống kê ở mức ý

nghĩa 1% giữa các nghiệm thức. Số bông lúa/m2 biến thiên từ 385,3481,3 bông/m2 (Bảng 3.7) giữa các nghiệm thức. Các nghiệm thức 2, 4, 5

và 6 có số bông vượt trội và cao hơn từ 54 đến 86 bông/m2 so với nghiệm

thức đối chứng.

Bảng 3.7: Các thành phần năng suất và năng suất của các nghiệm thức

Số

bông/m2



Số hạt

chắc/bông



Trọng

lượng 1.000

hạt (g)



Năng suất

hạt

(tấn/ha)



Đối chứng (khơng xử lý)



395,7b



43,8b



21,5



3,50b



Phun KNO3



470,7a



60,6a



21,9



5,28a



Bón Humate Kali 60%



389,3b



42,4b



21,8



3,42b



Bón Canxi oxít (CaO)



481,3a



57,0a



21,9



5,00a



Phun n-Triacontanol



474,0a



61,3a



22,0



5,34a



Bón Canxi oxít (CaO)

Phun n-Triacontanol gấp đôi



449,7a



58,4a



22,0



4,67a



Phun Brassinolide



385,3b



45,6b



21,6



3,59b



**



**



ns



**



5,02



7,80



1,72



9,20



Nghiệm thức



F

CV (%)



Ghi chú: Các số trong cùng một cột có mẫu tự theo sau giống nhau thì khác biệt khơng có ý

nghĩa thống kê khi dùng phép kiểm định Duncan; (ns): khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê,

(**): khác biệt có ý nghĩa thống kê 1%.



Các nghiệm thức xử lý bằng Canxi oxít, n-Triacontanol, Canxi oxít kết

hợp với phun n-Triacontanol có số bơng/m2 cao nhất và khác biệt có ý nghĩa

thống kê so với các nghiệm thức còn lại. Bởi vì, việc xử lý những chất này

đã làm giảm sự hấp thu Na+ vào trong cây góp phần làm giảm ảnh hưởng bất

lợi của Na+ đối với cây lúa. Theo Khan et al. (2007), sử dụng thạch cao

(CaSO4) với liều lượng 1-2 tấn/ha làm tăng số bông trên m2 và cao hơn so

với đối chứng. Bên cạnh đó, Saha et al. (2013), cho rằng cây lúa được cung

cấp axít humic với liều lượng từ 3-6 lít/ha giúp tăng cường khả năng đẻ

nhánh và đạt được nhiều chồi hữu hiệu.

3.3.2.2 Số hạt chắc/bông

Số hạt chắc/bông ở các nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1%

17



(Bảng 3.7). Kết quả ghi nhận được số hạt chắc/bông ở các nghiệm thức biến

thiên từ 42,4-61,3 hạt. Nghiệm thức 2, 4, 5 và 6 có số hạt chắc/bơng cao nhất

và cao hơn từ 13,2-17,5 hạt/bông so với nghiệm thức đối chứng.

Cây lúa nhiễm mặn được xử lý bằng Canxi oxít, n-Triacontanol, Canxi

oxít kết hợp với phun n-Triacontanol có số hạt chắc/bơng cao nhất và khác

biệt có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại. Sử dụng

triacontanol với các liều lượng khác nhau duy trì hiệu quả chiều dài bông lúa

và tăng số hạt chắc trên bông (Pal et al., 2009). Theo Saha et al. (2013),

phun axít humic với liều lượng từ 3-6 lít/ha cho lúa đã gia tăng tổng số hạt

trên bông, số hạt chắc trên bông.

3.3.2.3 Trọng lượng 1.000 hạt

Trọng lượng 1.000 hạt biến thiên từ 21,5-22,0 g và khác biệt khơng có ý

nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức thí nghiệm (Bảng 3.7). Tuy nhiên, Khan

et al. (2007), cho rằng sử dụng thạch cao ảnh hưởng có ý nghĩa lên trọng lượng

1.000 hạt. Trọng lượng hạt tối đa bằng 22,7-22,8 g khi sử dụng thạch cao từ 1-2

tấn/ha và cao hơn so với đối chứng. Ngồi ra, sử dụng axít humic với liều lượng

từ 3-6 lít/ha dẫn đến tăng trọng lượng 1.000 hạt (Saha et al., 2013).

3.3.2.4 Năng suất thực tế

Năng suất lúa giảm xuống rõ rệt dưới ảnh hưởng của mặn. Tuy nhiên,

việc xử lý các hợp chất trong thí nghiệm đã làm giảm tác động của mặn đối

với năng suất lúa. Năng suất lúa dao động từ 3,50 đến 5,34 tấn/ha và khác

biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1% (Bảng 3.7). Các nghiệm thức bón Canxi

oxít, phun n-Triacontanol, bón Canxi oxít kết hợp với phun n-Triacontanol

cho năng suất trung bình cao nhất (5,0 tấn/ha) trong điều kiện tưới mặn tạm

thời, cao hơn 1,6 tấn/ha so với đối chứng.

Cung cấp Ca2+ phù hợp cùng với dưỡng chất khác cho cây có thể giảm

nhẹ độc hại của mặn (Aslam et al., 2000). Khan et al. (2007), đã báo cáo

rằng năng suất lúa đạt được từ 5,27-5,47 tấn/ha khi sử dụng thạch cao từ 1-2

tấn/ha và cao hơn so với đối chứng (4,81 tấn/ha). Sử dụng n-Triacontanol ở

các liều lượng khác nhau làm cho cây lúa đạt được năng suất cao (Pal et al.,

2009). Theo Saha et al. (2013), sử dụng axít humic với liều lượng từ 3-6

lít/ha đã làm tăng năng suất lúa và chỉ số thu hoạch. Nghiên cứu của Dileep

et al. (2014), cho thấy sử dụng humate kali ở liều lượng 10 mg/kg đất làm

tăng năng suất lúa 37,2% so với đối chứng.

3.4 Ảnh hưởng của Canxi oxít, KNO3, n-Triacontanol, Brassinolide

và Humate Kali đến sinh trưởng và năng suất lúa trên đất nhiễm mặn

tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

3.4.1 Đặc tính hố học đất tại các thời điểm quan sát

18



Kết quả khảo sát tầng 0-20 cm trong Bảng 3.8 cho thấy đất chỉ bị ảnh

hưởng mặn ở giai đoạn từ 0-20 ngày sau sạ. Giá trị ECe dao động từ 4,21

mS/cm đến 4,99 mS/cm; cao nhất ở đầu vụ 4,99 mS/cm và thấp nhất khi thu

hoạch 2,29 mS/cm. Giá trị ECe có xu hướng giảm theo thời gian do lượng

mưa nhiều làm giảm độ mặn trong nước ruộng và nước kênh. Nghiên cứu

của Lê Hồng Việt và ctv. (2015), cho thấy giá trị ECe đất dao động từ 0,6 đến

3,0 mS/cm vào giữa mùa khô và từ 0,5 đến 2,0 mS/cm vào đầu mùa mưa.

Bảng 3.8: Giá trị pH, ECe đất ở độ sâu 0-20 cm của nghiệm thức đối chứng

tại các thời điểm quan sát

Thời điểm quan sát

Chỉ tiêu quan sát



NTKS



20 NSKS



45 NSKS



65 NSKS



Thu

hoạch



pH



4,21



4,37



4,53



4,69



5,10



ECe (mS/cm)



4,99



4,37



2,72



2,52



2,29



Kết quả Bảng 3.8 cho thấy pH đất dao động từ 4,21-5,10; giá trị pH cao

nhất vào lúc thu hoạch. Theo thang đánh giá Brady (1990) (trích dẫn từ

Ngơ Ngọc Hưng và ctv., 2004) thì pH tầng này thuộc chua mạnh đến chua

vừa. Tuy nhiên, khoảng pH này vẫn đảm bảo cho cây lúa sinh trưởng và

phát triển bình thường.

3.4.2 Ảnh hưởng của các hợp chất lên các thành phần năng suất và

năng suất lúa

3.4.2.1 Số bơng/m2

Số bơng/m2 có sự khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 5% giữa các nghiệm

thức. Số bông lúa của các nghiệm thức ở Bảng 3.9 biến thiên từ 320-402

bơng/m2. Nghiệm thức 8 có số bơng cao nhất (402 bơng/m2) và nghiệm thức

đối chứng có số bơng thấp nhất (320 bơng/m2). Nghiệm thức bón CaO kết

hợp phun KNO3 hoặc xử lý kết hợp CaO + KNO3 + brassinolide có số bơng

cao nhất và khác biệt thống kê so với các nghiệm thức còn lại.

Nghiên cứu của Dileep (2014), cho thấy bổ sung Humate kali 10 mg/kg

đất cùng với 12,5 mg kẽm/kg đất và NPK (60, 30, 30 mg/kg) làm tăng có ý

nghĩa chiều cao cây, số chồi, chiều dài bông, trọng lượng hạt, trọng lượng

rơm và năng suất lúa.

3.4.2.2 Số hạt chắc/bông

Số hạt chắc/bông ở các nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức

5% (Bảng 3.9). Kết quả ghi nhận được số hạt chắc/bông ở các nghiệm thức

biến thiên từ 83,9-95,1 chắc/bông. Nghiệm thức 9 có số hạt chắc/bơng cao

19



nhất (95,1 hạt/bơng), nghiệm thức 8 có số hạt chắc/bơng thấp nhất (83,9

hạt/bơng). Theo Zeng and Shannon (2000b), số hạt/bông giảm ở độ mặn 3,4

mS/cm hoặc cao hơn. Tương tự, Zaibunnisa et al. (2002), cũng cho rằng số

hạt chắc/bông giảm ở nồng độ mặn 5‰ (7,8 mS/cm).

Bảng 3.9: Các thành phần năng suất và năng suất lúa của các nghiệm thức

Thành phần năng suất

Nghiệm

thức



Cách xử lý



Số

bông/

m2



Số hạt

chắc/

bơng



Trọng

lượng

1000

hạt (g)



Năng suất

thực tế

(tấn/ha)



1



Đối chứng



320c



87,2bc



24,3



6,13c



2



Phun KNO3



380ab



92,5ab



24,7



7,25a



3



Phun n-Triacontanol



345abc



90,5abc



24,6



7,28a



4



Phun brassinolide



358abc



86,2bc



24,5



6,57 bc



5



Bón Canxi oxít (CaO)



349abc



89,3abc



24,4



6,50bc



a



abc



24,7



7,45a



379ab



91,1ab



24,4



7,33a



6



CaO + KNO3



394



7



CaO + brassinolide



8



CaO + KNO3+ brassinolide



402a



83,9c



24,2



6,85ab



9



Bón Humate Kali 60%



324bc



95,1a



24,8



6,90ab



*



*



ns



**



9,76



4,70



2,00



5,87



F

CV (%)



88,8



Ghi chú: Các số trong cùng một cột có mẫu tự theo sau giống nhau thì khác biệt khơng có ý

nghĩa thống kê khi dùng phép kiểm định Duncan; (ns): khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê,

(*): khác biệt có ý nghĩa thống kê 5%, (**): khác biệt có ý nghĩa thống kê 1%.



3.4.2.3 Trọng lượng 1.000 hạt

Trọng lượng 1.000 hạt của 9 nghiệm thức thí nghiệm biến thiên từ 24,2-24,8

g và khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (Bảng 3.9).

3.4.2.4 Năng suất thực tế

Việc xử lý các hợp chất trong thí nghiệm đã làm giảm thiệt hại của mặn

đối với năng suất lúa. Năng suất của các nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa

thống kê ở mức 1% (Bảng 3.9).Năng suất của các nghiệm thức trong thí

nghiệm biến thiên từ 6,13-7,45 tấn/ha. Nghiệm thức bón CaO kết hợp phun

KNO3 cho năng suất cao nhất (7,45 tấn/ha), cao hơn so với đối chứng (1,32

tấn/ha). Các nghiệm thức phun KNO3, n-Triacontanol, bón CaO kết hợp

phun KNO3 và brassinolide, bón CaO kết hợp phun brassinolide, bón

Humate kali cũng cho năng suất cao hơn so với đối chứng.

20



Phun KNO3 làm tăng cao mức độ K+ trong mơ non đang phát triển gắn

liền với tính chống chịu mặn (Khatun and Flowers, 1995a). Ở tế bào chất có

sự cân bằng với nồng độ K+ cao hơn thường gia tăng tính chịu mặn

(Hajibagheri et al., 1989). Cung cấp Ca2+ phù hợp với dưỡng chất khác cho

cây có thể giảm nhẹ độc hại của mặn, mức độ cao của Ca2+ bên ngồi có thể

gia tăng sự sinh trưởng và loại trừ Na+ ở rễ cây tiếp xúc với mặn (Aslam et

al., 2000). Humate kali thúc đẩy phản ứng hóa học để trao đổi cation, tăng

pH đệm, ràng buộc và cô lập các yếu tố độc hại và tăng tốc vận chuyển các

chất dinh dưỡng cho cây trồng (Shujrah, 2010).

3.5 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm và chế độ tưới lên sinh

trưởng và năng suất lúa trên đất nhiễm mặn tại huyện Long Mỹ, tỉnh

Hậu Giang

3.5.1 Sự biến động của pH, ECe đất trong thí nghiệm

Kết quả Bảng 3.10 cho thấy, pH đất dao động từ 4,23 đến 5,10 ở độ sâu

0-20 cm. Ở độ pH này cây lúa có thể sinh trưởng và phát triển bình thường.

Chanratchakool et al. (1995), nhận định rằng pH đất ruộng có ảnh hưởng đến

pH của nước ruộng, nhất là đất phèn tiềm tàng. Trị số pH ở độ sâu 20-40

cmtương đương với pH ở tầng mặt, ngưỡng pH này chưa ảnh hưởng nhiều

đến sinh trưởng và phát triển của cây lúa.

Giá trị ECe đất khá cao ở đầu vụ sau đó giảm dần từ giai đoạn 45 NSKS

và dao động trong khoảng 2,32-4,96 mS/cm (Bảng 3.10) ở độ sâu 0-20 cm.

Theo phân cấp đất mặn của Tôn Thất Chiểu và ctv. (1991), giá trị ECe đất từ

2-4 mS/cm được đánh giá là đất mặn trung bình. Đối với độ sâu 20-40 cm,

giá trị ECe dao động từ 2,49-5,19 mS/cm, cao hơn so với giá trị ECe ở tầng

mặt. Sự khác biệt này có thể là do ảnh hưởng bởi mạch nước ngầm bị nhiễm

mặn có nồng độ muối cao dẫn đến ECe cao (Ngơ Ngọc Hưng và ctv., 2004).

Bảng 3.10: Đặc tính pH, ECe trong đất thí nghiệm ở độ sâu 0-20 cm và 20-40 cm

Độ sâu 0-20 cm

Giai đoạn



Độ sâu 20-40 cm



pH



ECe

(mS/cm)



pH



ECe

(mS/cm)



Đầu vụ



4,23



4,96



4,32



5,09



20 NSKS



4,46



4,38



4,30



5,19



45 NSKS



4,57



2,73



4,31



2,56



65 NSKS



4,78



2,56



4,50



2,79



Cuối vụ



5,10



2,32



4,70



2,49



21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.2: Thành phần năng suất và khối lượng hạt/chậu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×