Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

22

Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 năm trƣớc và kết thúc vào tháng 4 năm sau.

Vào mùa mƣa, do điều kiện mặt đệm và địa hình chia cắt mạnh kết hợp

với mƣa lớn dễ gây ra lụt lội, lũ quét ảnh hƣởng đến sản xuất và sinh hoạt của

ngƣời dân. Độ ẩm trung bình năm khoảng 75 - 86%, cao nhất vào các tháng 7

và 8. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23 độ C, cao nhất là 28độ C, thấp nhất

là 17,2 độ C. Khí hậu Lạc Thuỷ lạnh nhất từ giữa tháng 11 năm trƣớc đến

tháng 2 năm sau.

+ Tình hình phân bố, sử dụng đất

Cơ cấu đất của Lạc Thuỷ gồm:

- Diện tích đất nơng nghiệp là 5.455 ha (chiếm 18,6% diện tích của

huyện).

- Đất lâm nghiệp có rừng là 12.766 ha (chiếm 43,51%).

Về mặt chất lƣợng, nhìn chung tầng đất canh tác nơi đây mỏng, có

nguồn gốc hình thành từ đá vơi, granít, sa thạch, trầm tích... Kết quả phân tích

định lƣợng cho thấy: lớp đất ở Lạc Thuỷ có độ phì khá, thuận lợi cho phát

triển các loại cây công nghiệp và cây ăn quả.

Rừng ở Lạc Thuỷ có chủng loại cây phong phú và đa dạng: bƣơng, tre,

nứa, mây, song, cây dƣợc liệu q... Trong rừng có nhiều lồi thú q sinh

sống nhƣ: hổ, báo, gấu, trăn, rắn, hƣơu, nai...

+ Tài nguyên khoáng sản, tiềm năng du lịch tâm linh

Nguồn tài nguyên khoáng sản đáng kể nhất của Lạc Thuỷ là cát vàng,

đá, sỏi. Cát vàng đƣợc khai thác chủ yếu ở ven sông Bôi; sỏi tập trung ở các

xã Phú Lão, Đồng Tâm và An Lạc; đá tập trung ở các xã Phú Lão (với trữ

lƣợng khoảng 195.000 m3), Đồng Tâm (33.000 m3), Khoan Dụ (20.000 m3).

Ngồi ra, ở Lạc Thuỷ còn có một số mỏ khống sản khác, nhƣng trữ lƣợng

nhỏ nhƣ: mỏ than đá ở Lạc Long, Xã Chi Nê, Đồng Mơn mỗi năm có thể khai

thác khoảng 2.000 tấn; mỏ ăngtimoan, thuỷ ngân ở xã An Bình với trữ lƣợng

không đáng kể.

Huyện Lạc Thuỷ đƣợc thiên nhiên ƣu đãi về cảnh quan thiên nhiên và

có nhiều di tích kỳ thú nhƣ chùa Tiên (xã Phú Lão), hang Đồng Nội (xã Đồng



23

Tâm), hồ Đá Bạc (xã Phú Thành) ... là những địa danh hấp dẫn du khách

trong và ngoài nƣớc đến tham quan. Bên cạnh đó, Lạc Thuỷ còn có cảnh quan

môi trƣờng độc đáo của một huyện chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng,

có nhiều cảnh đẹp có thể phát triển thành những khu điều dƣỡng có giá trị cao.

2.1.2. Đ ều kiện kinh tế xã h i

+ Tình hình dân số và lao động của huyện

Lao động của huyện Lạc Thủy chủ yếu là lao động trong ngành nông

lâm ngƣ nghiệp 25.497 (chiếm 85,15%). Lao động thƣơng mại dịch vụ 3.762

ngƣời (chiếm 12,56%), lao động công nghiệp xây dựng là 685 ngƣời (chiếm

2,29%) năm 2014.

Lao động trong lĩnh vực nhà nƣớc là 3.353 ngƣời (chiếm 11,2%). Lao

động ngoài nhà nƣớc chiếm tỷ lệ lớn 26.517 ngƣời (chiếm 88,56%).

Bảng 2. 1. Tình hình dân số và l o ộng huyện Lạc Thủy

TT



1



Chỉ tiêu theo lao động

có việc làm

Tổng số

Tổng số lao động

Phân theo giới tính

- Nam

- Nữ



2



2015



2016



Số lƣợng

(ngƣời)



Cơ cấu (%)



Số lƣợng

(ngƣời)



Cơ cấu (%)



30.064



100,00



29.944



100,00



15.879



52,82



15.986



53,39



14.185



47,18



13.958



46,61



1.572

28.492



5,23

94,77



1.575

28.369



5,26

94,74



25.795

590

3.679



85,80

1,96

12,24



25.497

685

3.762



85,15

2,29

12,56



3333

26681

29



11,09

88,75

0,10



3.353

26.517

54



11,20

88,56

0,18



Phân theo thành thị nông thôn



- Thành thị

- Nông thôn

3

Phân theo ngành

- Nông lâm ngƣ nghiệp

- Cơng nghiệp xây

- Thƣơngdựng

mại dịch vụ

Phân theo loại hình

4

kinh tế

- Lao động trong nhà

nƣớc

- Lao động

ngoài nhà

- Vốn nƣớc

nƣớc ngoài



24

Biểu ồ 2. 1 Số liệu phân loại Giới theo Nhân khẩu & Số l o ộng có việc

làm trên ịa bàn huyện Lạc Thuỷ năm 2015-2016.

Năm 2015

60000



50000



40000



27,456



30000

14,185



20000

26268

10000



15,879



0

Lao động có VL



Nhân khẩu

Nam



Nữ



Năm 2016

60,000



50,000



40,000



27,591



30,000

13,958

20,000

26,756

10,000



15,986



,0

Lao động có VL



Nhân khẩu

Nam



Nữ



(Báo cáo Phòng Tổng hợp Lạc Thuỷ – 2015,2016)

Tổng số lao động có việc làm trong tuổi lao động năm 2015 là 29.944

ngƣời trong đó nam 15.986 ngƣời (chiếm 53,39%), nữ 13.958 ngƣời chiếm



25

46,61%). Với tỷ lệ Nhân khẩu chiếm gần gấp đôi chứng tỏ hiệu quả lao động

có việc làm tại địa phƣơng chƣa cao, có tình trạng lao động phải rời địa

phƣơng đi làm xa.

Ngoài ra qua biểu đồ 2.2 cho thấy, năm 2016 tồn huyện có tổng nhân

khẩu là 54.347 ngƣời trong đó chủ yếu tập trung ở vùng nơng thơn với 49.822

ngƣời chiếm tỷ lệ 91,67%, thành thị thấp hơn là 4.525 ngƣời chiếm 8,33%.

Biểu ồ 2. 2 Số liệu phân loại Thành thị/Nông thôn theo Nhân khẩu & Số

l o ộng có việc làm trên ịa bàn huyện Lạc Thuỷ năm 2015-2016.



Năm 2015

60,000

50,000

40,000

30,000



49,553



20,000

28,492

10,000

,0



4,456



1,572

Lao động có

Nhân khẩu

Thành thị VLNơng thơn



Năm 2016



60,000

50,000

40,000

30,000



49,822



20,000

28,369

10,000

,0



4,525



1,575

Lao động có

Nhân khẩu

Thành thị VLNơng thơn



(Báo cáo Phòng Tổng hợp Lạc Thuỷ – 2015,2016)



26



+Tiềm lực về phát triển kinh tế huyện (trích nguồn Phòng Tổng hợp

huyện Lạc Thuỷ - Báo cáo năm 2015, năm 2016)

Ngành trồng trọt.

Ở Lạc Thuỷ, sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu, chiếm tỷ

trọng lớn trong cơ cấu kinh tế. Giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp chiếm

đến 45% tổng giá trị thu nhập quốc dân trên địa bàn.

Tuy nhiên, cho đến nay, hiệu quả thu đƣợc trên 1 ha trồng cây hàng

năm ở Lạc Thuỷ còn rất khiêm tốn (bình qn chỉ đạt 5 – 6,5 triệu

đồng/ha/năm), thu nhập bình quân một lao động nông nghiệp chỉ đạt 1,82

triệu đồng. Đây là những con số còn khiêm tốn, chứng tỏ hiệu suất sử dụng

đất nông nghiệp chƣa đạt hiệu quả cao, chƣa tƣơng xứng với tiềm năng phát

triển của huyện. Trong các năm vừa qua, diện tích gieo trồng hầu nhƣ thay đổi

khơng đáng kể, duy trì ở mức 6.500 ha. Diện tích lúa và màu cả năm là 4.907

ha. Năng suất cây trồng, cụ thể là cây lúa, đã có sự chuyển biến tích cực nên

đã đƣa tổng sản lƣợng lƣơng thực năm 2015 tăng lên 20.912 tấn. Ngồi lúa,

ngơ còn có một số loại cây lƣơng thực khác cho năng suất cao nhƣ: khoai tây,

khoai lang...

Trong số các loại cây công nghiệp ngắn ngày ở Lạc Thuỷ, đáng chú ý

nhất là cây đậu tƣơng và cây lạc. Diện tích lạc năm 2015 là 501 ha, sản lƣợng

đạt 706 tấn. Cây đậu tƣơng có diện tích 185 ha, sản lƣợng đạt 293 tấn.

Đất đai, khí hậu ở Lạc Thuỷ cho phép phát triển mạnh hai loại cây này,

khơng những có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng về thực phẩm tại chỗ mà còn

có thể tạo ra nơng sản hàng hố, trao đổi với bên ngồi. Ngồi đậu tƣơng và

lạc là cây chủ lực, trong những năm qua, Lạc Thuỷ còn đẩy mạnh việc phát

triển thêm một số loại cây khác nhƣ mía, vừng...

Cây cơng nghiệp dài ngày nổi bật ở Lạc Thuỷ là chè. Hàng năm, sản

lƣợng búp chè tƣơi đạt 724 tấn. Các loại cây ăn quả ở Lạc Thuỷ chủ yếu đƣợc

trồng trong các vƣờn tạp, ít đƣợc cải tạo theo hƣớng thâm canh. Cho đến nay,



27

cây ăn quả ở Lạc Thuỷ vẫn có sản lƣợng thấp, chất lƣợng chƣa cao. Các loại

cây ăn quả tƣơng đối điển hình, mang lại lợi nhuận cao ở Lạc Thuỷ hiện nay

gồm nhãn, vải, cam, quýt. Năm 2014, diện tích các cây nhãn và vải đạt 206

ha, cam và quýt là 20 ha.

Ngành chăn nu i. Trong các năm gần đây, giá trị sản xuất ngành chăn

nuôi ở Lạc Thuỷ có chiều hƣớng tăng khá nhanh: năm 2014 đạt 14,23 tỷ

đồng; năm 2015 là 13,52 tỷ đồng. Tồn huyện có những giống vật nuôi chủ

lực nhƣ: trâu là 6.530 con, đàn bò là 3.863 con, đàn lợn là 16.942 con, đàn dê

là 7.436 con, ngồi ra còn có đàn gia cầm.

Do điều kiện tự nhiên, Lạc Thuỷ có lợi thế để phát triển thuỷ sản gia

đình. Trong thời gian qua, huyện đã khuyến khích sản xuất thuỷ sản theo mơ

hình nghề cá nhân dân. Nghề cá phát triển với nhiều mơ hình nhƣ: ni cá với

trồng lúa, ni cá ao hồ nhỏ, nuôi cá lồng trên sông suối, nuôi cá nƣớc chảy

và nuôi cá mặt nƣớc lớn dạng hồ chứa. Ngƣời dân tự bỏ vốn đầu tƣ cho sản

xuất, Nhà nƣớc đầu tƣ cho ngành chƣa nhiều.

Ngành c ng nghiệp và tiểu thủ c ng nghiệp

Trong sản xuất công nghiệp, trong những năm gần đây, doanh nghiệp

nhà nƣớc đã đƣợc huyện sắp xếp lại theo hƣớng phù hợp với nền kinh tế thị

trƣờng. Giá trị sản lƣợng và các sản phẩm chủ yếu của ngành sản xuất công

nghiệp và tiểu thủ công nghiệp hàng năm đều tăng. Tuy vậy, tỷ trọng cơng

nghiệp trong cơ cấu kinh tế của huyện còn thấp (chiếm khoảng 10% tổng giá

trị sản xuất toàn huyện). Năm 2014, giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng

đạt 6,857 tỷ đồng. Tuy nhiên, sản xuất tiểu thủ công nghiệp của Lạc Thuỷ còn

manh mún và nhỏ, chƣa có sản phẩm mang tính hàng hố, chủ yếu là tiêu thụ

tại chỗ.

Sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp Lạc Thuỷ là đá hộc (15 ngàn

m3), cát, sỏi (40 - 50 ngàn m3), gạch xây dựng (2 triệu viên), xay xát lƣơng



28

thực (15 ngàn tấn); một số sản phẩm chế biến từ gỗ nhƣ ván sàn, bàn ghế và

các sản phẩm may mặc, các loại đồ uống, rƣợu...

Năm 2014, một số cơ sở sản xuất công nghiệp ở Lạc Thuỷ đã mạnh

dạn liên doanh với bên ngoài trong chuyển giao kỹ thuật, cung ứng nguyên

vật liệu và tiêu thụ sản phẩm. Nhờ thế, ở Lạc Thuỷ đã xuất hiện những sản

phẩm mới, những ngành nghề mới, bƣớc đầu có tính cạnh tranh.

+ Cơ sở hạ tầng của huyện

Trong những năm qua, nhờ sự hỗ trợ của Trung Ƣơng, huyện Lạc Thuỷ

đã nỗ lực phấn đấu xây dựng nhiều cơng trình quan trọng nhƣ: hệ thống cung

cấp nƣớc sạch sinh hoạt cho thị trấn Chi Nê, sửa chữa hồ Yên Bồng 2, sân

vận động huyện, hồ Đầm Khánh, hệ thống điện hạ thế, trƣờng học, chợ trung

tâm, cầu An Phú. Ban chỉ đạo cấp huyện đã tổ chức thi công một số cơng

trình thuỷ lợi sử dụng vốn Chƣơng trình 135 nhƣ các cơng trình ngầm Đại

Thắng, Ninh Hội, Thắng Lợi, hệ thống thốt nƣớc Đồng Mơn. Giá trị thực

hiện xây dựng cơ bản qua các năm đều đạt trên 7 tỷ đồng (năm 2001 đạt 7,5

tỷ đồng). Nguồn vốn xây dựng cơ bản đƣợc hình thành từ ngân sách, tài trợ,

Chƣơng trình 135.

Hệ thống điện, thơng tin liên lạc

Huyện Lạc Thuỷ có tuyến quốc lộ 21A chạy qua với chiều dài 30 km

đã giúp nối liền trung tâm huyện lỵ với cả 13 xã, đồng thời nối huyện Lạc

Thuỷ với thị xã Hồ Bình, với quốc lộ 1A (giao cắt tại thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà

Nam). Tuyến đƣờng huyết mạch này khơng những có vai trò quan trọng đối

với tỉnh Hồ Bình mà còn có ý nghĩa chiến lƣợc đối với quá trình phát triển

kinh tế - xã hội của huyện Lạc Thuỷ. Trong tƣơng lai, quốc lộ 21A sẽ là trục

tăng trƣởng kinh tế của huyện Lạc Thuỷ.

Tỉnh lộ 438 tiếp nối với quốc lộ 21A ở thị trấn Chi Nê và đi Nho Quan

(Ninh Bình), đoạn qua địa phận Lạc Thuỷ tuy chỉ dài 7 km, nhƣng là tuyến



29

đƣờng tạo ra sự giao lƣu giữa Lạc Thuỷ với các địa phƣơng thuộc tỉnh Ninh

Bình và phía bắc tỉnh Thanh Hố.

Hệ thống đƣờng giao thơng nơng thơn ở Lạc Thuỷ còn rất hạn chế.

Theo thống kê, cả huyện hiện có chừng 260 km đƣờng giao thơng nơng thơn,

trong đó có hơn 100 km rải vật liệu cứng, số còn lại là đƣờng đất, đƣờng mòn.

Cùng với hệ thống đƣờng bộ, huyện Lạc Thuỷ còn có 15 km đƣờng

thuỷ chạy dọc theo sông Bôi, qua địa bàn của 5 xã. Tuyến đƣờng thuỷ này

tƣơng đối thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá với khối lƣợng lớn và giao

lƣu giữa các xã.

Thời gian qua, Lạc Thuỷ đã tích cực thực hiện chủ trƣơng chuyển đổi

cơ chế quản lý ngân sách trong tình hình mới. Huyện đã chú trọng khai thác

các nguồn thu nhƣ thuế nghề rừng, phí, lệ phí, huy động sự đóng góp của

nhân dân... Tuy nhiên, là một trong số các huyện miền núi của tỉnh Hoà Bình

có nền kinh tế còn chậm phát triển, trong đó có 5/13 xã thuộc diện đặc biệt

khó khăn, thu khơng bù đủ chi, nên việc chi ngân sách ở Lạc Thuỷ vẫn chủ

yếu dựa vào trợ cấp của tỉnh và Trung ƣơng. Ngân sách của tỉnh trợ cấp cho

huyện hàng năm thƣờng từ 4 đến 5 tỷ đồng, gấp 5 lần tổng thu trên địa bàn.

Trong những năm trƣớc đây, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt khoảng 2 tỷ

đồng/năm. Từ năm 2014, do bỏ khoản thu thuế sử dụng đất nông nghiệp, nên

nguồn thu ngân sách của Lạc Thuỷ chủ yếu là từ ba nguồn: thu ngoài quốc

doanh (trên dƣới 500 triệu đồng/năm), thu từ việc giao đất, giao rừng (548

triệu đồng/năm), thu từ các xí nghiệp quốc doanh (30 - 40 triệu đồng/năm).

Hệ thống tín dụng. Thời gian qua, Lạc Thuỷ đã tích cực thực hiện chủ

trƣơng chuyển đổi cơ chế quản lý ngân sách trong tình hình mới. Huyện đã

chú trọng khai thác các nguồn thu nhƣ thuế nghề rừng, phí, lệ phí, huy động

sự đóng góp của nhân dân... Tuy nhiên, là một trong số các huyện miền núi

của tỉnh Hồ Bình có nền kinh tế còn chậm phát triển, trong đó có 5/13 xã

thuộc diện đặc biệt khó khăn, thu khơng bù đủ chi, nên việc chi ngân sách ở



30

Lạc Thuỷ vẫn chủ yếu dựa vào trợ cấp của tỉnh và Trung ƣơng. Ngân sách của

tỉnh trợ cấp cho huyện hàng năm thƣờng từ 4 đến 5 tỷ đồng, gấp 5 lần tổng

thu trên địa bàn. Trong những năm trƣớc đây, tổng thu ngân sách trên địa bàn

đạt khoảng 2 tỷ đồng/năm. Từ năm 2001, do bỏ khoản thu thuế sử dụng đất

nông nghiệp, nên nguồn thu ngân sách của Lạc Thuỷ chủ yếu là từ ba nguồn:

thu ngoài quốc doanh (trên dƣới 500 triệu đồng/năm), thu từ việc giao đất,

giao rừng (548 triệu đồng/năm), thu từ các xí nghiệp quốc doanh (30 - 40

triệu đồng/năm).

Trong những năm qua, hệ thống ngân hàng, tín dụng trong huyện đã có

nhiều cố gắng nhằm huy động đƣợc các nguồn vốn, tích cực huy động vốn

nhàn rỗi trong dân, bám sát các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa

phƣơng, kịp thời mở rộng mạng lƣới đến các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng

xa. Ngành ngân hàng, tín dụng cũng đã tích cực đổi mới phƣơng thức huy

động vốn và cho vay nên cơ bản đáp ứng đƣợc nhu cầu về vốn cho nhân dân

trong việc phát triển kinh tế - xã hội và xố đói giảm nghèo, mở rộng phát

triển sản xuất.

ệ thống thương mại, dịch vụ trên địa bàn đã đƣợc bố trí, sắp xếp lại

theo hƣớng phù hợp hơn với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định

hƣớng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, hệ thống các dịch vụ đã phát triển về loại

hình, nhanh gọn về thủ tục. Đặc biệt, huyện đã thành lập đƣợc Trung tâm

Thƣơng mại ở thị trấn Chi Nê.

+ Các vấn đề an sinh xã hội.

Giáo dục

Theo số liệu thống kê năm 2014, toàn huyện có 43 trƣờng học ở các

cấp, có nhiều xã, Xã đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xoá nạn mù

chữ. Chất lƣợng giáo dục đƣợc nâng cao, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt khá.

Trong những năm qua, huyện đã đầu tƣ hàng tỷ đồng vào việc nâng cấp, xây

dựng trƣờng lớp cũng nhƣ các trang thiết bị phục vụ giảng dạy.



31



Hệ thống y tế.

Công tác y tế ở Lạc Thuỷ thƣờng xuyên nhận đƣợc sự quan tâm của các

Cấp uỷ Đảng và chính quyền cả về tổ chức bộ máy và đầu tƣ kinh phí. Huyện

đã tiến hành quy hoạch mạng lƣới y tế cơ sở theo hƣớng nâng cao chất lƣợng

khám chữa bệnh. Theo đó, mạng lƣới y tế cơ sở đã đƣợc tăng cƣờng và đầu tƣ

nâng cấp. Đến nay, ở Lạc Thuỷ có 100% xã có trạm y tế đƣợc xây dựng kiên

cố. Số lƣợng y, bác sĩ ngày một tăng. Thực hiện chiến lƣợc đào tạo lại cán bộ,

cơng chức của Chính phủ, những năm vừa qua, nhiều cán bộ có trình độ

chuyên môn chƣa đạt chuẩn đã đƣợc gửi đi đào tạo lại ở cả ba cấp: huyện,

tỉnh và trung ƣơng. Năm 2000, ngành y tế đã khám và phát thuốc miễn phí

cho hàng ngàn lƣợt ngƣời. Các chƣơng trình y tế quốc gia chăm sóc sức khoẻ

cho nhân dân, phòng dịch bệnh nguy hiểm nhƣ sốt rét, lao, bƣớu cổ đƣợc thực

hiện tốt.

2.1.3. Đ n g



ung



Ưu điểm

Hội LHPN từ huyện đến cơ sở luôn nhận đƣợc sự quan tâm chỉ đạo của

Thƣờng trực Hội, Ban Thƣờng vụ, các ban chuyên môn Hội LHPN tỉnh; sự

quan tâm của các Cấp ủy Đảng, chính quyền các xã, thị trấn; sự chủ động

phối hợp với các ban, ngành đoàn thể, sự đoàn kết thống nhất trong tổ chức

Hội, sự đồng tình hƣởng ứng của hội viên, phụ nữ. Đội ngũ cán bộ Hội tích

cực, nhiệt tình trong cơng tác, đồn kết thống nhất trong hành động để tổ chức

hoạt động công tác Hội và phong trào phụ nữ đạt hiệu quả.

Điều kiện tự nhiên dồi dào, đƣợc thiên nhiên ƣu đãi nhiều kỳ quan

thiên nhiên, nếu tận dụng đƣa vào khai thác sẽ giúp phát triển kinh tế vững

mạnh.

Các cấp Hội đổi mới nội dung phƣơng pháp chỉ đạo và tổ chức thực

hiện, lựa chọn nhiệm vụ trọng tâm, ƣu tiên hoạt động hƣớng về cơ sở, tổ chức

nhiều hoạt động thiết thực đáp ứng nhu cầu nguyện vọng hội viên.



32

Các vấn đề liên quan đến an sinh xã hội đã có 1 số thành tựu đem lại sự

đóng góp nhất định vào phát triển kinh tế tại địa phƣơng. Trong thời gian tới

địa phƣơng ngoài tập trung phát triển kinh tế cũng cần nâng cao hơn chất

lƣợng giáo dục đào tạo cũng nhƣ vấn đề liên quan đến y tế - sức khoẻ.

Tồn tại hạn chế

Chế độ thông tin báo cáo ở một số ít cơ sở chƣa kịp thời, đầy đủ, chƣa

đánh giá đƣợc kết quả hoạt động công tác Hội và phong trào phụ nữ địa

phƣơng.

Điều kiện kinh tế xã hội chƣa đồng đều ở các địa phƣơng, các địa

phƣơng nằm xa trung tâm còn gặp nhiều khó khăn cho công tác tuyên truyền,

dẫn đến nhận thức ở 1 số bộ phận ngƣời dân còn gặp nhiều hạn chế gây khó

khăn cho cơng tác tun truyền, giáo dục ngay tại địa phƣơng.

Kinh phí hoạt động cấp cơ sở còn hạn chế nên khó khăn trong việc triển

khai, hoạt động. Đội ngũ cán bộ Chi, Tổ Hội chƣa có chế độ phụ cấp nên ít

nhiều còn hạn chế trong tƣ tƣởng, cơng việc.

Ngồi ra thời tiết thất thƣờng, mùa mƣa hay có bão đi kèm với lũ lụt

khiến cho thiệt hại về hoa màu, ngƣời, gia súc gia cầm gây khó khăn cho địa

phƣơng trong phát triển kinh tế.

Phƣơng ph p nghiên cứu



2.2.

2.2.1.



ương p



p



ọn



ểm nghiên cứu.



Căn cứ vào điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế xã hội đã chia huyện

thành 03 cụm xã (3 tiểu vùng), do đó trong nghiên cứu đề tài đã lựa chọn mỗi

cụm xã 01 xã đại diện để điều tra, gồm:

1. Xã An Bình: nghiên cứu chọn mẫu đại diện các xã vùng 3 (vùng sâu,

vùng xa gặp nhiều khó khăn)

2. Xã Khoan Dụ: nghiên cứu chọn mẫu đại diện các xã vùng ít thuận lợi

3. Xã Phú Lão: nghiên cứu chọn mẫu đại diện các xã vùng thuận lợi



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×