Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

40



* Điều kiện tự nhiên:

- Địa hình: Độ cao trung bình của tồn huyện là 399 m. Tuy là một

huyện vùng cao nhưng trên địa bàn huyện Cao Phong lại có ít núi cao. Nhìn

chung, địa hình của huyện có cấu trúc thoai thoải, độ dốc trung bình của đồi

núi khoảng 10-15o, chủ yếu là đồi dạng bát úp, thấp dần theo chiều từ đông

nam đến tây bắc.

Căn cứ vào địa hình, có thể phân chia huyện Cao Phong thành ba vùng:

vùng núi cao (gồm 2 xã: Yên Thượng, Yên Lập), vùng giữa (gồm 8 xã: Dũng

Phong, Nam Phong, Tây Phong, Tân Phong, Đông Phong, Xuân Phong, Thu

Phong, Bắc Phong và thị trấn Cao Phong) và vùng ven sông Đà (gồm 2 xã:

Bình Thanh và Thung Nai).

Do điều kiện tự nhiên đa dạng, phức tạp nên Cao Phong có điều kiện

rất thuận lợi để hình thành nền nơng nghiệp đa dạng về cây trồng và vật ni.

Tuy nhiên, địa hình đa dạng và phức tạp như vậy cũng sẽ gây khó khăn trong

việc thiết kế, xây dựng và nâng cao hiệu quả sử dụng của các cơng trình thủy

lợi và các cơ sở hạ tầng khác.

- Khí hậu, thủy văn: Cao Phong thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa,

nóng và ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều; mùa đơng lạnh và khơ. Nhiệt độ trung

bình hàng năm từ 22 đến 24oC. Lượng mưa trung bình hàng năm khá cao, dao

động từ 1.800 đến 2.200 mm. Tuy vậy, lượng mưa phân bố không đều trong

năm, tập trung chủ yếu trong các tháng 7, 8 và 9 nên dễ gây úng lụt, ảnh

hưởng xấu đến sản xuất và đời sống của nhân dân.

Nhìn một cách tổng thể, khí hậu Cao Phong thuộc loại mát mẻ, lượng

mưa khá và tương đối điều hòa. Điều kiện khí hậu như vậy đã tạo điều kiện

thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại cây trồng, vật ni với nhiều hình thức

canh tác hoặc mơ hình chăn ni khác nhau.

Hạn chế lớn nhất của khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp là nạn thiếu



41



nước vào mùa khơ, đặc biệt là ở những vùng chưa có các cơng trình thủy lợi.

Về mùa đơng, bên cạnh sự khơ hạn, các yếu tố khí hậu khác như: nhiệt độ

xuống thấp, sương muối, không đủ ánh sáng cũng ảnh hưởng đến sự phát

triển của cây trồng, vật nuôi, tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển.

Trên địa bàn huyện Cao Phong có sơng Đà và hàng chục con suối lớn

nhỏ chảy qua. Tuy nhiên, do nền địa chất nơi đây nằm trong miền hoạt động

cacxtơ hố mạnh, cộng với tình trạng tàn phá rừng đầu nguồn, nên vào mùa

khô, nhiều suối có lưu lượng nước rất ít hoặc bị cạn kiệt.

- Đất đai: Trên địa bàn huyện Cao Phong có nhiều loại đất khác

nhau. Ở vùng địa hình đồi núi có các loại đất: nâu vàng, đỏ vàng, nâu đỏ và

mùn đỏ vàng. Vùng địa hình thấp có các loại đất: phù sa, dốc tụ... Nhìn

chung, đa số các loại đất ở Cao Phong có độ phì cao, thích hợp cho việc trồng

nhiều loại cây khác nhau, nhất là cây công nghiệp, cây ăn quả cũng như phát

triển chăn nuôi.

Trong cơ cấu sử dụng đất của huyện Cao Phong, tính đến cuối năm

2002, đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ không lớn (16,4%), trong khi đó, đất chưa

sử dụng chiếm tỷ lệ khá cao (51,31%), chủ yếu là đất đồi núi. Đây chính là

tiềm năng cho việc phát triển cây cơng nghiệp, cây ăn quả... và cũng đặt ra

nhiệm vụ trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc cho địa phương.

Theo những số liệu đánh giá chung về nguồn nước ở vùng Tây Bắc,

tiềm năng nước ngầm ở Cao Phong tương đối dồi dào, có khả năng đáp ứng

nhu cầu phát triển sản xuất và phục vụ đời sống nhân dân. Hiện nay, các

giếng nước trong các hộ dân ở bản, làng đang khai thác thường có độ sâu trên

dưới 20 m và cho nước có chất lượng khá tốt.

- Tài ngun: Cao Phong có diện tích là 25.527,83 ha gồm 12 xã và

một thị trấn các xã thuộc vùng sâu vùng xa bao gồm Yên Thương, Yên Lập,

Bình Thanh, Thung Nai, Xuân Phong, Nam phong.



42



Cao Phong có thảm thực vật tương đối đa dạng, bao gồm nhiều loại:

gỗ, tre, nứa và gần đây trồng thêm các loại cây ăn quả, keo lá tràm... Tính đến

cuối năm 2002, trên địa bàn huyện có 6.200,25 ha đất lâm nghiệp có rừng,

chiếm tỷ trọng 24,38% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong số đó, đất có rừng tự

nhiên là 3.448,73 ha, tập trung nhiều ở các xã ven hồ sông Đà và các xã vùng

cao. Đất có rừng trồng là 2.751,52 ha và đất ươm cây giống có 1,5 ha.

Theo kết quả điều tra gần đây, Cao Phong có một số loại khống sản

chính như: đất sét, cát, sỏi, quặng perit, quặng đồng, than...

2.1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội

* Tình hình kinh tế

Được xác định là vùng chuyên canh cây nông nghiệp chất lượng cao

của tỉnh, trong những năm qua, huyện Cao Phong đã tận dụng nguồn tài

nguyên đất đai màu mỡ và khí hậu thuận lợi phát triển cây cam trở thành cây

hàng hóa chủ lực của địa phương. Nếu năm 2012, tổng diện tích cây ăn quả

của tồn huyện chỉ là 1.014 ha thì đến năm 2016 con số đó đã tăng lên đạt

2.245 ha, trong đó cây ăn quả có múi là 2.078 ha. Diện tích cây có múi thời kỳ

kiến thiết cơ bản là 1.178 ha, diện tích cây thời kỳ kinh doanh trên 900 ha, sản

lượng đạt trên 25.000 tấn. Trong năm 2016, toàn huyện trồng mới 200 ha cây ăn

quả có múi, chủ yếu ở các xã: Thu Phong, Bắc Phong và thị trấn Cao Phong.

Từ việc tập trung đầu tư phát triển, mở rộng diện tích trồng cam, đến

nay tồn huyện có trên 50 hộ gia đình có mức thu đạt từ 1 tỷ đồng/ năm trở

lên, thậm chí có những gia đình có mức thu từ 7 - 10 tỷ đồng/ năm từ trồng

cam... Thị trường tiêu thụ cam Cao Phong ngày càng được mở rộng đặc biệt

là sau khi được cấp Chỉ dẫn địa lý vào năm 2014, vinh dự lọt vào top 10

thương hiệu, nhãn hiệu nổi tiếng năm 2016. Với hiệu quả kinh tế mà cây cam

mang lại cho địa phương đã góp phần nâng cao mức thu nhập bình quân của



43



người dân đạt 32,8 triệu đồng vào năm 2016 và phấn đấu đạt 48 triệu đồng

vào năm 2020.

Hiệu quả kinh tế từ cây cam mang lại đã tạo đà cho KT-XH của huyện

phát triển. Sự phát triển kinh tế xã hội của huyện đang làm thay đổi căn bản

diện mạo của huyện từ khu vực trung tâm thị trấn đến các xã vùng sâu, vùng

xa. Đặc biệt, năm 2016, huyện Cao Phong vinh dự xếp thứ nhì khối thi đua

các huyện, thành phố. Đây là một nỗ lực, cố gắng khơng nhỏ của Đảng bộ,

chính quyền và nhân dân các dân tộc trong huyện. Nhờ vậy, đến nay, tồn

huyện chỉ còn 21,87% tỷ lệ hộ nghèo, 12,12% tỷ lệ hộ cận nghèo (tính theo

cách tiếp cận chuẩn nghèo đa chiều). Huyện phấn đấu mỗi năm giảm ít nhất

3% tỷ lệ hộ nghèo theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXVII đã

đề ra.

Một điểm nhấn quan trọng trong bức tranh KT-XH của huyện không

thể không nhắc tới là thành công trong xây dựng NTM. Đến nay, tồn huyện

đã có 3 xã đạt chuẩn NTM, trong đó, xã Dũng Phong là địa phương đầu tiên

về đích của tỉnh. Bình qn mỗi xã trên địa bàn tồn huyện đạt 12,83 tiêu chí.

Năm 2017, bên cạnh việc duy trì và nâng cao chất lượng xây dựng NTM bền

vững tại 3 xã đạt chuẩn, huyện phấn đấu có thêm 1 xã đạt chuẩn, nâng mức

bình qn 14,42 tiêu chí/ xã. Diện mạo NTM cơ bản được hình thành từ sự

thay đổi trong nhận thức của mỗi người dân. Đời sống của người dân được

nâng cao hơn trước cả về vật chất lẫn tinh thần.

Sau 8 năm thực hiện đề án cứng hóa GTNT, hệ thống GTNT trên địa

bàn huyện được cải thiện đáng kể. Đến nay, gần 52% các tuyến đường liên

thơn, liên xóm của các xã đã được cứng hóa với tổng số vốn trên 36 tỷ đồng.

Tồn huyện hiện có hơn 230 km đường GTNT, trong đó phần đa là đường bê

tông xi măng với gần 88 km.

Không chỉ là mảnh đất được biết đến với cam ngọt, mía tím mà nơi đây



44



còn có rất nhiều cảnh quan đẹp do thiên nhiên ban tặng. Năm 2016, tồn

huyện đón, phục vụ 260.776 lượt du khách đến thăm quan tại các điểm du lịch

trên địa bàn. Chỉ tính riêng trong 2 tháng đầu năm 2017, huyện đã đón và

phục vụ trên 40.000 lượt du khách. Tổng doanh thu từ hoạt động du lịch trong

năm 2016 và 2 tháng đầu năm 2017 đạt 17,7 tỷ đồng.

* Tình hình dân số và lao động:

Dân số tồn huyện tính đến thời điểm hiện tại là 43 ngàn người/9.875

hộ, mật độ dân số bình qn 1.603người/km2 số lao động tồn huyện có

19.646 người trong độ tuổi lao động, chiếm 48% tống dân số, trong đó số lao

động nơng nghiệp có khoảng 13,450 người, chiếm 68,5% tổng số lao động

[6]. Số lao động phi nông nghiệp có 6.196 người chiếm 31,5% tổng số lao

động lực lượng lao động chủ yếu trong huyện là lao động nông nghiệp, số hộ

nghèo năm 2015 là 1703 hộ; 1.512 hộ cận nghèo. Tỷ ỉệ hộ nghèo giảm bình

quân 2,75%/năm; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm giữ ở mức 1,1%; tỷ lệ

lao động qua đào tạo đạt 40%. Hàng năm tạo việc làm mới cho trên 1.300 lao

động. Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 27 triệu đồng/người/năm.

Trên địa bàn hiện có 3 dân tộc sinh sống: Mường, Dao, Kinh. Trong đó

dân tộc Mường chiếm 72%, dân tộc Kinh chiếm 24% với khơng gian văn

hóa riêng mang bản sắc văn hóa dân tộc trong đó có văn hóa cồng chiêng,

đền chùa, phong tục tập quán riêng của người Mường.

2.1.2. Đặc điểm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

– Chi nhánh huyện Cao Phong Hòa Bình (NHNo&PTNT huyện Cao

Phong)

2.1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của NHNo&PTNT huyện Cao Phong

NHNo&PTNT huyện Cao Phong được thành lập theo Nghị định số 53/

HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ). Theo

Nghị định này thì chuyển đổi tồn bộ hệ thống NHNN từ 1 cấp thành 2 cấp:



45



cấp quản lý vĩ mô là ngân hàng Nhà nước và cấp kinh doanh là các ngân hàng

chuyên doanh.

Đến ngày 01/10/1990 các ngân hàng chuyên doanh được gọi với tên

chính thức là ngân hàng thương mại. NHNo&PTNT huyện Cao Phong là đơn

vị trực thuộc NHNo&PTNT tỉnh Hòa Bình (nay là NHNo&PTNT chi nhánh

Hòa Bình).

Là chi nhánh cấp 3 trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam, Chi nhánh

NHNo Cao Phong trực thuộc NHNo Hòa Bình, với địa bàn hoạt động phục vụ

nông nghiệp nông thôn là chủ yếu. Nghiệp vụ đầu tư tín dụng chủ yếu qua các

hình thức tín dụng: cho vay từng lần, tức là những nhu cầu vay vốn không

thường xuyên, liên tục, vòng quay vốn thường đạt 1 vòng vào thời điếm kết

thúc thời hạn vay vốn...ví dụ như cho vay chăn nuôi gia cầm đẻ trứng, cho

vay chăn nuôi cá thịt, cho vay mua vật liệu thi công xây dựng...; cho vay theo

hạn mức tín dụng - đây là phương thức cho vay chiếm tỷ lệ lớn nhất của chi

nhánh, áp dụng đối với các nhu cầu vay vốn thường xuyên, liên tục như các

hộ kinh doanh, buôn bán, các lĩnh vực sản xuất có thời hạn ngắn, vòng quay

vốn đạt trên 1 vòng trong năm; cho vay trả góp, áp dụng đối với các khách

hàng có thu nhập ổn định, và có khả năng thực hiện trả nợ gốc lãi theo phân

kỳ đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng; cho vay theo hạn mức tín dụng dự

phòng; cho vay thấu chi tài khoản (mới chỉ áp dụng đối với cán bộ của chi

nhánh, công viên chức đang công tác trong huyện Cao Phong,...)

2.1.2.2. Các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của NHNo&PTNT chi nhánh huyện

Cao Phong

Chi nhánh thực hiện nhiệm vụ kinh doanh đa năng, tổng hợp về tiền tệ,

tín dụng và dịch vụ ngân hàng bao gồm các nghiệp vụ chủ yếu sau:

- Huy động vốn dưới nhiều hình thức. Nhận tiền gửi có kỳ hạn, khơng

kỳ hạn bằng VNĐ và ngoại tệ.



46



- Cho vay ngắn, trung và dài hạn với mọi thành phần kinh tế, cho vay

tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay hợp vốn, liên kết hợp tác đồng tài trợ.

- Bảo lãnh dự thầu, thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tạm ứng, bảo hành

công trình..

- Kinh doanh ngoại hối, chi trả kiều hối và các dịch vụ ngân hàng khác.

- Làm ngân hàng đại lý, ngân hàng phục vụ đầu tư phát triển (uỷ thác)

từ nguồn vốn của chính phủ, các tổ chức tài chính, tiền tệ, các tổ chức xã hội,

đồn thể, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của Ngân hàng Nhà

nước và luật các tổ chức tín dụng.

2.1.2.3. Cơ cấu tổ chức và nhân sự ngân hàng NN&PTNT chi nhánh huyện

Cao Phong

* Tình hình nhân sự của ngân hàng NN&PTNT – chi nhánh Cao Phong:

NHNo&PTNT huyện Cao Phong có tổng số 25 cán bộ định biên gồm:

- Ban giám đốc có 3 đồng chí:

+ Giám đốc: 01 đồng chí.

+ Phó giám đốc giúp việc: 02 đồng chí (1 phụ trách kế hoạch kinh

doanh, 1 phụ trách kế toán)

- Các phòng chức năng: Kế tốn; Phòng kế hoạch và kinh doanh.

* Chức năng, nhiệm vụ các bộ phận trong Ngân hàng:

- Giám đốc:

+ Trực tiếp điều hành mọi hoạt động của đơn vị theo chức năng, nhiệm

vụ và phạm vi hoạt động của đơn vị.

+ Phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận và nhận thông tin phản

hồi từ các phòng ban.

+ Có quyền quyết định chính thức một khoản vay.

+ Có quyền đề xuất tổ chức bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ

luật, nâng lương cán bộ cơng nhân viên trong đơn vị.



47



- Phó Giám đốc: Có trách nhiệm hỗ trợ cùng Giám đốc trong việc tổ

chức điều hành mọi hoạt động chung của toàn chi nhánh, các nghiệp vụ cụ thể

trong việc tổ chức hành chánh, thẩm định vốn, cơng tác tổ chức tín dụng.

- Phòng Kế toán: Hạch toán kế toán, thống kê và thanh toán theo quy định,

xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch tài chính, quyết tốn thu chi tài chính, quỹ tiền

lương đối với chi nhánh, quản lý và sử dụng quỹ chuyên dùng, tổng hợp lưu trữ

hồ sơ tài liệu, thực hiện các khoản nộp ngân sách Nhà nước.

- Phòng Kế hoạch và kinh doanh:

+Công tác kế hoạch tổng hợp: Thu thập thông tin, tham mưu, xây dựng

kế hoạch phát triển và kế hoach kinh doanh. Tổ chức triển khai, theo dõi tinh

hình thực hiện kế hoạch kinh doanh; Giúp việc giám đốc quản lý, đánh giá

tổng thể hoạt động kinh doanh của chi nhánh.

+ Công tác nguồn vốn: Đề xuất và tổ chức thực hiện điều hành nguồn

vốn, giới thiệu các sản phẩm huy động vốn, sản phẩm kinh doanh ngoại tệ với

khách hàng. Hỗ trợ các bộ phận kinh doanh khác để bán sản phẩm, cung cấp

thông tin thị trường, giá vốn. Chịu trách nhiệm quản lý các hệ số an toàn

trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo về khả năng thanh tốn.

2.1.3. Những thuận lợi và khó khăn của địa bàn nghiên cứu đối với nâng

cao chất lượng tín dụng của NHNo&PTNT huyện Cao Phong

2.1.3.1. Những thuận lợi

- Cao Phong là trung tâm giao thương kinh tế giữa các vùng Tây Bắc

với vùng Đông Bắc Bộ, nhu cầu về sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng là

rất lớn, như hoạt động chuyển tiền, mở tài khoản thanh toán, sử dụng dịch vụ

Mobile banking, đặc biệt là nhu cầu vốn tín dụng cho nhu cầu sản xuất kinh

doanh. Đây là một lợi thế rất lớn cho chi nhánh NHNo&PTNT huyện Cao

Phong.

- Là huyện có diện tích tự nhiên rộng, lực lượng trong độ tuổi lao động



48



lớn. Trên địa bàn có hơn 100 cơng ty, doanh nghiệp, thị trấn có làng nghề, các

vùng chăn ni, trồng cam, rau sạch... là những đối tác đầy tiềm năng đối với

chi nhánh trong cơng tác đầu tư tín dụng.

- NHNo&PTNT huyện Cao Phong là ngân hàng ra đời sớm nhất, gắn

bó đồng hành cùng với nhân dân Cao Phong từ những năm kinh tế còn khó

khăn, để hơm nay có một huyện Cao Phong đã có nhiều đổi thay và phát triển.

Trong tương lai mối quan hệ này sẽ càng bền chặt, thể hiện ở chỗ từ các cấp

lãnh đạo đến mọi người dân đều ủng hộ và đánh giá rất cao vai trò của chi

nhánh NHNo&PTNT Cao Phong trong việc phát triển kinh tế, nâng cao đời

sống của nhân dân trong huyện. Đây là lợi thế rất lớn của chi nhánh so với các

tổ chức tín dụng khác trong và ngồi địa bàn.

2.1.3.2. Những khó khăn

- Huyện Cao Phong là huyện vùng cao của tỉnh Hòa Bình, tuy đã được

quan tâm đầu tư về cơ sở hạ tầng nông thôn, nhưng Cao Phong vẫn còn là huyện

nghèo gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế, chưa tương xứng

với những lợi thế sẵn có trong q trình phát triển Cam Cao Phong.

- Là huyện nơng nghiệp nơng thơn, trình độ dân trí thấp, sản xuất nơng

nghiệp mang tính thủ cơng, còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên.

- Việc quy hoạch sản xuất nơng nghiệp mang tính hàng hóa chưa được

quan tâm đúng mức, về cơ bản vẫn còn mang tính tự phát của người dân,

chưa có sự nghiên cứu, tính tốn khoa học của các cấp liên quan, để sản xuất

nơng nghiệp mang tính hàng hóa phát triển bền vững.

- Trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế hiện nay, rất cần đầu ra cho

các sản phẩm của các làng nghề truyền thống trong huyện. Như hàng thủ công

mỹ nghệ, hàng mây tre đan, nghề trông Cam,…

Như vậy những khó khăn nêu trên sẽ là những trở ngại và thách thức

đối với chi nhánh NHNo&PTNT huyện Cao Phong trong mọi mặt hoạt động,



49



đặc biệt là hoạt động cho vay của chi nhánh. Do vậy rất cần sự quan tâm,

triển khai đồng bộ, kịp thời của các cấp các ngành, từ thành phố cho đến

huyện đối với những khó khăn nêu trên. Để chi nhánh NHNo&PTNT huyện

Cao Phong tham gia đóng góp một phần cơng sức của mình giúp cho huyện

Cao Phong phát triển về đời sống, kinh tế, xã hội, tương xứng với những lợi

thế sẵn có về nông nghiệp.

2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp chọn điểm điều tra và thu thập số liệu, tài liệu

2.2.1.1. Chọn địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu là NHNo&PTNT huyện Cao Phong, các khách

hàng trong huyện có quan hệ tín dụng đối với ngân hàng.

2.2.1.2. Phương pháp thu thập số liệu

* Dữ liệu thứ cấp:

Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp: Tiến hành thu thập các

dữ liệu sẵn có bên trong và bên ngồi đơn vị. Kế thừa các kết quả nghiên cứu

có liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng, các báo cáo

tổng kết hoạt động tín dụng, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tại Ngân

hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Phong.

* Dữ liệu sơ cấp:

Dữ liệu sơ cấp được tác giả sử dụng bằng phương pháp lập phiếu khảo sát

theo nội dung nghiên cứu, gửi trực tiếp tới các hộ, doanh nghiệp và một số qua

mail có quan hệ vay vốn bằng bộ câu hỏi được lập sẵn, từ đó thống nhất các số

liệu đã được thu thập tại NHNo&PTNT Cao Phong- Hòa Bình, qua quan sát

thực tế kinh doanh tại NHNo&PTNT Cao Phong - Hòa Bình. Thơng tin số liệu

sơ cấp được thu thập để làm căn cứ cho việc đánh giá chất lượng tín dụng của

ngân hàng.

Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, phân tầng, tỷ lệ:



50



Chọn 100 phiếu khảo sát đại diện cho những nhu cầu vay vốn sản xuất kinh

doanh khác nhau. Chọn ngẫu nhiên các khách hàng là hộ, doanh nghiệp để

tìm hiểu và thu thập thơng tin.

Do phạm vi của đề tài là chất lượng tín dụng nên đối tượng điều tra bao

gồm các khách hàng vay vốn tại NHNo&PTNT huyện Cao Phong và cư trú

tại huyện Cao Phong.

Nhằm tập hợp đầy đủ, khách quan thông tin, số liệu cho đề tài nghiên

cứu, tác giả còn tham khảo ý kiến các chuyên gia, cán bộ, công chức là những

người am hiểu trong Ngành ngân hàng.

2.2.2. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

- Phương pháp thống kê mô tả: Dựa trên cơ sở quan sát, thu thập các

dữ liệu tiến hành mô tả các hoạt động cơ bản của ngân hàng, hoạt động tín

dụng để thấy được thực trạng chung của ngân hàng và các hoạt động tín dụng

ngân hàng.

- Phương pháp so sánh: so sánh các chỉ tiêu thể hiện qui mô, kết quả và

hiệu quả sản xuất của chi nhánh qua các năm, chỉ tiêu được sử dụng.

- Phương pháp thống kê phân tích: Phương pháp này được sử dụng để

phân tích tỷ trọng, mức độ, tình hình biến động của hệ thống số liệu phục vụ

các mục tiêu của luận văn. Số liệu trình bày theo thời gian hay theo các tiêu

chí riêng để tính tốn, xử lý số liệu phục vụ cho luận điểm đưa ra.

- Phương pháp diễn giải, phân tích: dựa trên số liệu thu thập, diễn giải

phân tích bằng cách lập luận logic, dẫn dắt, suy luận từ nội dung này đến nội

dung kia.

- Phương pháp tổng hợp: tổng hợp lại các số liệu, phân tích ở trên đưa

đến các tiểu kết và đại kết cho từng phần. Đây là một phương pháp quan

trọng, chốt lại các vấn đề diễn giải bên trên.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×