Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



hình thức tín dụng trên đều tồn tại và bổ sung lẫn nhau và nó có vai trò quan

trọng trong sự phát triển kinh tế.

1.1.1.2. Tín dụng ngân hàng

* Tín dụng cho vay:

Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian ln có một số

người tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên

cạnh đó ln có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện

tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được

dịch chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và

lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay. Đây chính là quan hệ

tín dụng.

Như vậy tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên ngun tắc hồn trả

kèm theo lợi tức, nó để thoả mãn nhu cầu của cả 2 bên, do đó nó là một quan

hệ bình đẳng, cả 2 bên cùng có lợi và mang tính thoả thuận lớn.

Quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu, thậm chí mối quan

hệ tín dụng thơ sơ nhất được phát sinh ngay từ sau khi chế độ cộng sản

nguyên thuỷ tan rã. Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức từ

thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế

thị trường, qua từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển mà dần hình thành nên

các hình thức tín dụng mới có trình độ cao hơn, đã có các hình thức tín dụng

sau: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà

nước và tín dụng tiêu dùng. Mỗi một hình thức tín dụng đều có điều kiện kinh

tế xã hội cụ thể. Tuy nhiên trong sự phát triển của mình, các hình thức quan

hệ tín dụng trước khơng hề mất đi mà vẫn còn tồn tại và phát huy tác dụng khi

có sự ra đời một hình thức tín dụng mới. Ngày nay, tất cả các hình thức tín

dụng trên đều còn tồn tại và bổ sung lẫn nhau, và nó có vai trò quan trọng

trong sự phát triển kinh tế.

* Tín dụng ngân hàng:



6



Trong các hình thức trên thì tín dụng ngân hàng là một hình thức tín

dụng vơ cùng quan trọng. Nó là một quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần

lớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp, các thể nhân khác trong nền kinh

tế. Với công nghệ ngân hàng hiện nay, tín dụng ngân hàng càng trở thành một

hình thức tín dụng khơng thể thiếu ở cả trong nước và quốc tế.

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng còn

một bên là các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế.

Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả

các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó khơng phải là

quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu

mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông quan một tổ chức trung gian,

đó là ngân hàng. Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ

tín dụng, đó là quan hệ vay mượn cỏ hồn trả cả vốn và lãi sau một thời gian

nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan

hệ bình đẳng hai bên cùng có lợi.

1.1.1.3. Chất lượng tín dụng ngân hàng.

Vận động trong cơ chế thị trường để có thể tồn tại, phát triển và dành

ưu thế trong cạnh tranh, thích ứng với thị trường và sự yêu cầu ngày càng cao

của người tiêu dùng, các DNNN ln phải tiến hành đa dạng hố các sản

phẩm, dich vụ của mình nhằm thu hút được khách hàng. Chính sách sản phẩm

mà trong đó tập trung nhiều vào việc bảo đảm và nâng cao chất lượng sản

phẩm là một biện pháp thiết thực, hữu hiệu nhất cho hầu hết các doanh nghiệp

hiện nay.

Có thể nói, chất lượng của một sản phẩm hay một dịch vụ đều được

biểu hiện ở mức độ thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng và lợi ích về mặt

tài chính cho người cung cấp. Theo cách đó, trong kinh doanh TDNH, chất

lượng tín dụng được thể hiện ở sự thoả mãn nhu cầu vay vốn của khách hàng,

phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự

tồn tại và phát triển của ngân hàng.



7



Với cách định nghĩa như vậy, ta thấy chất lượng tín dụng ở đây được

đánh giá trên 3 góc độ: ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế.

Đối với NHTM: chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới

hạn tín dụng phải phù hợp khả năng thực lực của bản thân ngân hàng và đảm

bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và

có lãi.

Đối với khách hàng: do nhu cầu vay vốn tín dụng của khách hàng là để

đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nên chất lượng tín dụng được

đánh giá theo tính chất phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với

mức lãi suất và kỳ hạn hợp lý. Thêm vào đó là thủ tục vay đơn giản, thuận lợi,

thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc tín dụng.

Đối với nền kinh tế: đối với sự phát triển kinh tế-xã hội chất lượng tín

dụng được đánh giá qua mức phục vụ sản xuất và lưu thơng hàng hố, góp

phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác các khả năng trong nền kinh tế,

thúc đẩy qua trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ

giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế, hồ nhập với cộng đồng

quốc tế.

Hiểu đúng về bản chất của chất lượng tín dụng, phân tích và đánh giá

đúng chất lượng tín dụng hiện tại cũng như xác định chính xác các nguyên

nhân của những tồn tại về chất lượng sẽ giúp cho ngân hàng tìm được biện

pháp quản lý thích hợp để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường.

Trong luận văn này, nội dung chỉ tập trung phân tích về chất lượng tín dụng

trên góc độ NH.

1.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng

Là một mối quan hệ kinh tế, tín dụng ngân hàng có những tác động

nhất định đến hoạt động kinh tế. Nhất là trong nền kinh tế thị trường, nó có

vai trò khá quan trọng.



8



- Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển.

Nhờ có nguồn vốn tín dụng của ngân hàng nên các doanh nghiệp có

điều kiện bổ sung vốn thiếu hụt tạm thời hay mở rộng nguồn vốn, đảm bảo

được quá trình sản xuất bình thường và còn có thể mở rộng sản xuất, cải tiến

kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật công nghệ mới, tăng tính cạnh tranh. Tín dụng đã giúp

các doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ, tạo điều kiện để duy

trì mối liên hệ hữu cơ giữa sản xuất, lưu thơng hàng hóa và tiêu dùng xã hội.

Ngày nay trong q trình tồn cầu hóa, quan hệ quốc tế ngày càng tăng

cường. Mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của thị trường thế giới. Do đó tín

dụng ngân hàng trên lĩnh vực quốc tế càng trở nên quan trọng giúp cho mối

liên kết chuyển giao công nghệ giữa các nước trên thế giới được nhanh chóng,

rút ngắn thời gian phát triển.

Như vậy hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại đã góp phần

thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng ngay cả trong nước và

quốc tế.

- Tín dụng ngân hàng là cơng cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng,

từ đó giúp cho việc tích và tập trung sản xuất.

Tín dụng ngân hàng tập trung các khoản tín dụng nhỏ lẻ thành các

khoản vốn lớn, tạo khả năng đầu tư vào các cơng ty lớn có hiệu quả. Đồng

thời các doanh nghiệp cũng nhờ các khoản tín dụng mà có đủ vốn để mở rộng

sản xuất, rút ngắn thời gian tính lũy vốn. Tóm lại, tín dụng đã đóng vai trò

tích cực thúc đẩy q trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất.

Thơng qua tín dụng ngân hàng, các doanh nghiệp nhận được khối lượng

vốn bố sung rất lớn. Từ đó tăng quy mơ sản xuất, tăng năng suất lao động, đổi

mới thiết bị, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng khả năng cạnh tranh làm

cho doanh nghiệp lớn ngày càng lớn lên, doanh nghiệp nhỏ bị phá sản do

khơng cạnh tranh nổi. Từ đó các doanh nghiệp nhỏ phải liên kết với nhau tăng

khả năng cạnh tranh, như vậy tín dụng đã góp phần thúc đẩy q trình tập



9



trung sản xuất.

- Tín dụng ngân hàng giúp cho việc điều hòa nguồn vốn góp phần ổn

định thị trường tiền tệ, phát triển cân đối các ngành nghề trong nền kinh tế

quốc dân và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Thơng qua tín dụng mà nguồn vốn dịch chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu,

làm cho xã hội bớt lãng phí ở nơi thừa vốn, giảm khó khăn ở nơi thiếu vốn,

giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả, góp phần làm cho tốc độ luân chuyển

hàng hóa và tiền vốn tăng lên, tạo sự phát triển đồng đều trong các ngành.

Việc điều hòa nguồn vốn, đồng thời thơng qua khung lãi suất quy định

giúp cho chính sách tiền tệ của Chính phủ được thực hiện, điều hòa lưu thơng

tiền tệ góp phần ổn định tiền tệ và sự phát triển lành mạnh của thị trường tài

chính tiền tệ.

Hơn nữa thơng qua tín dụng ngân hàng, Chính phủ có những chính sách

ưu tiên hỗ trợ phát trien các vùng, miền hay các ngành then chốt, trọng điểm

nhờ vào việc đưa ra các ưu đãi tín dụng... Do vậy đã kích thích thúc đẩy các

doanh nghiệp đầu tư vào các ngành, vùng trọng điểm trong diện ưu tiên của

Chính phủ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo sự phát triển cân đối

trong cả nước.

1.1.3. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng

- Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dưới hình thức tiền tệ: cho vay

bằng tiền tệ là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt thỏa mãn mọi nhu cầu

vốn của các đối tượng trong nền kinh tế.

- Tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành

phần trong xã hội chứ khơng phải hồn tồn là vốn thuộc sở hữu của chính

mình như tín dụng nặng lãi hay tín dụng thương mại.

- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập

tương đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội. Có

những trường họp mà nhu cầu tín dụng ngân hàng gia tăng nhưng sản xuất và



10



lưu thông hàng hóa khơng tăng, nhất là trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, sản

xuất và lưu thơng hàng hóa bị co hẹp nhưng nhu cầu tín dụng vẫn gia tăng để

chống lại tình trạng phá sản. Ngược lại trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh, các

doanh nghiệp mở mang sản xuất, hàng hóa lưu chuyển tăng mạnh nhưng tín

dụng ngân hàng lại không đáp ứng kịp. Đây là hiện tượng rất bình thường của

nền kinh tế.

- Hơn nữa tín dụng ngân hàng còn có một số ưu điểm nổi bật so với các

hình thức khác là: Tín dụng ngân hàng có thế thỏa mãn một cách tối đa nhu

cầu về vốn của các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy

động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức và khối

lượng lớn. Tín dụng ngân hàng có thời hạn cho vay phong phú, có thể cho vay

ngắn hạn, trung hạn, dài hạn do ngân ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các

nguồn vốn với nhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay. Tín dụng ngân hàng

có phạm vi lớn và nguồn vốn bằng tiền là thích hợp với mọi đối tượng trong nền

kinh tế, do đó có thể cho nhiều đối tượng vay.

1.1.4. Chức năng của tín dụng ngân hàng

- Chức năng tập trung và phân phối lại tài ngun theo ngun tắc có

hồn trả.

Tín dụng là quan hệ đi vay và cho vay trên cơ sở có lòng tin về sự hồn

trả. Ngân hàng huy động vốn của các tổ chức dưới các hình thức phát hành kỳ

phiếu, trái phiếu, tiết kiệm... (đây là hoạt động đi vay của ngân hàng trên cơ

sở phải trả lãi suất và vốn khi đến hạn thanh toán), tiếp đến ngân hàng lựa

chọn khách hàng để cho vay lại lượng vốn đã huy động, đồng thời người đi

vay cũng phải trả cho ngân hàng lãi suất sử dụng vốn, và gốc khi đến hạn.

Cả quá trình đi vay và cho khách hàng vay đều phản ánh nguyên tắc

việc người sử dụng vốn phải hoàn trả vốn vay và lãi suất theo quy định của

NHNN Việt Nam.



11



- Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thơng.

Tín dụng ngân hàng phát triển sẽ hạn chế sự ra tăng của tín dụng lãi

suất cao trên thị trường, điều đó sẽ giảm được chi phí đầu vào cho các cá nhân

doanh nghiệp thiếu vốn phải đi vay.

Ngoài ra bằng việc nhận và trả tiền gửi, mở tài khoản qua ngân hàng

với quy mơ ngày càng lớn và có tính chất thường xuyên, liên tục. Hoạt động

thanh toán giữa các chủ thể trong nền kinh tế diễn ra qua hệ thống NHTM đã

làm tăng tốc độ luân chuyến hàng hóa, luân chuyển tiền tệ, cùng với sự phát

triển của các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, đi đơi với việc thanh tốn khơng

dùng tiền mặt trong lưu thơng góp phần ổn định lưu thơng tiền tệ. Góp phần

giảm chi phí lưu thơng, tiết kiệm tiền mặt cho cá nhân, doanh nghiệp và cho

cả xã hội.

- Chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế. Sự vận động

của tín dụng ngân hàng cũng như việc quản lý tập trung thống nhất cơng tác

tín dụng đã tạo tiền đề khách quan cho tín dụng ngân hàng thực hiện chức

năng trên. Thơng qua việc thực hiện phân phối lại tiền tệ trên nguyên tắc hoàn

trả, phục vụ tái sản xuất mở rộng. Tín dụng ngân hàng phản ánh một cách tổng

hợp và nhậy bén mối quan hệ giữa quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh

nghiệp với tình hình hoạt động của nền kinh tế. Trên cơ sở đó nhà nước có biện

pháp kịp thời phát huy những nhân tố tích cực và hạn chế những tiêu cực có thể

xẩy ra để thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Quá trình phản ánh và kiểm sốt tín

dụng ngân hàng là khơng thế tách rời nhau trong chức năng này. Do đó, nó được

sử dụng như một đòn bẩy kinh tế khơng thể thiếu được trong cơng tác quản lý tài

chính, kiểm sốt các q trình sản xuất, phân phối sản phẩm xã hội. Thực hiện

và củng cố chế độ hạch toán kinh tế.

1.1.5. Phân loại tín dụng ngân hàng

- Phân loại theo thời gian (thời hạn tín dụng)



12



- Phân loại theo hình thức: gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho thuê.

- Phân loại theo tài sản đảm bảo

- Phân loại tín dụng theo rủi ro.

- Phân loại khác.

1.1.5.1. Phân loại theo thời gian (thời hạn tín dụng)

Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì

thời gian liên quan mật thiết đến tính an tồn và sinh lợi của tín dụng cũng

như khả năng hồn trả của khách hàng theo thời gian, tín dụng được phân

thành:

- Tín dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống.

- Tín dụng trung hạn: Từ trên 1 năm đến 5 năm

- Tín dụng dài hạn: Trên 5 năm.

Tài sản lưu động thường có vòng quay trên 1 vòng trong 1 năm. Do

vậy, ngân hàng cấp tín dụng ngắn hạn với thời hạn từ 1 năm trở xuống.

Các tài sản cố định như phương tiện vận tải, một số cây trồng vật ni,

trang thiết bị chóng hao mòn có u cầu được tài trợ từ trên 1 năm tới 5 năm.

Cơng trình xây dựng như: nhà, sân bay, cầu, đường, máy móc thiết bị có giá

trị lớn, thường có thời gian sử dụng lâu có yêu cầu tài trợ trên 5 năm, có thể

tới 10 hoặc 30 năm.

Thời hạn tín dụng thường được xác định cụ thể (ngày, tháng, năm) và

ghi rõ trong họp đồng tín dụng, là thời hạn mà trong đó ngân hàng cam kết

cấp cho khách hàng một khoản tín dụng. Thời hạn tín dụng có thể được tính

từ lúc đồng vốn đầu tư của ngân hàng được phát ra đến lúc đồng vốn và lãi

cuối cùng phải thu về. Thời hạn tín dụng có thể là thời gian mà khi kết thúc

ngân hàng sẽ xem xét lại quan hệ tín dụng với khách hàng. Ví dụ ngân hàng

cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng 100 triệu trong 6 tháng. Hết 6 tháng

ngân hàng sẽ xem xét lại, có thể tăng, giảm hoặc chấm dứt quan hệ tín dụng



13



với khách hàng.

Có khoản vay khơng xác định trước thời hạn như cho vay luân chuyển:

khách hàng thỏa thuận với ngân hàng về việc ngân hàng được quyền trích tiền

trên tài khoản tiền gửi thanh tốn để thu nợ khi tài khoản có tiền. Việc xác

định trước thời hạn thu nợ trong trường hợp này có thể gây khó khăn cho

khách hàng trong việc tiêu thụ sản phẩm.

Thời gian chiết khấu thương phiếu là thời hạn còn lại của thương phiếu.

Thời hạn bảo lãnh là thời gian có hiệu lực của bảo lãnh, được thỏa thuận ghi

trong hợp đồng bảo lãnh. Nếu là cho thuê, thời hạn được tính từ lúc ngân

hàng giao tài sản cho khách hàng đến lúc khách hàng hoàn đủ tiền thuê.

1.1.5.2. Phân loại theo hình thức tín dụng

- Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách

hàng tương ứng với giá trị thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng

để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ) về mặt pháp lý

thì ngân hàng không phải đã cho vay đối với chủ thương phiếu. Đây chỉ là

hình thức trao đổi trái quyền. Tuy nhiên đối với ngân hàng, việc bỏ tiền ra

hiện tại để thu về một khoản lớn hơn trong tương lai với lãi suất xác định

trước được coi như là hoạt động tín dụng. Ngân hàng tuy ứng tiền cho người

bán, song thực chất là thay thế người mua trả tiền trước cho người bán.

- Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách

hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.

- Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính

hộ khách hàng của mình. Mặc dù khơng phải xuất tiền ra, song ngân hàng đã

cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi.

- Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng

thuê theo những thỏa thuận nhất định.. Sau thời gian nhất định, khách hàng

phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng.



14



1.1.5.3. Phân loại theo tài sản đảm bảo

Tài sản đảm bảo các khoản tín dụng cho phép ngân hàng có được

nguồn thu nợ thứ 2 bằng cách bán các tài sản đó. Khi nguồn thu nợ thứ nhất

(từ quá trình sản xuất kinh doanh) khơng có hoặc khơng đủ.

Tín dụng có thể được phân chia thành tín dụng có đảm bảo bằng uy tín

của chính khách hàng, có đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố tài sản.

Cam kết đảm bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài

sản mà mình đang sở hữu hoặc sử dụng, hoặc khả năng trả nợ của người thứ 3

để trả nợ cho ngân hàng.

Tín dụng khơng cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho các khách

hàng có uy tín, thường là khách hàng làm ăn thường xun có lãi, tình hình tài

chính lành mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương đối

nhỏ so với vốn của người vay. Các khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ

mà Chính phủ u cầu khơng cần tài sản đảm bảo. Các khoản cho vay đối với

các tổ chức tài chính lớn, các cơng ty lớn, hoặc những khoản cho vay trong

thời gian ngắn mà ngân hàng có khả năng giám sát việc bán hàng... Cũng có

thể khơng cần tài sản đảm bảo.

Tín dụng dựa trên cam kết đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàng

phải ký hợp đồng đảm bảo. Ngân hàng phải kiểm tra, đánh giá được tình trạng

của tài sản đảm bảo (quyền sở hữu, giá trị, tính thị trường, khả năng bán, khả

năng tài chính của người thứ 3,...) có khả năng giám sát việc sử dụng hoặc có

khả năng bảo quản tài sản đảm bảo.

1.1.5.4. Phân loại tín dụng theo rủi ro.

Để phân loại tín dụng theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các

mức độ, các căn cứ để chia loại rủi ro. Một số ngân hàng lớn chia tới 10 bậc

thang rủi ro theo các dấu hiệu rủi ro từ thấp đến cao cho các khoản mục tài

sản, bao gồm cả nội và ngoại bảng cho vay, bảo lãnh, chứng khoán. Cách



15



phân loại này giúp ngân hàng thường xun đánh giá lại tính an tồn của

khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời.

Tín dụng lành mạnh: các khoản tín dụng có khả năng thu hồi nợ cao.

Tín dụng có vấn đề: các khoản tín dụng có dấu hiệu khơng lành mạnh

như khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách

hàng gặp thiên tai khách hàng trì hỗn nộp báo cáo tài chính...

Nợ q hạn có khả năng thu hồi: các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn

ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị

lớn...

Nợ q hạn khó đòi: nợ q hạn lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản

thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì.

1.1.5.5. Phân loại khác.

Theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp)

Theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài sản cố định)

Theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng)

Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chun mơn hóa

trong cấp tín dụng của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ

mở rộng phạm vi tài trợ song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có

lợi thế, ví dụ NHNo&PTNT Việt Nam bên cạnh việc đa dạng hóa các ngành tài

trợ, vẫn tập trung tài trợ cho lĩnh vực Nông nghiệp, nông thôn. Cách phân loại

trên cho phép ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh lợi gắn liền với lĩnh vực tài trợ

để có chính sách lãi suất, bảo đảm, hạn mức và chính sách mở rộng phù hợp.

1.1.6. Các hình thức tín dụng ngân hàng (Phương thức cho vay)

Trên cơ sở nhu cầu sử dụng vốn vay của từng khoản vay của khách

hàng và khả năng kiểm tra, giám sát của ngân hàng, ngân hàng mới cho vay

và thỏa thuận với khách hàng vay về việc lựa chọn các phương thức cho vay

sau đây:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×