Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Dung dịch 1: Cân chính xác khối lượng các thành phần gồm 500 mg SL, 56 mg CHOL, 5 mg CTAB cho vào bình cầu 100 ml. Hòa tan các thành phần trên vào 5ml dung môi CHCl3/MeOH (2:1, v/v).

Dung dịch 1: Cân chính xác khối lượng các thành phần gồm 500 mg SL, 56 mg CHOL, 5 mg CTAB cho vào bình cầu 100 ml. Hòa tan các thành phần trên vào 5ml dung môi CHCl3/MeOH (2:1, v/v).

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hình 5.16 Sơ đồ tổng hợp liposome nang hóa PTX



5.7.2 Đánh giá hệ phân tán liposome PTX

a. Tính chất

Hệ phân tán liposome paclitaxel lỏng màu vàng rất nhạt, đồng nhất, khơng có

xảy ra hiện tượng kém bền như kết bơng, nổi kem, lắng cặn và tách lớp. Bột đông

khô mịn và xốp. Ngoài ra hệ phân tán liposome paclitaxel sau đơng khơ cũng dễ

dàng phân tán hồn tồn vào trong mơi trường nước.



b)



a)



Hình 5.17 (a) Liposome PTX trước đơng khơ; (b) liposome PTX sau đơng khơ

b. Kích thước và phân bố kích thước tiểu phân

Kết quả đánh giá kích thước tiểu phân và phân bố kích thước tiểu phân được

trình bày trong hình 5.17 và bảng 5.13



Hình 5.18 Dải phân bố kích thước của hệ liposome PTX trước (trái) và sau đơng khơ (phải)

Bảng 5.13 Dãy phân bố kích cỡ, các giá trị KTTB, chỉ số đa phân tán (PdI) của hệ

phân tán liposome PTX

Mẫu

Liposome - PTX trước đông khô

Liposome - PTX sau đông khô



KTTB (nm)

120±2,25

128±1,22



PdI

0,175±0,115

0,177±0,024



Kết quả DLS cho thấy kích thước trung bình của liposome paclitaxel trước

đơng khơ là 120 nm và sau đơng khơ là 128 nm (hình 5.17), kích thước này giảm



so với chưa mang thuốc (liposome sau đơng khơ có kích thước trung bình là 167

nm). Điều này có thể được giải thích là do PTX sắp xếp trong lớp màng

phospholipid của liposome bằng cách liên kết với phospholipid và cholesterol. Sự

có mặt của cholesterol ở tỉ lệ 56 mg đã đảm bảo tính vững chắc của lớp màng

lipid kép. Khi thêm PTX vào làm cho lớp màng lipid kép trở nên cứng chắc hơn,

giảm tính linh động của lớp màng này khiến cho các tiểu phân liposome khó đi qua

lớp màng polycarbonat trong q trình đồng nhất hóa và giảm KTTP so với chưa

mang thuốc. Bên cạnh đó, trước và sau đơng khơ kích thước của liposome PTX có

sự tăng nhẹ (từ 120 nm lên 128 nm). Nguyên nhân là do là trong quá trình đơng

lạnh làm hình thành các tinh thể băng bên trong liposome gây sự giãn nở của

pha nước. Từ đó tạo áp lực gây nứt vỡ lớp màng lipid của liposome thành

các mảnh nhỏ. Các mảnh vỡ này sẽ tái lắp ráp thành các liposome mới do hiện

tượng kỵ nước và hình thành các liposome mới với kích thước khác. Sự tái hợp này

có thể gây hợp nhất các liposome với nhau. Nhưng nhìn chung, chỉ số đa phân tán

nhỏ (PDI <0.3) và kiểu phân bố 1 đỉnh duy nhất . Do vậy hệ liposome PTX sau

đông khô được phân tán lại vẫn có độ đồng nhất cao, qui trình đơng khơ vẫn có thể

bảo vệ được màng lipid của liposome, giúp tránh rò rỉ dược chất qua lớp màng

lipid.



a)



200 nm



b)



500 nm



d)



c)



100 nm



200 nm



Hình 5.19 Ảnh TEM của liposome PTX: Trước đông khô ở các thang đo 200 nm (a)

và 500 nm (b); Sau đông khô ở các thanh đo 100 nm (c) và 200 nm (d)

Hình 5.18 là ảnh TEM biểu thị sự phân bố kích thước hạt liposome PTX

trước và sau đông khô. Qua kết quả cho thấy, các hạt nano lipos PTX tạo ra có sự

phân bố đều không bị kết tụ, không bị vỡ hạt, đa số có dạng hình cầu trong phạm vi

kích thước trung bình khoảng 50-100 nm, cấu trúc liposome PTX khơng khác gì

cấu trúc của liposome chưa mang thuốc. Điều này chứng tỏ, với khối lượng PTX

chiếm 5% tổng khối lượng chất mnag khơng làm thay đổi cấu trúc của chất mang.

Vì vậy, ta có thể kết luận rằng đã tổng hợp thành cơng nanoliposome PTX kiểm

sốt được hình dạng hạt. Giải quyết được vấn đề kiểm sốt kích thước cũng như

hình dạng là một trong những khó khăn để đưa hệ chất mang này vào thực tế, chính

vì vậy đây cũng chính là một trong những mục tiêu quan trọng trong nghiên cứu

này.

Mặt khác, thế zeta cho biết khả năng tích điện của liposome. Sự tích điện

càng lớn thì càng hạn chế sự kết tụ liposome. Chỉ số này có thể âm hoặc dương.



Gía trị thế zeta của lipoosme chứng minh hệ ổn định khi nằm trong khoảng >|30|

mV. Kết quả hình 5.11 cho thấy sau đông khô thế zeta của liposome PTX âm điện

hơn so với ban đầu và nằm trong khoảng mong muốn (-51,6 mV). Nguyên nhân

được giải thích giống như kết quả thế zeta của hệ liposome là do trong q trình

đơng khơ có thêm chất bảo vệ màng là đường manitol rất phân cực nên làm điện

tích âm tăng lên và có tác dụng giúp ổn định màng lipid kép của tiểu phân liposome

PTX. Màng tế bào có điện tích âm nên tiềm năng thế zeta có thể ảnh hưởng tới khả

năng thấm của các tiểu phân nano qua màng nhưng giảm khả năng gây độc tế bào

nhiều hơn so với liposome mang điện dương [55].

(b)

-10.6 mV



(a)



-51.6 mV



(b)



Hình 5.20 Thế zeta của liposome PTX trước (a) và sau đông khô (b)

5.8 Độ ổn định vật lý của hệ phân tán liposome

Liposome PTX sau khi điều chế được bảo quản trong tủ lạnh ở 2-8°C. Sau 4

tuần đánh giá lại các chỉ tiêu về hình thức, KTTP, chỉ số đa phân tán PDI và thế

zeta. Về hình thức, sau 4 tuần bảo quản hệ phân tán trong, đồng nhất có màu vàng

rất nhạt và khơng xuất hiện các hiện tượng kém bền.



a)



-40.7mV



b)



Hình 5.21 DLS của liposome PTX sau 4 tuần bảo quản

Bảng 5.14 Các giá trị kích thước trung bình, chỉ số đa phân tán của hệ liposome

PTX sau 4 tuần

Mẫu

Liposome PTX



Thời gian

Ban đầu

Sau 4 tuần



KTTB (nm)

128±1,22

154±0,78



Thế zeta (mV)

PDI

-51,6±2,3 0,177±0,224

-40,7±1.5 0,115±0,316



Phân tích kết quả DLS cho thấy sau 4 tuần bảo quản có sự tăng KTTP từ 128

nm tăng 154 nm. Điều này cho thấy trong quá trình bảo quản, liposome có xu

hướng lắng xuống, kết tụ với nhau tạo nên các tiểu phân có kích thước lớn hơn.

Thời gian bảo quản càng lâu thì KTTP càng tăng cao. Mặt khác, dải phân bố kích

thước khá đồng nhất với chỉ số đa phân tán nhỏ hơn 0,3, thế zeta có thay đổi so với

ban đầu nhưng khơng đáng kể và vẫn nằm trong khoảng cho phép > |30| mV. Kết

qủa chứng tỏ hệ phân tán liposome paclitaxel ổn định sau 4 tuần bảo quản ở nhiệt

độ 2-8°C.

5.9 .Kết quả mang thuốc

Kết quả mang thuốc paclitaxel được tính từ lượng thuốc tự do bên ngoài

liposome bằng phương pháp đo HPLC. Đường chuẩn paclitaxel được xây dựng từ

các dung dịch paclitaxel có nồng độ lần lượt từ 5-10 ppm. Đồ thị biểu diễn tỉ lệ giữa

nồng độ paclitaxel và diện tích peak sẽ cho kết quả là một phương trình đường

thẳng dạng y = ax+b, trong đó y là diện tích peak, x là nồng độ.



Diện tch peak

Diện tch peak



Nồng độ (ppm)



Hình 5.22 Đường chuẩn paclitaxel

Kết quả cho thấy trong khoảng nồng độ từ 5-50 ppm, đường chuẩn thu được

có dạng đường thẳng có phương trình hồi quy y= 268.27x – 45.622 với hệ số tương

quan R2= 0,9985 >0,99 , chứng tỏ có sự phụ thuộc tuyến tính của diện tích peak vào

nồng độ PTX trong khoảng khảo sát. Do vậy có thể sử dụng phương pháp đo HPLC

ở bước sóng 227 nm với các khoảng nồng độ trên để định lượng PTX. Từ đường

chuẩn xây dựng được ta có thể tính được lượng thuốc paclitaxel còn dư bên ngồi

liposome thơng qua diện tích peak đo được từ sắc ký đồ. Hiệu số giữa lượng

paclitaxel ban đầu và lượng còn dư chính là lượng thuốc paclitaxel đã được mang

vào bên trong liposome. Kết quả được trình bày trong bảng 5.14

Bảng 5.15 Kết quả mang thuốc PTX

Mẫu



Area



Lượng thuốc

thừa (mg)



Lượng thuốc

được mang (mg)



Liposome-PTX



7841



1,764±0,433



30,2±1,2



Theo đó, hiệu suất mang thuốc và khả năng mang của liposome được tính

theo cơng thức:



Hiệu suất tải thuốc

DLE (%) = x 100%



Khả năng mang thuốc của hạt

DLC (%) = x 100%

Từ dữ liệu bảng 5.14, suy ra hiệu suất mang thuốc và khả năng tải của

liposome như sau:

Bảng 5.16 Hiệu suất tải thuốc PTX

Mẫu



DLC (%)



DLE (%)



Liposome-PTX



4,48±0,47



94,5±3,2



Hiệu suất mang thuốc phản ánh tỉ lệ dược chất được nạp vào lớp màng lipid

kép so với tổng lượng PTX cân ban đầu.Kết quả cho thấy khả năng tải thuốc và hiệu

suất mang thuốc paclitaxel đạt 94,5% cao so với các nghiên cứu khác trên

liposome. Đây là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo trong ứng dụng hóa trị liệu.

5.10 Kết quả nhả thuốc PTX

Bảng 5.17 Dữ liệu cho thấy khả năng phóng thích thuốc của liposome-PTX



Giờ



1h

2h

3h

6h

12h

24h

36h

48h



Tỷ lệ phóng

thích (%)



Hàm lượng thuốc PTX (mg)

Lần 1



Lần 2



Lần 3



TB



SD



0,29

0,62

0,84

1,09

1,64

2,06

2,45

2,51



0,28

0,57

0,75

1,15

1,62

2,05

2,35

2,69



0,29

0,63

0,78

1,12

1,63

2,07

2,35

2,58



0,29

0,61

0,79

1,12

1,63

2,06

2,38

2,59



0,05

0,03

0,05

0,03

0,10

0,01

0,06

0,10



5,32

11,2

14,7

20,4

30,1

37,6

44,0

47,3



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Dung dịch 1: Cân chính xác khối lượng các thành phần gồm 500 mg SL, 56 mg CHOL, 5 mg CTAB cho vào bình cầu 100 ml. Hòa tan các thành phần trên vào 5ml dung môi CHCl3/MeOH (2:1, v/v).

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×