Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Phương pháp tiêm ethanol

b. Phương pháp tiêm ethanol

Tải bản đầy đủ - 0trang

LUẬN VĂN THẠC SĨ HĨA HỌC



NGUYỄN THỊ LAN



Hình 2.8 Sơ đồ phương pháp tiêm dung môi

c. Phương phương pháp bay hơi pha đảo

Đầu tiên hệ nhũ tương mịn nước/dầu được tạo thành bởi việc tác động sóng

âm với tần số phù hợp vào hệ thống hai pha chứa phospholipids trong dung môi

hữu cơ (diethylether hoặc isopropylether hoặc hỗn hợp isopropyl ether và

chloroform) và hệ đệm trong nước, sau đó dung môi hữu cơ được loại bỏ dưới áp

suất thấp, kết quả là hình thành các liposome to một lớp hay nhiều lớp. Phương

pháp này có ưu điểm là hiệu quả nang hóa hoạt chất cao ( đạt đến 80%). Bốc hơi

pha đảo có thể nang hóa các hoạt chất phân tử nhỏ, lớn và đại phân tử. Nhược

điểm chủ yếu của phương pháp này là trải qua giai đoạn siêu âm ngắn có thể dẫn

đến chia cắt hoặc làm bất hoạt một số phân tử lớn ( DNA, protein), khó áp dụng

khi chế tạo lượng lớn và phải dùng dung mơi. Để cải thiện các nhược điểm trên

đòi hỏi tỷ trọng của dung môi hữu cơ gần với tỷ trọng pha nước hoặc có thể dùng

CO2 siêu tới hạn để thay cho dung môi hữu cơ (phương pháp bốc hơi pha đảo siêu

tới hạn – SCRPE). Với cải tiến này có thể bào chế liposome với các dược chất

kém bền như peptid [16-20].



24



LUẬN VĂN THẠC SĨ HĨA HỌC



NGUYỄN THỊ LAN



Hình 2.9 Sơ đồ phương pháp bốc hơi pha đảo

2.3.3 Phương pháp giảm kích thước liposome

Mục đích của q trình này là tạo ra liposome có kích thước nhỏ và phân bố

kích thước hẹp, điều này giúp tăng độ ổn định về mặt vật lý, cải thiện hình thức

cho chế phẩm, đồng thời cho phép lọc loại khuẩn liposome và sử dụng liposome

bằng đường tiêm tĩnh mạch. Liposome được làm giảm KTTP bởi các tác dụng

của lực cắt. Các phương pháp được sử dụng để làm giảm kích thước của liposome

là dùng siêu âm hoặc đồng nhất hoặc bằng cách đóng băng và tan băng, thẩm

tách một dung dịch có chứa chất tẩy rửa từ lipid hoặc các phương pháp khác [1620].

a. Phương pháp siêu âm

Siêu âm là một trong những phương pháp phổ biến để bào chế liposome từ

hệ phân tán phospholipid trong pha nước, được áp dụng từ khi bắt đầu

nghiên cứu về liposome. Siêu âm có thể coi là phương pháp phổ biến nhất được

áp dụng để bào chế SUV. Có thể dùng siêu âm bể hoặc siêu âm cầm tay để

làm nhỏ kích thước tiểu phân, áp lực gây ra bởi năng lượng siêu âm phá vỡ

các liposome nhiều lớp kích thước lớn thành các liposome kích thước nhỏ

hơn, có thể là liposome một lớp hoặc liposome nhiều lớp kích thước nhỏ . Kích

thước liposome tạo thành phụ thuộc vào thời gian và cường độ siêu âm, không

phụ thuộc vào chiều dài chuỗi hydrocarbon của các phospholipid. Theo nghiên

cứu của Yamaguchi T. et al. (2009), siêu âm với tần số thấp làm giảm KTTP

nhanh hơn so với siêu âm tần số cao. Cùng tần số và tổng năng lượng, siêu âm

25



LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC



NGUYỄN THỊ LAN



với cường độ mạnh hơn trong thời gian ngắn cho hiệu quả cao hơn siêu âm

cường độ yếu trong thời gian dài. Ưu điểm chính của phương pháp siêu âm là

tiết kiệm thời gian. Tuy nhiên có thể gây quá nhiệt cục bộ. Hơn nữa, liposome

tạo thành có khoảng phân bố kích thước tương đối rộng (các MLV tồn tại đồng

thời với SUV), khơng có sự đồng nhất giữa các lô mẻ [16].

- Siêu âm cầm tay: que siêu âm được đặt ngập trực tiếp vào hỗn dịch

liposome. Năng lượng siêu âm đưa vào là rất lớn và có nguy cơ gây quá nhiệt

cục bộ vì vậy cần làm lạnh mẫu trong q trình siêu âm. Ngồi ra kim loại

(titan) giải phóng từ đầu que gây nhiễm bẩn chế phẩm. Siêu âm liên tục trong 1

giờ khoảng trên 5% lipid bị đề este hóa [16-20].

- Siêu âm bể: Mẫu siêu âm được đựng trong dụng cụ thích hợp và đặt vào bể

siêu âm, việc kiểm soát nhiệt độ trong kỹ thuật này dễ dàng hơn so với siêu âm

cầm tay. Mẫu liposome có thể được bảo vệ trong lọ tiệt trùng hoặc dưới dòng

khí trơ [16-20].

b. Phương pháp ép đùn qua màng

Đùn ép là một biện pháp làm giảm KTTP, sử dụng áp lực vừa phải để đẩy

các liposome trong dung dịch qua các màng lọc polycarbonate tiêu chuẩn với kích

thước màng xác định. Trong phương pháp đùn qua màng, hệ liposome sẽ được ép

đùn qua màng có kích thước lỗ màng 0.2-0.4 μm. Q trình này có thể đồng thời

vô trùng được hệ liposome mang thuốc ứng dụng trong sản xuất các loại thuốc

tiêm. Bên dưới là hình ảnh hệ liposome trước và sau khi qua ép đùn. Sau khi qua

ép đùn hệ sẽ có kích thước nhỏ và đồng nhất hơn. Kỹ thuật đùn ép có nhiều ưu

điểm: nó có thể được áp dụng cho nhiều loại lipid và hỗn hợp, nhanh (thời gian

đùn qua các màng khoảng 10 phút), chi phí thấp, có thể đùn trực tiếp liposome đa

lớp thành đơn lớp, và nó có thể tạo ra các liposome với phạm vi kích thước từ 40

đến 150 nm [16- 23].



26



LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC



NGUYỄN THỊ LAN



Hình 2.10 a) cưa ép đùn, b) ép qua màng 0.4μm, c) ép qua màng 0.2μm

c. Phương pháp đồng nhất hóa ở áp suất cao

Với thiết bị có quy mơ lớn hơn, liposome có thể được nén qua màng với áp

suất cao hơn, sử dụng khí nén là nitơ. Liposome sẽ bị “bóc từng lớp một” cho

đến kích thước mong muốn. Khi bị nén qua lỗ lọc hình trụ, liposome có đường

kính nhỏ hơn lỗ lọc dễ dàng đi qua màng lọc. Liposome có kích thước lớn hơn

đường kính lỗ lọc, một số sẽ bị biến dạng để đi qua lỗ lọc và bị một số tác động

của lực trượt sẽ bị “bóc” lớp vỏ ngồi sau khi đi qua lỗ lọc. Tỉ lệ liposome nứt

vỡ phụ thuộc vào bản chất màng lipid, đường kính lỗ lọc, mơi trường hydrat

hóa và áp suất nén. Thường nén tuần hồn nhiều vòng cho đến lúc thu được

liposome khoảng 50-100 nm. Đây là phương pháp dễ áp dụng trong sản xuất, ít

ảnh hưởng đến độ ổn định của liposome. Tuy nhiên nhiều liposome bị phá vỡ khi

nén dưới áp suất cao dẫn đến hao hụt và tạo các mảnh phospholipid trong hỗn

dịch. Hiện đã có thiết bị sản xuất mẻ lớn có vỏ làm mát. Có thể kết hợp đồng nhất

hóa trong thiết bị vi hóa lỏng kết hợp với đùn qua màng lọc [16-20].



27



LUẬN VĂN THẠC SĨ HĨA HỌC



NGUYỄN THỊ LAN



Hình 2.11 (a)Thiết bị đùn ép mini extruder ;(b) Thiết bị đồng nhất hóa áp suất cao

d. Phương pháp đơng khơ

Đơng khơ là q trình làm khơ sản phẩm trong các điều kiện đặc biệt, trong

đó sản phẩm được đơng lạnh, sau đó dung mơi sẽ được thăng hoa trực tiếp (giai

đoạn làm khô sơ cấp) rồi giải hấp phụ (giai đoạn làm khơ thứ cấp) để ngăn chặn

phản ứng hóa học và sự phát triển của vi sinh vật . Đông khô là một trong những

giải pháp quan trọng nhằm nâng cao độ ổn định, kéo dài tuổi thọ của liposome,

giảm được tỷ lệ rò rỉ dược chất qua vỏ, nâng cao độ ổn định hóa học của dược

chất khơng bền với nhiệt. Nếu liposome có chứa trehalose, lactose, sucrose,

manitol… sẽ giữ lại 100% thành phần gốc ban đầu của liposome, hạn chế sự tan

chảy vỏ liposome đông khô trong quá trình bảo quản chống lại sự rò rỉ dược chất

khỏi liposome, kéo dài tuổi thọ của sản phẩm đông khô tốt hơn so với các loại

đường khác. Các đường đôi như lactose, trelactose, sucrose được sử dụng rộng

rãi hơn trong đơng khơ. Các đường đơn là q nhỏ để có thể ổn định liposome ở

trạng thái khơ. Ngồi ra, mannitol hay glycerol còn được biết đến như những chất

bảo vệ cấu trúc thường được sử dụng trong đông khô, giúp duy trì sự đồng nhất

của hỗn dịch. Cụ thể, nếu sử dụng kết hợp một lượng nhỏ glycerol và carbohydrat

có sự đồng nhất cao hơn (PDI < 0,15) so với các mẫu chỉ sử dụng carbohydrat

(PDI < 0,3). Ưu điểm của quá trình này là loại nước ở nhiệt độ thấp làm giảm tốc

độ phản ứng phân hủy DC đáng kể so với việc loại nước bằng phương pháp khác,

sản phẩm đơng khơ hòa tan rất nhanh khi cần hào tan trở lại, thuốc được phân liều

vào lọ trước khi đông khô ở dạng dung dịch nên dễ dàng đạt được yêu cầu đồng

nhất về hàm lượng DC, hạn chế phản ứng oxy hóa – khử DC. Tuy nhiên hạn chế

của phương pháp này thời gian tiến hành kéo dài, giá thành sản phẩm cao, thiết bị

28



LUẬN VĂN THẠC SĨ HĨA HỌC



NGUYỄN THỊ LAN



phức tạp, nhiều loại thuốc mới có bản chất protein dễ bị mất hoạt tính hoặc phá

hủy trong q trình đơng lạnh [16-20].



Phân tán liposome trong nước



Đơn

g



k hơ



Liposome kích thước lớn



Liposome dạng bột

Phân tán liposome trong nước

Thêm đường



MLVs



SUVs



Đơng khơ

Liposome kích thước nhỏ

Liposome dạng bột



Hình 2.12 Q trình đơng khơ liposome có và khơng sử dụng đường

2.4 Phương pháp đưa dược chất vào liposome

Trong liposome 1 lớp, các phân tử thân nước phân bố chủ yếu ở li nước,

các phân tử thân dầu tập trung bên trong lớp phospholipid kép. Các phân tử

lưỡng cực có khả năng phân bố ở cả hai nơi, bên trong lõi thân nước hoặc trong

lớp lipid kép. Trong liposome nhiều lớp sự phân bố dược chất xảy ra tương tự và

các phân tử thân nước hoặc lưỡng cực còn có thể phân bố ở giữa hai lớp lipid

kép. Ngoài ra, đối với liposome tích điện dương vừa có khả năng nang hóa và

tạo phức hợp với các hợp chất tích điện âm.

Tỷ lệ nang hóa thuộc vào loại liposome và bản chất của hoạt chất. MLV

hoặc LUV có thể tích lớn nên thường có tỷ lệ nang hóa cao hơn so với SUV. Các

phân tử lưỡng cực có khả năng phân bố khắp trong tiểu phân liposome nên tỷ lệ

nang hóa cao.

Khi bào chế liposome bằng phương pháp hydrat hóa phim, dược chất có thể

được đưa vào trong liposome bằng hai phương pháp:

Phương pháp gắn thụ động: dược chất được phối hợp ngay trong quá trình

bào chế hình thành liposome. Tùy theo chỉ số cân bằng dầu – nước (HLB) của

hoạt chất, hoạt chất được mang trong tiến tình điều chế liposome ở những giai

đoạn phù hợp. Hoạt chất thân nước hòa tan trong nước, hoạt chất thân dầu hoặc

lưỡng cực thường hòa tan trong pha lipid. Như vậy trong quá trình bào chế bản



29



LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC



NGUYỄN THỊ LAN



thân dược chất đã được đưa vào bên trong liposome. Phương pháp này thường

cho hiệu suất nang hóa thấp.

Phương pháp gắn chủ động: dược chất được đưa vào liposome bằng cách

hòa tan khi bào chế xong liposome chưa có chứa dược chất, hòa tan các dược

chất trong dung dịch, phối hợp vào liposome rồi ủ với điều kiện nhiệt độ, thời

gian nhất định để hoạt chất đi qua màng gắn bên trong liposome theo cơ chế

khác nhau. Để tăng hiệu suất đưa dược chất gắn vào trong liposome có thể dùng

các phương pháp: chênh lệch pH, chênh lệch áp suất thẩm thấu hoặc nồng độ

ion.

Như vậy sau bước đưa dược chất vào bên trong liposome, dược chất ưa

nước sẽ nằm trong khoang nước của liposome, còn dược chất ưa dầu sẽ nằm

trong các lớp vỏ lipid.

Trong thực tế người ta có thể kết hợp cả hai phương pháp để đưa dược chất

vào trong liposome nhằm tăng hiệu suất của quá trình này [2].

2.5 Tính chất của liposome [24-28]

2.5.1 Sự chuyển đổi pha theo nhiệt độ

Các trật tự của phospholipid trong phạm vi một lớp màng liposome thì dựa

vào nhiệt độ, vùng nhiệt độ được đề cập ở đây là vùng cấu trúc gel và vùng dung

dịch lỏng, tinh thể lỏng, đặc trưng thì có mặt ở cả hai vùng trên, với trạng thái

cân bằng giữa hai vùng nó là vị trí trên vùng nhiệt độ được xác định bởi sự có mặt

của các loại phospholipid và các acid béo, ở nhiệt độ cao thì hướng đến pha lỏng

có khả năng thấm qua được nhiều hơn, ở nhiệt độ thấp thì hướng về pha gel với

mật độ dày nhiều hơn nhiệt độ cân bằng giữa hai pha gọi là nhiệt độ tới hạn hay

còn gọi là nhiệt độ chuyển đổi pha, các phospholipid khác nhau thì có nhiệt độ

chuyển đổi pha khác nhau, nhiệt độ chuyển đổi pha của một màng hỗn hợp khơng

đồng nhất thì thường bằng với nhiệt độ tới hạn của thành phần phospholipid,

nhiệt độ chuyển đổi pha của liposome dựa trên cơ sở tính chất đặc trưng và hoạt

động của chúng bao gồm tính xuyên thấm qua màng, tính xuyên thấm qua màng

đạt cao nhất tại nhiệt độ chuyển đổi pha, bởi vì tại điểm này là nơi mà pha gel và

pha lỏng tinh thể gặp nhau các phân tử của màng khơng thể duy trì cấu trúc đã

được sắp xếp tại mỗi pha điều này dẫn đến nhiều nhược điểm trên sự gắn kín

của liposome tại thời điểm giao pha. Điều này thì thuận lợi cho việc bẫy các

vật liệu rồi khuếch tán qua khu vực cấu trúc ít hơn qua khu vực kết hợp hoàn

toàn của một pha, do đó sự phóng thích các vật liệu đã bẫy có thể điều khiển được



30



LUẬN VĂN THẠC SĨ HĨA HỌC



NGUYỄN THỊ LAN



bởi sự chọn lọc cẩn thận các hợp chất của màng có nhiệt độ chuyển pha tương

ứng với nhiệt độ phân tán .

2.5.2 Lớp mỏng (lamellarity)

Tính chất lớp mỏng của liposome có một hiệu quả chủ yếu trong hiệu suất

mang hóa của liposome và tỷ lệ nang hóa của các vật liệu ở phía trong khoảng

khơng gian của liposome. Do có tính chất lớp mỏng liposome tăng hiệu quả nang

hóa lên rất nhiều, cụ thể ở dạng cấu trúc đa lớp lớp mỏng này bao phủ lớp mỏng

khác nhỏ hơn, phần khoang chứa ở phía trong lại chứa được nhiều các liposome

khác giúp tăng hiệu suất nang hóa hơn.

2.5.3 Sự xuyên thấm

Màng liposome là một màng bán thấm, chấp nhận sự chuyển đổi của một

vài phân tử và ion với các mối liên hệ không bị ràng buộc trong khi đưa ra một

chất làm cản trở chất khác, tính xun thấm của lớp màng thì có một sự đo lường

của dòng hoặc tỷ lệ tại nơi mà có sự khuếch tán dung dịch từ khoang chứa ở trong

ngăn qua lớp và vào trong dung dịch, mối liên hệ của tính xuyên thấm sẽ biến đổi

dựa trên phân tử, điều kiện môi trường thành phần của màng và lượng mất đi hay

thêm vào Liposome và lịch sử của quá trình tạo thành hay lưu trữ của dung dịch,

tính xun thấm của màng cao nhất tại nhiệt độ chuyển đổi pha và xuyên thấm

chậm hơn trên pha gel và sau đó là pha lỏng, các dung dịch có độ phân cực mạnh

như protein thì phân tán chậm qua màng trong khi các dung dịch có độ

phân cực thấp hơn như glucose thì phân tán qua màng dễ dàng và nhanh hơn,

các phân tử nhỏ hơn với điện tích trung hòa thì thấm qua màng nhanh, nhưng sự

xem xét chuyển đổi điện tích ion thì đang được ngiên cứu, các proton và ion

hydroxyl hướng đến sự xuyên thấm nhanh, ion Na+ và K+ thì chậm hơn và các

anion như Cl- và NO3- thì tốc độ xun thấm có mức độ, các màng ở ion nhiều

hóa trị thì xun thấm ít hơn là màng ion một hóa trị do sự tăng lên điện tích và

kích thước, sự bao gói khơng đều như là ở các điểm, hàng hoặc nhược điểm ở

vùng ranh giới trên màng có thể chấp nhận các phân tử nhỏ qua một cách dễ

dàng hơn. Thành phần acid béo của các mẫu phospholipid sẽ ảnh hưởng đến

tính xuyên thấm của liposome, với mức độ no của acid béo ảnh hưởng đến nhiệt

độ chuyển đổi pha do đó tính thấm của màng cũn g khác nhau tại các nhiệt độ, sử

dụng phospholipid với chuỗi acid béo dài hơn sẽ tăng độ dày của lớp màng và

làm giảm tỷ lệ phân tán qua màng ở tất cả các dung dịch.



31



LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC



NGUYỄN THỊ LAN



Các phản ứng giữa lớp màng và các thành phần có trong dung dịch

Liposome có thể ảnh hưởng đến tính thấm của màng, như sterol là chất ổn định

màng thì thường sẽ giảm tính xun thấm qua màng trong khi các phân tử làm

mất tính ổn định của càng thì sẽ tăng tính xun thấm qua màng.

2.5.4 Sự ổn định của liposome

Có hai khu vực chính quan trọng trên sự ổn định của liposome là ổn định

trên quá trình hoặc lưu trữ và ổn định trên thân thể, ứng dụng trong ngành dược

gần đây nhất thì các yếu tố này là cực kì quan trọng, như giải phóng thuốc trong

hệ thống máu cần thiết cho việc xác định một cách rõ ràng, tuy nhiên vấn đề chủ

yếu trong ứng dụng ngành thực phẩm thì chỉ ổn định trước khi sử dụng. Sự phân

tán của liposome phải giải thích sự ổn định thích hợp về sự chuyển đổi hóa học

và vật lý, sự hoạt động độc lập cao của liposome trên các hợp phần, nghĩa là nó

rất khó khăn để biết được nếu một hệ thống Liposome riêng sẽ giữ lại cấu trúc và

tính năng dưới một sự thay đổi khác, sự ổn định của bất kì hệ thống liposome

nào dưới điều kiện như pH, nhiệt độ hoặc sự có mặt của các chất làm suy biến, sẽ

dựa trên các hợp phần của hỗn hợp phospholipid sử dụng và kể cả các hợp chất

có tính bảo vệ ổn định chúng như chất chống oxy hóa và các chất có tính ổn định

nhiệt. Để đảm bảo sự ổn định lâu dài của liposome phải bảo quản cẩn thận tránh

sự khử nước, sự chuyển đổi pha và sự vỡ màng. Sử dụng dung dịch đường nồng

độ cao trên cả hai mặt của màng có thể làm giảm sự phá vỡ màng.

2.6 Phương pháp đánh giá liposome

2.6.1 Tính chất

Quan sát mắt thường hệ lipoosme phân tán đồng nhất, không có các hiện

tượng biến đổi vật lý trong q trình bảo quản như: kết bông, nổi kem, lắng cặn,

hợp nhất và tách pha [2].

2.6.2 Kích thước và phân bố kích thước tiểu phân liposome

Kích thước tiểu phân liposome liên quan nhiều đến hiệu quả đưa thuốc đến

tế bào đích (mơ bệnh) của liposome và hiệu quả lâm sàng, thời gian bán thải của

thuốc. Kích thước tiểu phân càng nhỏ gần 100 nm sẽ đem lại hiệu quả điều trị cao

hơn. Các liposome được bào chế ra có kích thước dao động trong một khoảng xác

định. Khoảng dao động này càng hẹp, kích thước tiểu phân liposome càng đều

đặn thì cho hiệu quả điều trị và hiệu quả nhả thuốc càng cao. Do vậy trong bào



32



LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC



NGUYỄN THỊ LAN



chế liposome mang dược chất, ngoài việc làm nhỏ các tiểu phân người nghiên

cứu còn phải dùng các kỹ thuật để làm đồng đều hóa các tiểu phân liposome.

Để xác định kích thước tiểu phân liposome và phân bố kích thước có thể đo

trực tiếp bằng các phương pháp đánh giá như phương pháp nhiễu xạ ánh sáng

động hay dùng thiết bị laser. Kết quả thu được là kích thước của các tiểu phân

trong hệ phân bố ở các khoảng nào với tỷ lệ bao nhiêu. Liên quan đến sự phân bố

kích thước tiểu phân của hệ liposome là chỉ số đa phân tán PDI. Chỉ số này càng

nhỏ phản ánh kích thước các tiểu phân trong hệ liposome càng đồng đều. PDI của

hệ liposome từ 0,1 đến 0,3 được coi là phân bố hẹp, PDI trên 0,5 là phân bố rộng

[2, 29].

2.6.3 Hình thể học

Các thơng số hình thái bên ngoài được đánh giá bằng cách quan sát, chụp

bởi kính hiển vi điện tử qt (SEM) có khả năng phóng đại đến 300.000 lần và

chụp được các tiểu phân liposome tới kích thước trên 10 nm. Qua đánh giá này

thu được hình ảnh bề mặt của liposome [2].

Để đánh giá cấu trúc cắt ngang của liposome, sử dụng hệ thống kính hiển vi

điện tử truyền qua (TEM) có khả năng chụp được mặt cắt của tiểu phân. Qua

đánh giá này thu được hình ảnh cắt ngang cấu trúc của tiểu phân liposome, hình

ảnh cấu trúc lớp vỏ lipid và bên trong nhân của liposome [2, 22, 23].

Ngoài ra hiện nay người ta còn dùng một số phương pháp đánh giá như

chụp bằng kính hiển vi cộng hưởng từ hạt nhân (ARS) cho hình ảnh 3 chiều của

tiểu phân, kính hiển vi nhiệt quét (STM), kính hiển vi lực nguyên tử (AFM) [2,

29-31].

2.6.4 Độ tích điện/thế zeta

Đo thế zeta để xác định sự tích điện bề mặt tiểu phân nhằm tối ưu hóa thơng

số cơng thức và dự đốn độ ổn định của hệ keo. Thế zeta thích hợp sẽ làm tăng

lực đẩy tĩnh điện, giảm kết tụ tiểu phân, hỗn dịch sẽ ổn định hơn. Dùng thiết bị

zetasizer vừa đo điện thế vừa xác định kích thước tiểu phân. Trong nghiên cứu

liposome, dùng thế zeta để đánh giá độ ổn định của tiểu phân trong quá trình bảo

quản hoặc sự tương tác với tế bào đích trong cơ thể [2].



33



LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC



NGUYỄN THỊ LAN



2.6.5 Khả năng nang hóa thuốc

Biểu thị khả năng thuốc bị bắt giữ bên trong hoặc hấp phụ trên bề mặt tiểu

phân phân tán. Khả năng định vị hoạt chất ở tiểu phân ảnh hưởng rất lớn đến khả

năng giải phóng dược chất in vitro và in vivo của các tiểu phân [30].

a. Phương pháp loại thuốc khơng bị nang hóa

Kỹ thuật loại thuốc tự do thường dựa trên kích thước tiểu phân phân tán.

Thẩm tách: hiện tượng khuếch tán thuốc tự do qua màng theo gradient nồng

độ. Kích thước lỗ màng phải nhỏ hơn kích thước tiểu phân. Phương pháp này

khơng pha lỗng mẫu nhưng có nguy cơ hấp phụ thuốc trên màng [2].



Hình 2.13 Mơ hình thẩm tách

Siêu ly tâm: dùng để tách thuốc tự do ra khỏi hệ tiểu phân phân tán với lực

ly tâm rất lớn khoảng 20.000 - 40.000 vòng/phút. Nếu tiểu phân có tỷ trọng thấp

hơn tỷ trọng của môi trường phân tán sẽ nổi lên bề mặt ống ly tâm còn thuốc tự

do sẽ hòa tan trong môi trường hoặc lắng xuống đáy (khi quá bão hòa). Ngược lại

nếu tỷ trọng của tiểu phân cao hơn tỷ trọng của môi trường tiểu phân sẽ lắng

xuống đáy. Phương pháp này loại tốt và không bị pha lỗng mẫu, tuy nhiên đơi

khi loại khơng hồn tồn và có thể phá hủy cấu trúc tiểu phân [2, 29].

Siêu lọc: lọc qua màng lọc có kích thước lỗ lọc siêu nhỏ chỉ cho thuốc tự do

theo dịch lọc đi qua, còn tiểu phân nằm lại trên màng lọc. Phương pháp thường

được áp dụng khi tỉ trọng tiểu phân thấp hơn so với tỉ trọng môi trường phân tán.

Phương pháp siêu lọc có thể kết hợp siêu ly tâm với một bộ kit phân tích chuyên

nghiệp [2].



34



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Phương pháp tiêm ethanol

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×