Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.3 Hiện tượng tăng tính thấm và lưu giữ

Hình 2.3 Hiện tượng tăng tính thấm và lưu giữ

Tải bản đầy đủ - 0trang

LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC



NGUYỄN THỊ LAN



trong cơ thể. Mặc dù đã sử dụng kháng thể người để điều trị ung thư nhưng chúng

vẫn chưa được phổ biến rộng rãi trong lâm sàng. Nhiều phân tử đã được phát hiện

trên bề mặt tế bào trong các điều kiện bệnh lý, vì vậy liposome miễn dịch được

xem là một cơng cụ chẩn đoán và chữa bệnh đầy hứa hẹn trong tương lai. Tuy

nhiên tính bám đặc hiệu của liposome với tế bào đích khơng ln ln dẫn đến sự

phân phối thuốc có hiệu quả. Các kháng ngun đích mà tế bào tiếp thu có thể

làm trung gian phân phối thuốc nội bào có hiệu quả. Vì vậy chiến lược tạo ra

Liposome miễn dịch được tối ưu hóa để sự phân phối thuốc và sự tiếp thu nội bào

xảy ra [4, 6].



Hình 2.4 Các loại liposome

A.

B.

C.

D.



Liposome quy ước: a- thuốc tan trong nước; b- thuốc tan trong dầu

Liposome miễn dịch: c,d-kháng thể gắn trên bề mặt liposome

Liposome tồn tại lâu: e-các phân tử PEG

Liposome miễn dịch tồn tại lâu



E.



Các dạng liposome với các chất hướng đích khác



Liposome miễn dịch tuần hồn dài: Đây là loại liposome kết hợp các ưu

điểm của liposome tồn tại lâu và liposome miễn dịch nhằm cải tiến hơn nữa khả

năng mang tới đích của liposome. Đặc điểm cấu tạo của liposome này sẽ có lớp

áo polyme bảo vệ ở bên ngồi và các chất hướng đích sẽ được gắn vào đuôi các

phân tử polyme bảo vệ hoặc gắn lên lớp vỏ liposome [6].

18



LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC



NGUYỄN THỊ LAN



Các nghiên cứu hiện nay tập trung vào kiểm sốt giải phóng thuốc khỏi

liposome và đã chế tạo ra các liposome thơng minh chỉ giải phóng thuốc khi nhận

được những kích thích đặc hiệu tại mơ đích. Các liposome này được gọi là

liposome cảm ứng. Trong thành phần cấu tạo vỏ của các liposome cảm ứng có

chứa một tỷ lệ nhất định các chất cảm ứng, đó có thể là các phospholipid đặc biệt

hoặc các polime có khả năng bị phân giải cấu trúc về mặt vật lý hoặc hóa học khi

nhận được tín hiệu kích thích tại mơ đích. Tác nhân gây kích thích có thể là thuộc

tính đặc trưng tại mơ bị bệnh như pH, tác nhân oxy hóa khử, tác nhân phân giải

cấu trúc tại mơi trường mơ bệnh (tác nhân nội) hoặc có thể là do tác động từ bên

ngoài như siêu âm và năng lượng điện từ trường, nhiệt độ (tác nhân ngoại) [4, 712].

Các liposome thơng minh có thể được PEG hóa bề mặt, trên các phân tử có

thể được gắn thêm nhiều nhóm phân tử khác nhau để thực hiện nhiều nhiệm vụ

khác nhau cùng lúc khi liposome di chuyển trong hệ tuần hồn. Khi đó ta sẽ có

các liposome thông minh đa chức năng [4].

2.2 Thành phần

Phần vỏ liposome bao gồm:

2.2.1 Phospholipid [1]

- Phospholipid tự nhiên: hay dùng đến là phosphatidylcholin (PC), nguồn

tự nhiên là lecithin của trứng hoặc đậu tương, trong đó đầu phân cực thân nước

là phosphocholine liên kết với 2 đuôi hydrocacbon kỵ nước là oleoyl và

palmitoyl thơng qua cầu glycerin. Ngồi ra còn có phosphatidylethanolamine

(PE), phosphatidylserine (PS), phosphatidylglycerol (PG)…

- Phospholipid tổng hợp được sử dụng trong liposome như Dioleyl

phosphatidylcholine (DOPC), disteroyl phosphatidylcholine (DSPE), dioleoyl

phosphatidylethanolamine (DOPE)…

Việc lựa chọn phospholipid cho thành phần của liposome là rất quan trọng,

ảnh hưởng đến các đặc tính của liposome. Vì vậy, việc lựa chọn phải căn cứ trên

các đặc điểm sau:

• Mức



độ bão hòa của lipid: phospholipid khơng bão hòa (như

phosphatidylcholin lòng đỏ trứng, phosphatydylglycerol,…) dễ bị peroxyde hóa

dẫn đến hỏng màng, rò rỉ dược chất. Vì vậy, phospholipid bão hòa (như

dipalmytoyl phosphatidylcholin, dipalmitidyl phosphatidic,…) được sử dụng

nhiều hơn. Quá trình oxy hóa phospholipid trong liposome chủ yếu diễn ra trong

19



LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC



NGUYỄN THỊ LAN



chuỗi acyl béo khơng bão hòa theo cơ chế chuỗi gốc tự do. Nhưng các axit béo

bão hòa cũng có thểbị oxy hóa ở nhiệt độ cao . Có thể cho thêm vào thành phần

liposome chất chống oxy hóa như α-tocoferol, BHA, BHT,… nhưng có thể sẽ

làm mất ổn định vật lý của liposome và tăng khả năng kết tụ .

• Khả năng tích điện: phospholipid tích điện (phosphatidylglycerol, acid



phosphatidic,…) sẽ làm tăng thể tích khoang nước hoặc tạo nên liên kết tĩnh điện

với dược chất tích điện. Thay đổi điện tích trên bề mặt liposome có thể thay đổi

đặc tính dược động học và sự phân bố của liposome trong cơ thể.

• Nhiệt độ chuyển pha (TC): liên quan đến hiện tượng chuyển pha của



phospholipid. Ở dưới nhiệt độ chảy, vỏ phospholipid ở trạng thái gel có cấu trúc

bền chặt, khó thấm, còn ở trên nhiệt độ chảy, phospholipid chuyển sang trạng

thái lỏng với cấu trúc sắp xếp lỏng lẻo, dễ dò rỉ dược chất khi bào chế, bảo quản

liposome. Liposome sử dụng trong điều trị cần ổn định trong điều kiện sinh lý,

do đó nên sử dụng các phospholipid có TC > 37°C .

- Độ tinh khiết: tùy theo mục đích nghiên cứu và sử dụng mà yêu cầu

nguyên liệu có độ tinh khiết khác nhau .



Hình 2.5 Cấu trúc của các loại phospholipid



20



LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC



NGUYỄN THỊ LAN



2.2.2 Cholesterol

Cholesterol có thể tương tác bên trong màng phospholipid ở nồng độ cao

với tỷ lệ mol cholesterol/phospholipid lên đến 100-200%. Tuy nhiên, trong thành

phần liposome, cholesterol thường chiếm tỷ lệ 20-30%. Tỉ lệ cholesterol cao quá

cũng có thể ảnh hưởng ngược lại đến sự vững chắc của màng. Những phân tử

lưỡng tính cholesterol chèn vào màng với nhóm hydroxyl hướng về phía bề mặt

dung dịch nước và mạch thẳng lipid song song với mạch acyl ở giữa màng lipid

kép và cũng làm tăng sự tách biệt giữa nhóm choline và loại bỏ sự tương tác tĩnh

điện với liên kết hydro. Các phospholipid được sắp xếp theo một cách mà các

đầu ưa nước được tiếp xúc với bên ngoài và ưa dầu được sắp xếp bên trong. Điều

này làm cho phân tử thân nước hòa tan trong liposome [13-14].

2.3 Các phương pháp điều chế liposome

Theo A.Akbarzadeh [15], để điều chế liposome gồm các giai đoạn sau:

- Làm khô lipid từ dung môi hữu cơ

- Phân tán các lipid trong môi trường nước

- Tinh chế liposme

- Phân tích sản phẩm cuối.

2.3.1 Phương pháp hydrate hóa màng mỏng lipid

Phương pháp này được Bangham đưa ra và phát triển từ năm 1965 và cho

đến nay vẫn là phương pháp được sử dụng nhiều để bào chế liposome vì tính tiện

ích, dễ thực hiện, khơng yêu cầu thiết bị công nghệ cao, dễ bổ sung cải tiến và

theo kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả mang thuốc của nó khá cao

so với các phương pháp khác. Như hình bên dưới, ban đầu lipid được hồ tan

trong hệ dung mơi. Tiến hành cơ quay hệ dung dịch này để làm bay hơi dung môi,

tăng dần nồng độ lipid trong hệ. Các phân tử lipid theo cơ chế tự hợp sẽ tạo thành

các lớp màng lipid mỏng. Sau khi làm bay hơi hết dung mơi, người ta tiến hành

hydrate hố lớp màng mỏng lipid này bằng dung dịch đệm hoặc dung dịch mang

thuốc. Quá trình này được tiến hành bằng cách khuấy trộn để tạo được các

Liposome có kích thước lớn và các Liposome đa lớp. Để làm nhỏ các hạt này và

tạo Liposome đơn lớp, người ta còn phải áp dụng thêm các phương pháp khác

như: dùng sóng siêu âm, qua màng ép đùn, đồng hoá…[16-20].

Trong phương pháp này, tuỳ vào bản chất của thuốc mà người ta có thể đưa

thuốc vào Liposome ở các giai đoạn khác nhau như hình 2.6. Thuốc thuộc hệ ưa

dầu sẽ được hoà tan cùng với lipid trong dung môi ở giai đoạn đầu. Hiệu suất

21



LUẬN VĂN THẠC SĨ HĨA HỌC



NGUYỄN THỊ LAN



mang thuốc khá cao, có thể gần đạt 100%. Tuy nhiên, nếu thuốc là hệ ưa nước sẽ

được hoà tan với dung dịch đệm dùng để hydrate lớp màng lipid. Trong trường

hợp này, hiệu suất thu được sẽ khơng cao < 30% [16-20].



Hình 2.6 Sơ đồ phương pháp hydrate hóa màng mỏng lipid



Hình 2.7 Cơ chế hình thành liposome



22



LUẬN VĂN THẠC SĨ HĨA HỌC



NGUYỄN THỊ LAN



2.3.2 Phương pháp phân tán dung môi

a. Phương pháp tiêm ether

Kỹ thuật này lần đầu tiên được nghiên cứu bởi Bangham và cộng sự năm

1976 gồm các bước sau:

- Dung dịch lipid sẽ được hòa tan trong diethylether hoặc hỗn hợp ether/methanol.

- Tiêm dung dịch trên vào pha nước chứa hoạt chất ở nhiệt độ 55-65°C hoặc dưới



áp suất giảm. Trong quá trình tiêm và phân tán vào trong pha nước, ether sẽ bốc

hơi và hình thành các liposome.

Đối với phương pháp này, nhiệt độ của pha nước, nồng độ lipid trong ether

và tốc độ tiêm là các yếu tố quan trọng cần kiểm được kiểm sốt trong q trình

điều chế. Nhược điểm chính của phương pháp này là liposome thu được không

đồng nhất và một số thành phần của cơng thức có thể phân hủy dưới nhiệt độ cao

[16-20].

b. Phương pháp tiêm ethanol

Hòa tan lipid trong ethanol (nồng độ lipid khoảng 50 µmol/ml đơi khi có thể

đạt đến 100 µmol/ml) sau đó tiêm nhanh dung dịch lipid vào một lượng lớn pha

nước hoặc hệ đệm ở nhiệt độ cao hơn T s của phospholipid. Nồng độ ethanol sau

khi tiêm trong dung dịch khơng vượt q 7,5%. Q trình tiêm có thể được tiến

hành dưới áp suất giảm. Kích thước của các tiểu phân tạo thành phụ thuộc vào

nồng độ lipid hòa tan trong ethanol, thơng thường nồng độ phospholipid nằm

trong khoảng 4-40 mM, kích thước của các liposome được tạo ra từ 30-120 nm.

Phương pháp này có ưu điểm là không sử dụng nhiệt độ nên các thành phần lipid

ổn định, không bị phân hủy. Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là dung

dịch liposome thu được có nồng độ thấp, khó khăn khi loại bỏ hồn tồn ethanol

và nhiều hợp chất sinh học bị bất hoạt trong dung dịch có ethanol. Phương pháp

tiêm ether và ethanol chủ yếu thực hiện ở quy mơ phòng thí nghiệm [16-20].



23



LUẬN VĂN THẠC SĨ HĨA HỌC



NGUYỄN THỊ LAN



Hình 2.8 Sơ đồ phương pháp tiêm dung môi

c. Phương phương pháp bay hơi pha đảo

Đầu tiên hệ nhũ tương mịn nước/dầu được tạo thành bởi việc tác động sóng

âm với tần số phù hợp vào hệ thống hai pha chứa phospholipids trong dung môi

hữu cơ (diethylether hoặc isopropylether hoặc hỗn hợp isopropyl ether và

chloroform) và hệ đệm trong nước, sau đó dung mơi hữu cơ được loại bỏ dưới áp

suất thấp, kết quả là hình thành các liposome to một lớp hay nhiều lớp. Phương

pháp này có ưu điểm là hiệu quả nang hóa hoạt chất cao ( đạt đến 80%). Bốc hơi

pha đảo có thể nang hóa các hoạt chất phân tử nhỏ, lớn và đại phân tử. Nhược

điểm chủ yếu của phương pháp này là trải qua giai đoạn siêu âm ngắn có thể dẫn

đến chia cắt hoặc làm bất hoạt một số phân tử lớn ( DNA, protein), khó áp dụng

khi chế tạo lượng lớn và phải dùng dung môi. Để cải thiện các nhược điểm trên

đòi hỏi tỷ trọng của dung môi hữu cơ gần với tỷ trọng pha nước hoặc có thể dùng

CO2 siêu tới hạn để thay cho dung môi hữu cơ (phương pháp bốc hơi pha đảo siêu

tới hạn – SCRPE). Với cải tiến này có thể bào chế liposome với các dược chất

kém bền như peptid [16-20].



24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.3 Hiện tượng tăng tính thấm và lưu giữ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×