Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



vụ sản xuất, thu hoạch, thu mua, chế biến, bảo quản, tiêu thụ. Tái cơ cấu nông

nghiệp đƣợc xem là một q trình (từ Trung ƣơng là Chính phủ và các cấp địa

phƣơng nhƣ cấp tỉnh…) thông qua ban hành hệ thống các chính sách (tài

chính, tiền tệ, hành chính, kinh tế…) và sử dụng các công cụ thuộc chức

năng, nhiệm vụ của mình để tác động tới việc phân bổ sử dụng các nguồn lực

sản xuất nông nghiệp cần thiết (đất đai, lao động và vốn…) nhằm sắp xếp cơ

cấu kinh tế nông nghiệp (bao gồm các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm

nghiệp, thủy sản…) theo một xu hƣớng nhất định, đạt đƣợc các mục tiêu đặt

ra trong từng giai đoạn phát triển.

Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một hợp phần của tái cơ cấu tổng thể

nền kinh tế quốc dân, phù hợp với chiến lƣợc và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của cả nƣớc; gắn với phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trƣờng. [1]

Giá trị gia tăng là thuật ngữ dùng để chỉ giá trị tăng thêm đƣợc tạo ra ở

mỗi giai đoạn nhất định của quá trình sản xuất thơng qua hình ảnh của doanh

nghiệp và marketing.

Tóm lại tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hƣớng nâng cao giá trị gia

tăng là quá trình sắp xếp lại các yếu tố liên quan đến chuỗi giá trị các ngành

hàng nông nghiệp từ khâu quy hoạch, cơ sở hạ tầng, tổ chức sản xuất, chuỗi

cung ứng dịch vụ sản xuất, thu hoạch, thu mua, chế biến, bảo quản và tiêu

thụ... tạo ra sự đổi mới về chất lƣợng theo hƣớng chuyên sâu, nâng cao giá trị

gia tăng và phát triển bền vững.

1.1.2. Nội dung của tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao

giá trị gia tăng

1.1.2.1. Thứ nhất, tái cơ cấu không gian sản xuất nông nghiệp

Trên mỗi vùng của đất nƣớc, nơng nghiệp có lợi thế và chức năng, vai

trò kinh tế, xã hội, sinh thái mơi trƣờng khác nhau. Do vậy, cần có nhiều mơ

hình sản xuất nơng nghiệp phù hợp với từng vùng. Quá trình tái cơ cấu cần



6



định hình rõ cơ chế, chính sách, chiến lƣợc phát triển các mơ hình sản xuất

phù hợp theo vùng, miền.

Khu vực phát triển ngành hàng nông nghiệp hiện đại, tập trung quy mô

lớn: Đây là khu vực có quy mơ sản xuất lớn và hiện đại, dùng những tiêu

chuẩn hiện đại nhất về sản xuất, quản trị nông nghiệp để tạo ra giá trị gia tăng

về kinh tế, có chuỗi thƣơng mại mạnh đƣợc quản trị tốt, có thƣơng hiệu, giá

trị gia tăng cao. Mơ hình này có thể triển khai: 1- Ở vùng đã đủ điều kiện cho

phát triển nông nghiệp hiện đại nhƣ lao động nơng nghiệp giảm nhiều, cơng

nghiệp hóa (CNH) và đơ thị hóa (ĐTH) mạnh, tỷ trọng nơng nghiệp thấp, nhƣ

tỉnh Hải Dƣơng, Hải Phòng, Hà Nội, Hƣng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Thành

phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai...; 2- Ở vùng dù CNH và ĐTH chƣa thực sự

mạnh, nhƣng nơng nghiệp là thế mạnh có lợi thế so sánh cao, cơng nghiệp

hóa nơng nghiệp là động lực chính phát triển kinh tế địa phƣơng, có những

ngành hàng xuất khẩu quan trọng. Cần phát triển một bộ phận nông nghiệp

thành ngành hiện đại tập trung quy mô lớn nhƣ cà phê, chè... ở Tây Nguyên,

lâm nghiệp và chè ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, bò sữa ở Sơn La, thủy sản

và lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long...; 3- Ở những vùng sản xuất trồng

trọt khó khăn, CNH và ĐTH thấp, nhƣng lao động dồi dào, trình độ cao, thì

cần phát triển nền nơng nghiệp quy mơ lớn, tập trung nhƣng sử dụng ít đất

đai, cần nhiều lao động trình độ cao, nhƣ chăn ni quy mơ lớn, nông nghiệp

công nghệ cao. Các tỉnh miền Trung nhƣ Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,

Quảng Trị,...phù hợp với chiến lƣợc này. Tại những địa phƣơng này, cần có

quy hoạch những vùng sản xuất với cơ chế quản lý về đất đai khuyến khích

quy mơ lớn. Chính sách phát triển nông nghiệp tuân thủ quản trị hiện đại, hệ

thống hạ tầng, quản lý sản xuất, quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm theo chuẩn

quốc tế cao nhất, sản phẩm nông sản đáp ứng yêu cầu của những nhà nhập

khẩu lớn và khắt khe, cung ứng cho thị trƣờng trong nƣớc những sản phẩm



7



cạnh tranh và vệ sinh an toàn thực phẩm cao. Đây là khu vực, mơ hình tăng

trƣởng nông nghiệp dựa trên kinh tế quy mô, với bản chất là nơng sản đƣợc

sản xuất đồng loạt ít có tính đặc thù, cạnh tranh trên thị trƣờng trên cơ sở giá

bán, thƣơng hiệu doanh nghiệp, sản xuất quy mô lớn đồng loạt, chi phí thấp.

Ở vùng này, kinh tế hộ nơng trại quy mơ lớn đóng vai trò chủ đạo và liên kết

chặt chẽ với doanh nghiệp thành chuỗi khép kín, chun mơn hóa cao, quản

trị minh bạch, có giám sát của Nhà nƣớc và xã hội về tài chính và quản trị

chất lƣợng.

Khu vực phát triển ngành hàng nông nghiệp sinh thái, tự nhiên: Tại các

khu vực miền núi, ven biển, nơng nghiệp đồng thời có chức năng kinh tế và

chức năng sinh thái, cần xây dựng mô hình phát triển nơng nghiệp theo hƣớng

quản trị chặt chẽ về sinh thái, khơng đòi hỏi mức độ thâm canh cao. Có thể tổ

chức sản xuất chăn ni thả ở vƣờn, rừng, nuôi ong gắn với rừng, nuôi thủy

sản gắn với khu bảo tồn sinh thái, rừng nƣớc lợ, trồng trọt theo mơ hình nơng,

lâm kết hợp ít thâm canh, trồng lúa hữu cơ... Giá trị sinh thái chính là yếu tố

quan trọng nhất tạo nên giá trị gia tăng của sản phẩm, tạo hình ảnh sản phẩm

và thƣơng hiệu làm cơ sở tăng trƣởng nông nghiệp và tăng thu nhập của nơng

dân. Sản phẩm có nhãn mác sinh thái sẽ có giá cao hơn sản phẩm thƣờng,

đƣợc các nƣớc phát triển ƣu đãi trong lƣu thông, bù lại những hạn chế về quy

mơ sản xuất nhỏ hơn, ít thâm canh, năng suất thấp hơn. Mơ hình này thuận lợi

nhất là ở các vùng ven biển nuôi trồng thủy sản nhƣ đầm phá của Thừa Thiên

Huế, vùng ven biển, nhƣ Cà Mau, Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, Quảng

Ninh, Cát Bà của Hải Phòng..., hoặc các sản phẩm trồng trọt, chăn ni ở một

số nơi của vùng miền núi phía Bắc, Tây Nguyên.

Khu vực phát triển ngành hàng nông nghiệp chỉ dẫn địa lý: Những khu

vực mà chất lƣợng sản phẩm nơng sản có tính đặc thù xuất phát từ hệ sinh

thái và văn hóa bản địa, có sự khác biệt rõ nét so với sản phẩm cùng loại từ



8



địa phƣơng khác, thì có thể quy hoạch phát triển vùng sản xuất chỉ dẫn địa

lý.Mơ hình này có lợi thế cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập của

ngƣời sản xuất, doanh nghiệp dựa trên nhân tố đặc thù bản địa của sản phẩm.

Mặt khác, sản phẩm đóng gói nhãn mác dùng chỉ dẫn địa lý có thuận lợi

thƣơng mại rất lớn thông qua những thỏa thuận bảo hộ chỉ dẫn địa lý, tên gọi

xuất xứ song phƣơng hoặc đa phƣơng,đồng thời gắn kết với du lịch nông

nghiệp sinh thái tạo giá trị tổng hợp cho địa phƣơng. Nhƣ kinh nghiệm các

nƣớc và Việt Nam, vùng sản xuất đặc sản thƣờng gắn với sinh kế hộ nghèo,

vùng dân tộc nên đây là một cách tiếp cận tốt để phát triển nơng thơn các

vùng khó khăn. Quy mơ sản xuất có thể lớn, nhƣng phần lớn là quy mô nhỏ,

rất đa dạng về chất lƣợng sản phẩm và phải bảo đảm an tồn vệ sinh thực

phẩm, tính đặc thù cao về chất lƣợng. Nhiều sản phẩm, nhƣ rƣợu, thịt, sữa,

lúa mì, chè, cà phê... của nhiều nƣớc đã áp dụng mơ hình tổ chức sản xuất này

với doanh số hàng trăm tỷ USD.

Khu vực phát triển ngành hàng nơng nghiệp kết hợp an ninh, quốc

phòng: Tại nhiều vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc còn khó

khăn, sản xuất nơng nghiệp khơng chỉ với mục đích kinh tế mà còn để ổn định

xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Cần nghiên cứu xây dựng mơ hình tổ

chức sản xuất nơng nghiệp với sự hỗ trợ mạnh của Nhà nƣớc về dịch vụ công

theo cơ chế thị trƣờng. Cần hình thành cơ chế, chính sách về: 1- Quy hoạch

những khu vực đồng bào dân tộc rất khó khăn trong hội nhập kinh tế thị

trƣờng, nhất là ở các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, vùng hải đảo, biên giới; 2Xây dựng các hệ thống sản xuất nông nghiệp, có thể kết hợp mơ hình sản xuất

sinh thái và chỉ dẫn địa lý nếu có điều kiện, với sự hỗ trợ mạnh của mạng lƣới

dịch vụ công; 3- Xây dựng các chuỗi ngành hàng với sản phẩm từ vùng này

đƣợc đƣa ra thị trƣờng; 4- Ban hành cơ chế, chính sách, thể chế về mơ hình

sản xuất, tổ chức dân cƣ, trên cơ sở các cụm tái định cƣ đồng bộ cả tổ chức



9



sản xuất nông nghiệp, chế biến, thƣơng mại và tổ chức xã hội. Thu nhập của

khu vực này có thể từ bán sản phẩm nơng nghiệp, tiền hỗ trợ của Chính phủ

trong xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ bảo vệ rừng, du lịch văn hóa và tâm linh.

Việc tổ chức mơ hình sản xuất cần đa dạng, có thể doanh nghiệp tƣ nhân,

doanh nghiệp cơng ích, tổ chức cộng đồng trên cơ sở phối hợp chặt chẽ với

Bộ Quốc phòng, Bộ Cơng an. Tại nhiều địa bàn, các đồn biên phòng có thể

tham gia cùng cộng đồng dân cƣ tổ chức sản xuất, tổ chức xã hội để bảo đảm

quân bám dân, dựa vào dân để sản xuất và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Khu vực sản xuất nông hộ quy mô nhỏ: Đây là mơ hình phổ biến hiện

nay và vẫn sẽ tồn tại trong thời gian dài ở nhiều vùng, do sinh kế của ngƣời

dân vẫn dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp. Mơ hình sản xuất này sẽ dần

thu hẹp phạm vi, địa bàn và số lƣợng nông dân tham gia khơng phải bằng giải

pháp hành chính mà phải trên cơ sở thực thi các biện pháp kinh tế, tạo việc

làm mới cho nông dân. Để giúp cho hộ sản xuất quy mô nhỏ tham gia thị

trƣờng, tăng thu nhập, cần có một số giải pháp: 1- Hình thành các chợ nông

dân bán hàng trực tiếp trên các khu vực nhất định để có thêm thu nhập; 2- Hỗ

trợ phát triển chế biến quy mơ nhỏ hộ gia đình, bán sản phẩm trực tiếp, hoặc

hỗ trợ phân phối sản phẩm; 3- Giúp hình thành các hợp tác xã (HTX), hiệp

hội kết nối với thị trƣờng đầu vào, đầu ra, quảng bá sản phẩm. Tại vùng này,

Nhà nƣớc cần có chính sách thu hút đầu tƣ công nghiệp, dịch vụ ở quy mô

phù hợp, ƣu tiên đào tạo đƣa lao động đi xuất khẩu và vào các vùng công

nghiệp, dịch vụ để tạo việc làm phi nông nghiệp, chủ động rút dần lao động ra

khỏi nông nghiệp.

Khu vực tổ chức cụm liên kết sản xuất công, nông nghiệp và dịch vụ:

Nhà nƣớc cần có quy hoạch tổng thể quốc gia, vùng, tỉnh về mạng lƣới cụm

công - nông nghiệp - dịch vụ phục vụ nơng nghiệp. Đây chính là việc cụ thể

hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa X trong giải quyết mối quan hệ giữa công



10



nghiệp và nông nghiệp, giữa đô thị và nông thôn. Căn cứ vào mạng lƣới các

kênh ngành hàng, quy hoạch các khu vực dự trữ và giao dịch hàng hóa,

logistic, đóng gói, chế biến, thƣơng mại, sàn giao dịch quốc tế. Các nhà phân

phối, doanh nghiệp nên đƣợc hỗ trợ về tín dụng, tiếp cận đất đai, quản trị

doanh nghiệp. Phƣơng thức đầu tƣ có thể theo mơ hình hợp tác cơng tƣ PPP

hoặc đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngồi (FDI) và các hình thức đầu tƣ xã hội khác để

phát triển các kênh thƣơng mại hàng hóa. Các điểm nút lớn của các kênh hàng

lớn có thể đƣợc quy hoạch phát triển thành các cụm công, nông nghiệp và

dịch vụ để kết nối với các vùng sản xuất nơng nghiệp trọng điểm. Có thể áp

dụng cụm công, nông nghiệp và dịch vụ với các ngành hàng lớn, nhƣ lúa gạo,

thủy sản, cà phê, chè, điều, thịt lợn, sữa... ở các vùng sản xuất lớn, nhƣ Tây

Nguyên, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng.

Cũng cần hỗ trợ phát triển và nhân rộng các mơ hình cụm chế biến thƣơng

mại nơng sản truyền thống ở nhiều vùng, địa phƣơng đang có hiện nay.

1.1.2.2. Thứ hai, tái cơ cấu chuỗi ngành hàng nông sản

Chuỗi ngành hàng hay chuỗi giá trị đƣợc định nghĩa theo nghĩa rộng và

nghĩa hẹp nhƣ sau

Chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp: một loạt các hoạt động thực hiện trong một

cở sở để sản xuất ra một sản phẩm nhất định. Các hoạt động này bao gồm giai

đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua vật tƣ đầu vào, sản xuất,

tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi đến ngƣời tiêu dùng sản

phẩm cuối cùng…Tất cả những hoạt động này trở thành một chuỗi kết nối

ngƣời sản xuất với ngƣời tiêu dùng. Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ sung giá

trị cho thành phần cuối cùng.

Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng là một tập hợp những hoạt động do nhiều

ngƣời khác nhau tham gia thực hiện (nhà cung cấp đầu vào, ngƣời thu gom,



11



nhà chế biến, công ty, ngƣời bán sỉ, ngƣời bán lẻ,..)để sản xuất một sản phẩm

sau đó bán cho ngƣời tiêu dùng trong nƣớc và xuất khẩu.

Chuối giá trị nông sản gồm các khâu: Giống > các yếu tố trong thời kỳ

canh tác (nƣớc, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật)> thu hoạch > sau thu hoạch

> đóng gói, bao bì > phân phối > thị trƣờng và cuối cùng là ngƣời tiêu thụ.

Nhƣ vậy tổng thể chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động, trong đó sản

phẩm đi qua tất cả các hoạt động đó theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản

phẩm thu đƣợc một số giá trị nào đó. Theo đó chuỗi giá trị của nơng sản thành

3 công đoạn: Sản xuất; thu mua, sơ chế/chế biến, bảo quản và cuối cùng là

thƣơng mại/tiêu thụ.

Tái cơ cấu sản xuất sản phẩm nơng lâm ngư: Cần có chính sách sử dụng

linh hoạt đất trồng lúa trên cơ sở bảo đảm an ninh lƣơng thực và chuyển đổi

một số diện tích đất lúa sang trồng những cây khác phù hợp với điều kiện và

lợi thế từng vùng (trồng cỏ ni bò sữa, ngơ, đậu tƣơng, thanh long, hoa,

rau...) nhƣng không đƣợc làm thay đổi điều kiện cơ bản của đất lúa. Nhƣ vậy,

cần chuyển đổi cơ cấu nông sản, ƣu tiên tăng giá trị những cây trồng khác có

lợi thế và giá trị gia tăng cao hơn, nhƣ ngành chăn ni bò sữa, rau, hoa,

quả,... Mỗi vùng cần có quy hoạch ƣu tiên sản phẩm lợi thế để thúc đẩy tái cơ

cấu không chỉ về sản lƣợng mà về giá trị, thu nhập của ngƣời dân. Tuy nhiên

trong thực hiện việc chuyển đổi này, nhất là khi hình thành mới những vùng

có sản lƣợng lớn ngơ, đậu tƣơng, thanh long... cần chủ động quy hoạch và tổ

chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ, tránh cách làm tự phát mang tính phong

trào.

Tái cơ cấu phân chia giá trị gia tăng trong ngành hàng: Cần có cơ chế,

chính sách thúc đẩy các công đoạn giá trị gia tăng cao của các ngành nông,

lâm, thủy sản trên lãnh thổ Việt Nam, nhƣ chế biến, dịch vụ logistic, đóng

gói, nhất là chế biến sâu thành thực phẩm và hàng sử dụng cuối cùng, nhƣ đồ



12



gia dụng, đồ dùng cho công nghiệp... Trƣớc hết, cần ƣu tiên đối với các ngành

hàng mà Việt Nam có thế mạnh, nhƣ cà phê, cao su, điều, ca cao, tiêu, thủy

sản, chế biến sâu sản phẩm lâm sản, sữa, thịt... Kêu gọi đầu tƣ của doanh

nghiệp nƣớc ngồi cùng với doanh nghiệp Việt Nam vì họ có thƣơng hiệu và

kênh phân phối, nhằm dịch chuyển chế biến, đóng gói, logistics của nƣớc

ngồi về Việt Nam. Hạn chế cấp phép dự án đầu tƣ nƣớc ngồi khơng có chế

biến đến sản phẩm cuối cùng trên lãnh thổ Việt Nam. Có chính sách ƣu tiên

về giao đất, thuế, tín dụng đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc có

chế biến sâu đến sản phẩm cuối cùng. Với những ngành hàng nhỏ, đặc sản

nên khuyến khích chế biến, đóng gói quy mơ nhỏ ở các cụm cơng - nơng

nghiệp địa phƣơng, hộ gia đình. Cần thúc đẩy kêu gọi đầu tƣ trong và ngồi

nƣớc để hình thành cụm cơng nghiệp chế biến, dịch vụ cho các ngành hàng

nông, lâm, thủy sản quốc tế trong điều kiện hội nhập, biến Việt Nam thành

trung tâm chế biến và dịch vụ nông sản quốc tế.

1.1.2.3. Thứ ba, tái cơ cấu đối tượng tham gia sản xuất nông nghiệp.

Trong tái cơ cấu nông nghiệp, cần chú ý tăng nhanh số lƣợng và chất

lƣợng các tác nhân sau:

- Tăng số lƣợng và chất lƣợng các nơng trại quy mơ lớn có quản trị

chun nghiệp và hiện đại. Ở những vùng CNH và ĐTH mạnh, lao động đã

rút đáng kể ra khỏi nông nghiệp, Nhà nƣớc từng bƣớc cần có chính sách điều

tiết hạn chế sản xuất quy mơ nhỏ, khuyến khích tập trung và tích tụ ruộng đất

theo quy định của Luật Đất đai (sửa đổi) thành trang trại quy mô lớn. Ban

hành cơ chế, chính sách quản trị trang trại theo quy mơ sản xuất (15), gắn

vớicác tiêu chuẩn, chuẩn mực đòi hỏi trong thƣơng mại quốc tế và quản lý tài

nguyên, môi trƣờng.

- Chính sách tái cơ cấu cần thúc đẩy sự phát triển các HTX sản xuất

nông nghiệp kiểu mới, trên cơ sở liên kết của những nông dân cùng nghề



13



nghiệp để tăng quy mô, ứng dụng khoa học công nghệ, cùng đầu tƣ, quản lý

chất lƣợng sản phẩm, cung ứng sản phẩm ra thị trƣờng, mua vật tƣ và dịch vụ

đầu vào... Những ngành hàng sản xuất quy mô lớn, xuất khẩu cần đƣợc ƣu

tiên phát triển các HTX chuyên ngành trong sản xuất, liên kết thƣơng mại

theo chuỗi, ví dụ nhƣ các HTX liên kết các trang trại chăn nuôi, cà phê, nuôi

tôm, nuôi cá tra, trồng hoa, lúa gạo... Cần thúc đẩy vai trò của HTX trong kết

nối với doanh nghiệp xây dựng chuỗi thƣơng mại, củng cố các hiệp hội ngành

hàng, trong đó HTX nơng trại của nơng dân về trồng cà phê, chè, cao su, mía

đƣờng, lúa gạo, ni bò sữa, ni lợn..., cần có vai trò xứng đáng và quan

trọng hơn, nhất là vùng sản xuất hàng hóa lớn. Ở các vùng nơng hộ sản xuất

hàng hóa quy mơ nhỏ, thúc đẩy phát triển các HTX dịch vụ tổng hợp. Ở vùng

sản xuất tự cung tự cấp, nên phát triển các hình thức tổ chức cộng đồng. Với

những HTX dịch vụ, cần thiết có chính sách hỗ trợ để trở thành tác nhân quan

trọng trong cung ứng dịch vụ nơng nghiệp, làm đầu mối đón nhận và triển

khai dịch vụ công ở cộng đồng, nhƣ khuyến nơng, tín dụng, hỗ trợ marketing,

quản lý chất lƣợng, kiểm soát bảo vệ thực vật, bảo vệ rừng, quản lý mặt nƣớc

... Có chính sách quy hoạch phát triển mạng lƣới doanh nghiệp nông nghiệp,

cụm liên kết sản xuất công, nông nghiệp trong các lĩnh vực, theo vùng, miền

để có thể làm cơ sở liên kết với nơng dân, kết nối với bên ngoài, phát triển các

hoạt động chế biến sâu, dịch vụ, logistics... Một số mơ hình liên kết đã thành

công nhƣ trong sản xuất sữa của Vinamilk ở Ba Vì, mía đƣờng ở Lam Sơn,

“cánh đồng mẫu lớn” sản xuất lúa gạo của Công ty cổ phẩn Bảo vệ thực vật

An Giang, liên kết đầu tƣ trồng cao su ở 3 tỉnh phía Bắc. Cần sớm tổ chức

triển khai Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg, ngày 25-10-2013 của Thủ tƣớng

Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển kinh tế hợp tác, liên kết sản

xuất, gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng mẫu lớn (thay thế Quyết

định số 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ về liên kết “4 nhà”). Ƣu



14



tiên các liên kết đầu tƣ trong sản xuất và chế biến, thƣơng mại; sản xuất theo

cùng quy trình kỹ thuật chung để có sản phẩm đồng đều và cùng chất lƣợng;

xây dựng kế hoạch chung toàn chuỗi ngành hàng; cùng quản trị thƣơng hiệu;

toàn chuỗi ngành hàng có cùng quản trị về truy suất nguồn gốc và chất lƣợng

sản phẩm; chia sẻ rủi ro; chia sẻ giá trị gia tăng và lợi nhuận...

Các chính sách hỗ trợ nên thúc đẩy, ƣu đãi sự hình thành và phát triển

các yếu tố liên kết, để làm động lực cho liên kết giữa nông dân với nhau, giữa

nông dân và doanh nghiệp. Mục đích là tạo ra đƣợc sản phẩm rẻ hơn nhờ hiệu

ứng của kinh tế quy mô, quản trị chất lƣợng sản phẩm tốt hơn nhờ hành động

tập thể, tính cạnh tranh cao hơn, cung ứng ra thị trƣờng sản phẩm có chất

lƣợng đồng đều, ổn định và tin cậy.

1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Tái cơ cấu nông nghiệp chịu sự ảnh hƣởng của nhiều nhân tố khác nhau,

mỗi nhân tố đều có vai trò, vị trí và tác động nhất định, có những nhân tố tác

động tích cực nhƣng cũng có những nhân tố tác động tiêu cực. Tổng hợp các

nhân tố tác động cho phép chúng ta tìm ra các lợi thế so sánh của mỗi vùng,

mỗi địa phƣơng từ đó có thể lựa chọn một cách sơ bộ cơ cấu kinh tế hợp lý,

hài hoà nhất. Các nhân tố ảnh hƣởng đến tái cơ cấu nông nghiệp có thể đƣợc

chia thành 4 nhóm:

1.1.3.1. Điều kiện tự nhiện

Những nhân tố về điều kiện tự nhiên có ảnh hƣởng rất lớn đến tái cơ cấu

nông nghiệp nhất là đối với các nƣớc có trình độ cơng nghiệp hố còn thấp

nhƣ nƣớc ta. Nhóm nhân tố này bao gồm:vị trí địa lí, điều kiện khí hậu, thời

tiết, đất đai,nguồn nƣớc, rừng, khoáng sản và các yếu tố sinh học khác…

Vị trí địa lí thuận lợi và các tiềm năng tự nhiên phong phú của mỗi vùng

lãnh thổ là nhân tố thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển. Những

vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi thì các thành phần kinh tế quốc doanh,



15



tập thể, tƣ nhân, kinh tế hộ và trang trại cũng phát triển với quy mô lớn và

nhanh hơn so với các vùng khác.

1.1.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

Nhóm nhân tố này ln tác động mạnh mẽ tới q trình tái cơ cấu nông

nghiệp. Các nhân tố xã hội ảnh hƣởng tới cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao

gồm:

Thị trường: Luôn gắn với kinh tế hàng hố, thị trƣờng có thể đƣợc hiểu

là lĩnh vực trao đổi trong đó ngƣời mua và ngƣời bán các loại hàng hố nào

đó tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lƣợng hàng hoá mua

bán. Mặt khác do sự phát triển của xã hội, nhu cầu đa dạng của con ngƣời

cũng khơng ngừng biến đổi và nâng cao, đòi hỏi thị trƣờng đáp ứng ngày

càng tốt hơn. Xu hƣớng chung là quy mơ dân số càng lớn, tiêu dùng hàng hóa

và dịch vụ nơng nghiệp càng nhiều, còn đối với thu nhập của dân cƣ, có hai

khuynh hƣớng xảy ra, khi thu nhập còn thấp, tiêu dùng các nơng sản thơng

thƣờng tăng và khi thu nhập tăng, tiêu dùng các nông sản thông thƣờng giảm

và tiêu dùng các nông sản chất lƣợng cao tăng. Ngồi ra, tính ƣa thích theo

thói quen tiêu dùng một số loại sản phẩm nào đó đòi hỏi các nhà đầu tƣ phải

tìm cách đáp ứng cũng nhƣ tác động vào sự hình thành cơ cấu. Điều này quy

định sự cần thiết phải tái cơ cấu nông nghiệp theo hƣớng phù hợp với xu

hƣớng biến động và phát triển của thị trƣờng. Bên cạnh đó các quan hệ thị

trƣờng ngày càng mở rộng thì ngƣời sản xuất ngày càng đi vào chun mơn

hố và tự lựa chọn thị trƣờng.

Nhƣ vậy các quan hệ thị trƣờng góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy

phân công lao động trong nơng thơn, là cơ sở hình thành cơ cấu nơng thơn mới.

Vốn: Để tái cơ cấu ngành nơng nghiệp đòi hỏi phải có điều kiện vật chất

nhất định tƣơng ứng. Để đáp ứng đòi hỏi về các điều kiện vật chất này nhất

thiết phải đầu tƣ và phải có vốn đầu tƣ; các nguồn vốn đầu tƣ chủ yếu để tái



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×