Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
a. Năng khiếu là gì?

a. Năng khiếu là gì?

Tải bản đầy đủ - 0trang

phẩm của một hoạt động thực tiễn tích cực của con người khơng tách rời hồn

cảnh xã hội và tham gia phục vụ cho sự phát triển xã hội

Lữ Khôn từng nói : Việc sắp xảy ra mà ngăn được

Việc đương xảy ra mà cứu được

Việc đã hỏng mà cứu vớt được . Đó là người có tài

Hay chưa có việc mà biết việc sẽ đến .

Mới có việc mà biết việc sau sẽ ra sao

Định việc mà đoán được việc diễn biến thế nào

Đó là người có tâm .

Vậy Năng lực vừa là trí ( Trí khơn , thơng minh ) là tâm đức thống nhất trong

một cấu trúc thích ứng .

Gần đây theo điều tra về chỉ số trí tuệ của người Việt nam người ta thấy có từ 25 % là những người xuất sắc, Khoảng 25- 30 % là khá, Khoảng 25- 30% trung

bình yếu , 2- 5 % yếu . Số còn lại là Trung bình

Về học sinh : 3- 5 % là học sinh giỏi ( Trong 20 vạn học sinh )

Vì thế việc phát hiện bồi dưỡng sử dụng các năng khiếu và tài năng có ý nghĩa

đặc biệt quan trọng đối với nhà trường và xã hội.

c. Thế nào là học sinh giỏi:

“HSG là học sinh chứng minh được trí tuệ ở trình độ cao/và có khả năng sáng

tạo, thể hiện một động cơ học tập mãnh liệt/và đạt xuất sắc trong lĩnh vực lý

thuyết/khoa học; người cần một sự giáo dục đặc biệt/ và sự phục vụ đặc biệt để

đạt được trình độ tương ứng với năng lực của người đó”. Đó là những học sinh

có khả năng thể hiện xuất sắc hoặc năng lực nổi trội trong các lĩnh vực trí tuệ, sự

sáng tạo, khả năng lãnh đạo, nghệ thuật, hoặc các lĩnh vực lí thuyết chuyên biệt.

Những HS này thể hiện tài năng đặc biệt của mình từ tất cả các bình diện xã hội,

văn hóa và kinh tế”. HSG là những đứa trẻ có năng lực trong các lĩnh vực trí tuệ,

sáng tạo, nghệ thuật và năng lực lãnh đạo hoặc lĩnh vực lí thuyết. Những học

sinh này cần có sự phục vụ và những hoạt động khơng theo những điều kiện

thông thường của nhà trường nhằm phát triển đầy đủ các năng lực vừa nêu

trên.

Dấu hiệu nhận biết trẻ có năng khiếu

1.- Em đó phải có óc suy nghĩ trừu tượng. Nghĩa là học sinh có khả năng nắm

bắt những khái niệm ngơn ngữ học và tốn học cao hơn và có khả năng bàn luận

những vấn đề phức tạp như đạo đức học, luân lí và tơn giáo, gia đình. Em đó hay

hỏi kiểu : Mẹ ơi tại sao mào con gà trống lại có màu đỏ???

2. Học sinh đó có tài đặc biệt như khả năng thực hiện các phép tính tốn học

trong đầu, hoặc hiểu được các khái niệm như toán nhân trước khi được dạy ở

trường. Có nghĩa là tiếp cận bài nhanh, học đâu hiểu đấy . Hay "nói leo" ra vẻ

biết trước một chút. Đơi khi có vẻ "tinh tướng" với bạn cùng lớp. Ta đây biết

trước nhá. Thưa các thầy cơ và các bà mẹ đừng buồn vì điều này cho rằng cháu

không khiêm tốn. Hầu hết các em nhỏ ở tuổi này bộc lộ theo kiểu như vậy . Đơi

khi giáo viên như tơi thấy khó chịu nhưng vui vì đó là đặc điểm tâm lí lứa tuổi.

Khi sang cấp Trung học cái kiểu này tự mất đi.

3. Em đó phải có khả năng tập trung cao độ vào một hoạt động nào đó với thời

gian dài. Đại đa số trẻ cùng lứa khả năng của các em chú ý rất kém. Thường thì

6



các em chỉ tập trung trong vòng 20 phút trở về là tốt . Nhưng riêng các em kiểu

này có khả năng tập trung gấp đơi. Khi chú ý cái gì. Các em kiểu này rất say

sưa, cắn bút, làm mọi cách để ra kết quả. Dù kết quả đó có sai.

4. Các em dạng học sinh năng khiếu văn ln có vốn từ phong phú và hiểu

được nhiều từ không đặc trưng dành cho những trẻ cùng tuổi. Do vậy những bài

văn của các em viết rất lạ. Ngay kể cả những em có năng khiếu Tốn chẳng hạn,

tuy văn các em này viết khơng hay cho lắm nhưng rất chặt chẽ về dùng từ đặt

câu, về viết câu theo mẫu, cảm xúc, cách nghĩ khác người thì…. Thật độc

đáo..... Chỉ cần một vài câu văn hay là ta đã thấy em đó có năng khiếu rồi. Còn

hay hơn nữa thì cần vai trò của các cô thầy giáo dục và bồi dưỡng và phát triển.

Do vậy như tôi chả bao giờ dám cho các em này điểm tập làm văn dưới 7 cả.

5. Em đó thường là người đầu têu, bày trò, phân việc cho các cuộc chơi của bạn

bè em đó. Cứ quan sát các em chơi là biết. Em đó có khả năng lãnh đạo. Nghĩa

là em học sinh đó thường tổ chức các hoạt động nhóm trong giờ học, phân cơng

nhiệm vụ, bày trò chơi khi đi với các trẻ khác, thích báo cáo kết quả của nhóm.

6. Em đó cũng hay "bảo thủ", cứ cho là mình làm đúng. Thường tìm ra cách giải

khác hay hơn chẳng hạn, dài hơn , ngô nghê hơn cách giải thầy cô, sách giáo

khoa. Em đó ln tin tưởng vào những ý kiến và các việc đã làm của mình. Điều

này rất quan trọng cho giáo viên khi đãi cát tìm vàng, lựa chọn đội ngũ học sinh

giỏi .Tố chất này tôi cho là cần phải có ở trẻ khi vào đội tuyển bồi dưỡng học

sinh giỏi. Vì đề thi, vấn đề cuộc sống ln thay đổi em đó phải biết thích ứng.

7. Em đó ln thực hiện tốt các mơn học khác. Chả có cớ gì học sinh giỏi mà lại

khơng biết vẽ. Những năm qua, theo kinh nghiệm, hầu hết các em học sinh giỏi

đều hồn thành tốt các mơn học. ( Cái này nói ngồi: Bực cái , có học sinh năng

khiếu cô nào cũng tranh về câu lạc bộ , đội tuyển của mình mà bồi dưỡng vì em

đó vừa hát hay, vẽ đẹp , học giỏi,….Nhưng cũng cần để cho em đó chơi nhá.)

8. Em đó có tính sáng tạo; nghĩa là, thích kể chuyện, vẽ hoặc âm nhạc, văn nghệ.

9. Em đó cần có óc khơi hài và nhanh trí.

10. Em đó thích chơi và làm bạn với những trẻ lớn hơn Và thích nói chuyện với

người lớn. Nhạy cảm với tình cảm của người khác.

11. Em đó có khả năng ghi nhớ các sự việc một cách dễ dàng và có thể nhớ lại

và kể lại những sự việc đó vào những lúc thích hợp.

* Biện pháp với HS khá giỏi, năng khiếu.

- Rà soát Phát hiện đi đôi với bồi dưỡng. GV Theo dõi nắm bắt đối tượng

học sinh. Phân loại học sinh ngay trong tháng 8. Tập hợp và nắm số liệu học

sinh giỏi.

- Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi ngay từ đầu năm học.

- Việc bồi dưỡng phải được tiến hành thường xuyên trong mỗi bài, mỗi

chương.

- Với học sinh khá giỏi phải biết khơi dậy trong các em tính ham học,

thích tìm tòi, hiểu biết. Phải biết nắm chắc kiến thức cơ bản. Từ đó mà phát triển

nâng dần kiến thức cao hơn.

- Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh khá giỏi cách học, phương pháp

học, chú trọng việc tự học, tự bồi dưỡng và ý thức tự giác học tập.

7



- Thường xuyên kiểm tra định kỳ. Qua kiểm tra để thấy được học sinh còn

hổng chỗ nào để kịp thời có kế hoạch bồi dưỡng phù hợp.

- Kết hợp với phụ huynh để nâng cao chất lượng. Việc kết hợp giáo dục

giữa giáo viên và gia đình là một điều không thể thiếu trong việc nâng cao chất

lượng bồi dưỡng học sinh giỏi.

3. Phương pháp bồi dưỡng.

- Bồi dưỡng qua dự các lớp tập huấn do Sở Giáo dục; Phòng Giáo dục tổ chức.

- Bồi dưỡng thơng qua dự các chuyên đề do tổ, trường tổ chức.

- Bồi dưỡng thông qua dự các chuyên đề liên trường, cụm trường.

- Bồi dưỡng qua việc tự học, tự nghiên cứu các văn bản, chỉ thị, nghị quyết, các

tạp chí, tập san, băng đĩa, tài liệu của ngành.

- Bồi dưỡng qua việc khai thác thông tin trên mạng…

4. Các điều kiện để thực hiện:

Về phía BGH nhà trường:

- SGK, tài liệu dành cho bồi dưỡng chưa có và chưa được thống nhất. Mọi nội

dung đều do GV tự tìm tòi qua các nguồn thông tin khác nhau. Do vậy, không

tránh khỏi những nguồn thơng tin khơng chính thống.

- Về việc đánh giá thực hành các modun cho giáo viên căn cứ vào lí luận hay

thực tiễn dạy…

Về phía các giáo viên:

1- Là những người trực tiếp tham gia vào quá trình bồi dưỡng khi mà chưa có

nguồn tài liệu tham khảo. Mọi nội dung đều do bản thân mỗi giáo viên thấy

mình “cần”, mình “yếu” thì lập kế hoạch bồi dưỡng cho mình.

2- Lượng thời gian giáo viên dành cho nghiên cứu bồi dưỡng đều là” tranh

thủ”, có chăng chỉ được một khoảng thời gian hè là thật sự dành cho bồi dưỡng.

Do vậy, việc bồi dưỡng gặp rất nhiều khó khăn. Hoặc việc dạy thực hành áp

dụng kiến thức bồi dưỡng đó vào như thế nào là nỗi trăn trở của tơi khi thực hiện

chương trình bồi dưỡng

MÃ MƠ ĐUN TH 28

KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ CÁC MÔN HỌC BẰNG ĐIỂM SỐ

( KẾT HỢP VỚI NHẬN XÉT)

1. Đổi mới đánh giá kết quả học tập ở tiểu học thông qua đánh giá bằng

điểm số kết hợp với đánh giá bằng nhận xét:

1.1. Đánh giá bằng điểm số là gì? Sử dụng những mức điểm khác nhau trong 1

thang điểm để chỉ ra mức độ về kiến thức, kỹ năng mà HS đã thể hiện được qua

một hoạt động hoặc sản phẩm học tập. Trong thang điểm thì mỗi mức điểm đi

kèm theo là những tiêu chí tương ứng (đáp án, hướng dẫn chấm điểm ) và căn cứ

vào đó GV giải thích ý nghĩa của các điểm số và cho những nhận xét cụ thể về

bài làm của HS.

1.2. Giải thích ý nghĩa của điểm số: đây là một hoạt động phức tạp vì nó phản

ánh trình độ học lực và phẩm chất của HS. Người quản lý xem đó là chứng cứ

xác định trình độ học vấn của HS và khả năng giảng dạy của GV. Mặt khác giúp

8



GV và nhà quản lý nắm được chất lượng dạy – học một cách cụ thể hơn, từ đó

đưa ra những quyết sách phù hợp điều chỉnh quá trình dạy học. Bên cạnh đó

việc lý giải kiến thức, kỹ năng hay năng lực của HS thể hiện qua điểm số có tác

dụng thúc đẩy các em học tốt hơn.

1.3. Người GV cần làm gì để có thể diễn giải được ý nghĩa của điểm số tốt

hơn:

- Xác định mục tiêu của đánh giá: Kiến thức, kỹ năng, thái độ, năng lực

cần đánh giá.

- Để có một sản phẩm giá trị làm căn cứ cho điểm và qua đó đánh giá

được trình độ của HS thì cần chuẩn bị thật kỹ bài kiểm tra cụ thể:

+ Trong nội dung của bài kiểm tra cần phải bao quát được nhiều mặt kiến thức,

kỹ năng mà HS đã học.

+ Mục tiêu của kế hoạch đã nêu ra trong tháng, trong học kỳ phải được đề cập

trong bài kiểm tra.

+ Xây dựng thang điểm. Có thể điều chỉnh trong quá trình chấm đối với những

bài làm, câu trả lời ngoài dự kiến.

+ Điều chỉnh các câu hỏi, bài tập nếu phát hiện thấy có sự khơng rõ ràng trong

đề kiểm tra.

+ Xác định ngưỡng đạt yêu cầu của bài kiểm tra.

+ Tập hợp nhiều kênh thông tin khác nhau từ việc học của HS để làm chứng cứ

hỗ trợ cho việc giải thích điểm số của HS.

1.4. Đánh giá bằng động viên: là động viên và khuyến khích sự tiến bộ

của HS khi kiểm tra đánh giá. Thông thường sử dụng bằng điểm số hay nhận xét

để kích thích tinh thần, cảm xúc của HS từ đó thơi thúc các em thực hiện các

nhiệm vụ tiếp theo tốt hơn với sự phấn đấu cao hơn.

1,5. Đánh giá bằng xếp loại: là tiến trình phân loại trình độ hay phẩm

chất năng lực của HS dựa trên cơ sở xem xét kết quả học tập đã thu thập được

qua quá trình kiểm tra liên tục và hệ thống. Kết quả học tập được ghi nhận bằng

điểm số hay bằng nhận xét. Kết quả xếp loại được dùng để đưa ra những quyết

định nào đó cho HS như chứng nhận trình độ, xét lên lớp, khen thưởng…nên nó

có ý nghĩa quan trọng về mặt quản lý.

1.

Yêu cầu, tiêu chí xây dựng đề kiểm tra, quy trình ra đề kiểm tra

học kỳ:

* Một số vấn đề về đánh giá , xếp loại: Mục đích , nguyên tắc của đánh giá , xếp

loại , hình thức đánh giá .

Yêu cầu , tiêu chí đề kiểm tra , quy trình ra đề kiểm tra học kì cấp Tiểu học:

a) Yêu cầu về đề kiểm tra học kì .

Nội dung bao quát chương trình đã học.

Đảm bảo tính chính xác , khoa học .

Đảm bảo mục tiêu dạy học , bám sát chuẩn kiến thức , kĩ năng và yêu cầu về thái

độ ở các mức độ được quy định trong chương trình cấp tiểu học .

Phù hợp với thời gian kiểm tra .

Góp phần đánh giá khách quan trình độ hs.

b) Tiêu chí để kiểm tra học kì.

-Nội dung khơng nằm ngồi chương trình học kì.

9



Có nhiều câu hỏi trong 1 đề , phân định tỉ lệ phù hợp giữa câu trắc nghiệm

khách quan và câu hỏi tự luận .

Tỉ lệ điểm dành cho các mức độ nhận thức so với tổng số điểm phù hợp với

chuẩn kiến thức ,kĩ năng và yêu cầu về thái độ của môn học : Nhận biết và thông

hiểu khoảng 80% , vận dụng 20%.

Các câu hỏi của đề phải được diễn đạt rõ , đơn nghĩa ,nêu đúng và đủ yêu cầu

của đề.

- Mỗi câu hỏi phải phù hợp với thời gian dự kiến trả lời và với số điểm dành cho

nó.

c)Quy trình ra đề kiểm tra học kì.

C1.Xác định mục tiêu mức độ,nộidung và hình thức ,kiểm tra.

C2.Thiết lập bảng hai chiều.

C3.Thiết kế câu hỏi theo bảng 2 chiều.

C4.Xây dựng đáp án và hướng dẫn chấm.

* Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo Chuẩn kiến thức ,kĩ năng

chương trình.

Chương trình Giáo dục phổ thơng-cấp Tiểu học (ban hành kèm theo Quyết định

số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ Giáo dục và đào tạo) đã xác định

Chuẩn kiến thức ,kĩ năng và yêu cầu về thái độ của chương trình tiểu học là “

các yêu cầu cơ bản , tối thiểu về kiến thức,kĩ năng của môn học , hoạt động giáo

dục mà hs cần phải và có thể đạt được”. Dạy học trên cơ sở chuẩn kiến thức kĩ

năng là quá trình dạy đảm bảo mọi đối tượng học sinh đều đạt chuẩn kiến thức ,

kĩ năng cơ bản của mơn học trong chương trình bằng sự nỗ lực đúng mức của

bản thân , đồng thời đáp ứng được nhu cầu phát triển năng lực riêng của từng

học sinh trong từng môn học hoặc trong từng chủ đề của từng môn học.

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức kĩ năng

chương trình được thực hiện theo các yêu cầu cơ bản dưới đây :

*/ Đối với các môn học đánh giá bằng điểm số :

-Khi xây dựng đề kiểm tra cần bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng và tham khảo

sách giáo viên. 80-90% trong chuẩn KT –KN và 10-20% vận dụng KT-KN trong

chuẩn để phát triển . Thời lương kiểm tra định kì khoảng 40 phút .

*/ Đối với các mơn học đánh giá bằng nhận xét :

Giáo viên cần căn cứ vào tiêu chí đánh giá cuả từng mơn học , từng học kì , từng

lớp( bám sát chuẩn KT-KN của mơn học đẻ đánh giá xếp loại học sinh hồn

thành (A,A+) hoặc chưa hoàn thành (B).Việc đánh giá cần nhẹ nhàng không tạo

áp lực cho cả GV và HS , cần khơi dậy tiềm năng học tập của học sinh.

2.

Đánh giá kết quả học tập ở các môn học bằng điểm số theo chuẩn kiến

thức kỹ năng của chương trình:Yêu cầu kiểm tra, đánh giá bám sát

Chuẩn kiến thức, kĩ năng

3.1. Quan niệm về kiểm tra, đánh giá

Kiểm tra và đánh giá là hai khâu trong một quy trình thống nhất nhằm xác định

kết quả thực hiện mục tiêu dạy học. Kiểm tra là thu thập thông tin từ riêng lẻ đến

hệ thống về kết quả thực hiện mục tiêu dạy học. Đánh giá là xác định mức độ

đạt được về thực hiện mục tiêu dạy học.

10



Đánh giá kết quả học tập thực chất là việc xem xét mức độ đạt được của hoạt

động học của HS so với mục tiêu đề ra đối với từng môn học, từng lớp học, cấp

học. Mục tiêu của mỗi môn học được cụ thể hoá thành các chuẩn kiến thức, kĩ

năng. Từ các chuẩn này, khi tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn

học, cần phải thiết kế thành những tiêu chí nhằm kiểm tra được đầy đủ cả về

định tính và định lượng kết quả học tập của HS.

3.2. Hai chức năng cơ bản của kiểm tra, đánh giá

a) Chức năng xác định

- Xác định được mức độ cần đạt trong việc thực hiện mục tiêu dạy học, mức độ

thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục mà HS đạt được

khi kết thúc một giai đoạn học tập (kết thúc một bài, chương, chủ đề, chủ điểm,

mô đun, lớp học, cấp học).

- Xác định được tính chính xác, khách quan, cơng bằng trong kiểm tra, đánh giá.

b) Chức năng điều khiển : Phát hiện những mặt tốt, mặt chưa tốt, khó khăn,

vướng mắc và xác định nguyên nhân. Kết quả đánh giá là căn cứ để quyết định

giải pháp cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học và giáo

dục thông qua việc đổi mới, tối ưu hoá PPDH của GV và hướng dẫn HS biết tự

đánh giá để tối ưu hoá phương pháp học tập. Thông qua chức năng này, kiểm

tra, đánh giá sẽ là điều kiện cần thiết để:

- Giúp GV nắm được tình hình học tập, mức độ phân hố về trình độ học lực của

HS trong lớp, từ đó có biện pháp giúp đỡ HS yếu kém và bồi dưỡng HS giỏi ;

giúp GV điều chỉnh, hoàn thiện PPDH ;

- Giúp HS biết được khả năng học tập của mình so với yêu cầu

của chương trình ; xác định nguyên nhân thành công cũng như chưa thành công,

từ đó điều chỉnh phương pháp học tập ; phát triển kĩ năng tự đánh giá ;

- Giúp cán bộ quản lí giáo dục đề ra giải pháp quản lí phù hợp để nâng cao chất

lượng giáo dục ;

- Giúp cha mẹ HS và cộng đồng biết được kết quả giáo dục của từng HS, từng

lớp và của cả cơ sở giáo dục.

3.3. Yêu cầu kiểm tra, đánh giá

a) Kiểm tra, đánh giá phải căn cứ vào Chuẩn kiến thức, kĩ năng của từng môn

học ở từng lớp ; các yêu cầu cơ bản, tối thiểu cần đạt về kiến thức, kĩ năng của

HS sau mỗi giai đoạn, mỗi lớp, mỗi cấp học.

b) Kiểm tra, đánh thể hiện được vai trò chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện chương

trình, kế hoạch giảng dạy, học tập của các nhà trường. Cần tăng cường đổi mới

khâu kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kì; đảm bảo chất lượng kiểm tra,

đánh giá thường xuyên, định kì chính xác, khách quan, cơng bằng ; khơng hình

thức, đối phó nhưng cũng khơng gây áp lực nặng nề. Kiểm tra thường xuyên và

định kì theo hướng vừa đánh giá được đúng Chuẩn kiến thức, kĩ năng, vừa có

khả năng phân hố cao ; kiểm tra kiến thức, kĩ năng cơ bản, năng lực vận dụng

kiến thức của người học, thay vì chỉ kiểm tra học thuộc lòng, nhớ máy móc kiến

thức.

c) áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại để tăng cường tính tương đương

của các đề kiểm tra, thi. Kết hợp thật hợp lí các hình thức kiểm tra, thi vấn đáp,

11



tự luận và trắc nghiệm nhằm hạn chế lối học tủ, học lệch, học vẹt ; phát huy ưu

điểm và hạn chế nhược điểm của mỗi hình thức.

d) Đánh giá chính xác, đúng thực trạng. Đánh giá thấp hơn thực tế sẽ triệt tiêu

động lực phấn đấu vươn lên ; ngược lại, đánh giá khắt khe quá mức hoặc thái độ

thiếu thân thiện, không thấy được sự tiến bộ, sẽ ức chế tình cảm, trí tuệ, giảm vai

trò tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.

e) Đánh giá kịp thời, có tác dụng giáo dục và động viên sự tiến bộ của HS, giúp

HS sửa chữa thiếu sót. Đánh giá cả q trình lĩnh hội tri thức của HS, chú trọng

đánh giá hành động, tình cảm của HS : nghĩ và làm ; năng lực vận dụng vào thực

tiễn, thể hiện qua ứng xử, giao tiếp. Quan tâm tới mức độ hoạt động tích cực,

chủ động của HS trong từng tiết học tiếp thu tri thức mới, ôn luyện cũng như các

tiết thực hành, thí nghiệm.

g) Đánh giá kết quả học tập, thành tích học tập của HS không chỉ đánh giá kết

quả cuối cùng, mà cần chú ý cả quá trình học tập. Cần tạo điều kiện cho HS

cùng tham gia xác định tiêu chí đánh giá kết quả học tập với yêu cầu không tập

trung vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức

trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp. Có nhiều hình thức và độ phân hoá

cao trong đánh giá.

h) Đánh giá hoạt động dạy học khơng chỉ đánh giá thành tích học tập của HS,

mà còn đánh giá cả q trình dạy học nhằm cải tiến hoạt động dạy học. Chú

trọng phương pháp, kĩ thuật lấy thông tin phản hồi từ HS để đánh giá quá trình

dạy học.

i) Kết hợp thật hợp lí giữa đánh giá định tính và định lượng : Căn cứ vào đặc

điểm của từng môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp học, cấp học, quy định

đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét của GV hay đánh giá bằng nhận xét,

xếp loại của GV.

k) Kết hợp đánh giá trong và đánh giá ngoài.

Để có thêm các kênh thơng tin phản hồi khách quan, cần kết hợp hài hoà giữa

đánh giá trong và đánh giá ngoài. Cụ thể là cần chú ý đến :

- Tự đánh giá của HS với đánh giá của bạn học, của GV, của cơ sở giáo dục, của

gia đình và cộng đồng.

- Tự đánh giá của GV với đánh giá của đồng nghiệp, của HS, gia đình HS, của

các cơ quan quản lí giáo dục và của cộng đồng.

- Tự đánh giá của cơ sở giáo dục với đánh giá của các cơ quan quản lí giáo dục

và của cộng đồng.

- Tự đánh giá của ngành Giáo dục với đánh giá của xã hội và đánh giá quốc tế.

l) Kiểm tra, đánh giá phải là động lực thúc đẩy đổi mới PPDH. Đổi mới kiểm

tra, đánh giá tạo điều kiện thúc đẩy và là động lực của đổi mới PPDH trong quá

trình dạy học, là nhân tố quan trọng nhất đảm bảo chất lượng dạy học.

3.4. Các tiêu chí của kiểm tra, đánh giá

a) Đảm bảo tính tồn diện : Đánh giá được các mặt kiến thức, kĩ năng, năng lực,

ý thức, thái độ, hành vi của HS.

b) Đảm bảo độ tin cậy : chính xác, trung thực, minh bạch, khách quan, công

bằng trong đánh giá, phản ánh được chất lượng thực của HS, của các cơ sở giáo

dục.

12



c) Đảm bảo tính khả thi : Nội dung, hình thức, cách thức, phương tiện tổ chức

kiểm tra, đánh giá phải phù hợp với điều kiện HS, cơ sở giáo dục, đặc biệt là

phù hợp với mục tiêu theo từng môn học.

d) Đảm bảo yêu cầu phân hoá: Phân loại được chính xác trình độ, mức độ, năng

lực nhận thức của học sinh, cơ sở giáo dục ; cần đảm bảo dải phân hoá rộng đủ

cho phân loại đối tượng.

e) Đảm bảo hiệu quả : Đánh giá được tất cả các lĩnh vực cần đánh giá HS, cơ sở

giáo dục ; thực hiện được đầy đủ các mục tiêu đề ra ; tạo động lực đổi mới

phương pháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

NG DỤNG PHẦN MỀM TRÌNH DIỄN MICROSOFT POWERPOINT

TRONG DẠY HỌC

1.

Các tính năng cơ bản của phần mềm trình diễn Microsoft powerPoint.

Microsoft PowerPoint là một chương trình ứng dụng của bộ phần mềm văn

phòng Microsoft Officce. Microsoft Powerpoint có đầy đủ các tính năng để

người sử dụng có thể biên tập các trình diễn bằng văn bản, các biểu đồ số liệu,

các trình diễn bằng hình ảnh, âm thanh... Microsoft Powerpoint có các chức

năng cho phép người sử dụng chọn các kiểu mẫu trình diễn đã được thiết kế sẵn

hoặc tự thiết kế cho mình một kiểu trình diễn riêng tuỳ theo u cầu cơng việc

hoặc ý tưởng của người trình bày.

Một số tính năng thiết kế cơ bản

Sử dụng phần mềm thiết kế trình chiếu khơng phải là mục đích của giáo trình

này. Ở đây chỉ giới thiệu một số tính năng cơ bản nhất có thể khai thác nhằm

mục đích thiết kế bài thuyết trình khoa học. Để theo học phần này dễ dàng,

người học cần biết sử dụng ở mức độ căn bản một phần mềm thiết kế trình

chiếu. Các hướng dẫn sau đây là dành cho phần mềm Microsoft PowerPoint XP,

bản tiếng Anh, chạy dưới hệ điều hành Windows XP. Nhấn lên siêu liên kết để

xem hình minh hoạ.

Tạo hình nền

Hình nền là một yếu tố có thể tạo ra ấn tượng lâu dài cho người nghe, nếu sử

dụng đúng cách trong thiết kế. Thường hình nền là một hình ảnh có liên quan

chặt chẽ đến nội dung trọng tâm hoặc chủ đề của bài thuyết trình. Hình nền nên

có độ đồng đều về màu sắc để không ảnh hưởng đến độ rõ nét của các thành

phần nội dung khi thuyết trình. Nên cân nhắc về màu sắc giữa chữ viết và các

thành phần khác đối với hình nền sao cho phù hợp.

Các bước tạo hình nền như sau:

2.

vào trình đơnView. Master, chọnSlide Master(quản lí bản phim), nền bản

phim sẽ được hiện ra cùng với các thông số định dạng các thành phần;

3.

khơng thay đổi gì các thơng số đó, vào trình đơnInsert. Picture,

chọnFrom File(chèn hình ảnh từ thư mục cá nhân);

4.

chọn đường dẫn về thư mục lưu hình ảnh cần lấy làm nền, chọn đúng tên

tập tin đó và nhấn nútInsert(chèn hình vào bản phim mẫu);



13



5.

thay đổi kích thước hình ảnh bằng cách dùng chuột nhấn và kéo các biên,

hoặc di chuyển hình ảnh đến đúng vị trí cần xuất hiện trong mỗi bản phim;

6.

thường hình nền được định dạng mờ để làm nổi bật nội dung, do đó nhấn

chuột phải lên hình và chọnFormat Picture(định dạng hình);

7.

chọn thẻPicture, mụcColor, chọnWashout(chế độ bóng);

8.

xong nhấn nútOKvà chọnClose Master Viewđể đóng cửa sổ quản lí bản

phim lại;

9.

tất cả các bản phim sẽ đều được chèn hình nền như đã thiết lập, nếu chưa

vừa ý thì có thể vào lạiView. Master > Slide. Masterđể chỉnh sửa.

Định dạng đầu và chân bản phim

Chức năng thơng tin của bản phim trình chiếu khơng giống như của trang bài

viết, do đó khơng nên q lạm dụng các định dạng đầu và chân bản phim. Thông

thường, trong bài thuyết trình khoa học chỉ nên để tối đa một số thông tin cơ bản

ở chân trang giúp người nghe định vị tốt, hoặc vài thông tin nhận diện nữa nếu

cần phân phát bản in.

Cách định dạng đầu và chân bản phim như sau:

10.



vào trình đơnView. Header and Footer(hiển thị công cụ định dạng đầu và

chân bản phim);

11.

trong thẻSlide, đánh dấu chọn mục Date and timenếu muốn cho hiển thị

ngày giờ trên bản phim,



chọnUpdate automaticallynếu muốn ngày giờ tự động thay đổi theo

ngày mở tập tin ra, với các lựa chọn kiểu ngày giờ và ngơn ngữ khác nhau,



chọnFixednếu muốn hiển thị một ngày giờ cố định, và phải nhập

trực tiếp chuỗi ngày giờ vào ô trống bên cạnh;

12. chọnSlide numbernếu muốn cho hiển thị số thứ tự bản phim;

13. chọnFooterđể cho hiển thị thông tin ở chân bản phim, và gõ chuỗi văn

bản trực tiếp vào ô trống bên cạnh;

14. nếu chọnDon't show on title slidethì phần thiết lập đầu và chân như trên sẽ

không áp dụng cho bản phim đầu tiên (dành cho tên bài thuyết trình);

15. nhấn nútApplyđể chỉ áp dụng cho bản phim đang xem xét, hoặc nútApply

to Allđể áp dụng cho tất cả các bản phim.

Định dạng phơng nền

Nếu khơng sử dụng hình nền, việc định dạng phơng nền có vai trò quan trọng

giúp trình bày nội dung thuyết trình được rõ ràng, dễ theo dõi. Các bước chèn

hình nền như sau:

16.

17.

14



vào trình đơnFormat. Background(định dạng phông nền);

nhấn lêndanh sách cuốn, chọn:



một màu (đồng nhất) trong danh sách các màu vừa sử dụng,



More Colorsđể chọn được nhiều màu khác (đồng nhất)



Fill Effectsđể chọn các kiểu phơng nền khơng có màu đồng nhất

(nền kẻ ơ, nền chấm, nền hoa văn,...);

18. nhấn nútApplyđể chỉ áp dụng cho bản phim đang xem xét, hoặc nútApply

to Allđể áp dụng cho tất cả các bản phim.





Sắp xếp các yếu tố trong bản phim

Các yếu tố sau khi được chèn vào bản phim có thể được sắp xếp theo những

cách khác nhau, phục vụ cho các ý tưởng trình bày cụ thể: nằm ở lớp trên hay

dưới, gom thành một nhóm hay tách rời một nhóm,...

19. Giống như trong văn bản, một bản phim có nhiều lớp song song với mặt

phẳng màn hình. Các yếu tố đặt trên cùng lớp sẽ được hiển thị ngang hàng nhau.

Hoặc nếu yếu tố A nằm ở lớp trên và yếu tố B ở lớp dưới, phần nào của B nằm

trong tầm che phủ của A thì sẽ bị che lấp, khơng thấy được trên văn bản.

Để thay đổi cách sắp xếp của một yếu tố, nhấn chuột phải lên biên của yếu tố đó,

để thay đổi một nhóm yếu tố,nhấn giữ phímShiftvàlần lượt chọn từng yếu tố, sau

đó:

20.



chọnGroupingnếu muốn gom hay tách nhóm:



chọnGroupđể gom lại thành một nhóm,



chọnUngroupđể tách các thành phần trong nhóm ra,



chọnRegroupnếu muốn các thành phần vừa tách được gom trở lại

thành nhóm;

21. chọnOrdernếu muốn thay đổi vị trí lớp hiển thị:



chọnBring to Frontđể cho hiển thị ở lớp trên cùng,



chọnSend to Backđể cho hiển thị ở lớp dưới cùng,



chọnBring Forwardđể đưa lên lớp liền trên,



chọnSend Backwardđể đưa xuống lớp liền dưới.



Chèn các yếu tố

Để trình bày bản phim, mọi yếu tố nội dung đều phải được chèn vào thông qua

trình đơnInsert. Các loại yếu tố có thể chèn vào bản phim đều được bố trí thành

một mục trong trình đơn này:Picture(hình ảnh),Diagram(sơ đồ),Text Box(khung

chữ),Movies and Sounds(các tập tin âm thanh và phim), Table(bảng),Chart(biểu

đồ),Object. Microsoft Equation 3.0(cơng thức tốn học),Hyperlink(siêu liên kết

đến một tập tin khác, bản phim khác trong cùng bài, một địa chỉ thư điện tử hay

một địa chỉ mạng),...

Chèn các nút hành động

15



Khi đang trình bày, bài thuyết trình được chiếu lên máy chiếu ở chế độ chiếu,

chỉ có các hiệu ứng đã thiết lập hoạt động theo lệnh từ chuột hoặc bàn phím.

Nếu cần di chuyển đến một vị trí khác trong bài, hoặc nếu cần thêm một số hành

động khácmà khơng phải chờ trình diễn hết các yếu tố trong bản phim đang

chiếu, cũng không cắt ngang chế độ chiếu, thì cơng cụ hữu hiệu nhất là chèn các

nút hành động.

Các nút hành động đã được thiết kế sẵn trong phần mềm, chỉ cần chèn vào bằng

cách vào trình đơnSlide Show, chọnAction Buttons. Sau đó sẽ có một danh sách

mở ra để lựa chọn, chỉ cần rà chuột lên các nút để xem nhãn và chọn nút nào phù

hợp với nhu cầu:Home(về trang tiếp đón);Back or Previous(về bản phim

trước);Forward or Next(qua bản phim sau); Beginning(về bản phim đầu);End(về

bản phim cuối);Return(quay trở lại vị trí đang trình diễn);Sound(mở một tập tin

âm thanh);Movie(mở một tập tin phim),...

Áp dụng hiệu ứng động cho các yếu tố

Để lập hiệu ứng cho yếu tố nào, nhấp chọn yếu tố đó rồi vào trình đơnSlide

Show. Custom Animation, danh sách hiệu ứng sẽ xuất hiện ở cột bên phải màn

hình. ChọnAdd Effectcùng với một kiểu hiệu ứng nào mong muốn (cần thử

nhiều lần để tìm được hiệu ứng ưng ý).

Khi muốn điều chỉnh hiệu ứng đã áp dụng cho một hay nhiều yếu tố trong bản

phim, nhấp chọn hoặc cho con trỏ vào bên trong yếu tố đó, ở cột hiệu ứng bên

tay phải:

22.

23.



chọnRemoveđể bỏ hẳn hiệu ứng;

nếu muốn điều chỉnh, trong ơModifychọn:



Start: On Clickcho hiệu ứng trình diễn khi nhấp chuột (hoặc chọn

kiểu khác nếu muốn),



Direction. InhayOutcho hiệu ứnghướngvào tâm hay hướng ra bìa

của bản phim,



kiểu tốc độ trình diễn trongSpeed,



nút mũi tên lên hoặc xuống trong ôRe-Orderở cuối cột danh sách để

thay đổi thứ tự xuất hiện của các yếu tố trên màn hình khi thuyết trình.

Áp dụng cách chuyển tiếp bản phím

24.

Thực hành các tính năng cơ bản của phần mềm trình diễn Microsoft

powerPoint để xây dựng một tệp tin trình diễn phục vụ cho việc dạy học ở tiểu

học:

Trình chiếu PowerPoint

Trình chiếu PowerPoint là cho slide chạy trong chế độ “tồn màn hình”.

Thơng qua màn hình đó tất cả những người trong nhóm có thể xem nội dung mà

bạn tạo một cách có thứ tự và để chạy bạn chỉ cần kích chuột hoặc hoặc ấn một

nút.

Để xem một Slide Show từ slide đầu tiên

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a. Năng khiếu là gì?

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×