Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tranh chấp lao động và vấn đế giải quyết tranh chấp lao động theo pháp luật Việt

Nam hiện nay

trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, TCLĐ về bảo hiểm xã hội và tranh chấp về bồi

thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở

nước ngồi khi các bên có yêu cầu.

2.2.2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện

Dựa theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 203 BLLĐ năm 2012 thì đây là một

trong các chủ thể có thẩm quyền giải quyết TCLĐ tập thể về quyền. Cụ thể như sau:

“Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh

chấp lao động tập thể về quyền, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải tiến hành giải

quyết tranh chấp lao động.

Tại phiên họp giải quyết tranh chấp lao động phải có đại diện của hai bên tranh

chấp. Trường hợp cần thiết, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện mời đại diện cơ quan,

tổ chức có liên quan tham dự phiên họp.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào pháp luật về lao động, thoả ước

lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký và các quy chế, thoả thuận hợp pháp

khác để xem xét giải quyết tranh chấp lao động.

Trong trường hợp các bên không đồng ý với quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân

dân cấp huyện hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện khơng giải

quyết thì các bên có quyền u cầu Tòa án giải quyết” (Điều 205 BLLĐ năm 2012)

2.2.3. Hội đồng trong tài lao động cấp tỉnh

Là tổ chức giải quyết TCLĐ được thành lập tại các đơn vị hành chính cấp tỉnh. Theo

quy định tại Điều 199 BLLĐ năm 2012 thì:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng trọng tài lao

động. Hội đồng trọng tài lao động gồm: Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu cơ quan

quản lý nhà nước về lao động, thư ký Hội đồng và các thành viên là đại diện cơng đồn

cấp tỉnh, tổ chức đại diện người sử dụng lao động. Số lượng thành viên Hội đồng trọng

tài lao động là số lẻ và không quá 07 người.

Trong trường hợp cần thiết, Chủ tịch Hội đồng trọng tài lao động có thể mời đại

diện cơ quan, tổ chức có liên quan, người có kinh nghiệm trong lĩnh vực quan hệ lao

động ở địa phương.

Hội đồng trọng tài lao động tiến hành hoà giải các TCLĐ tập thể sau đây: TCLĐ tập

thể về lợi ích và TCLĐ tập thể xảy ra tại các đơn vị sử dụng lao động khơng được đình

cơng thuộc danh mục do Chính phủ quy định.

GVGD: Ts. Đoàn Thị Phương Diệp



SVTH: Nguyễn Anh Thư

9



Tranh chấp lao động và vấn đế giải quyết tranh chấp lao động theo pháp luật Việt

Nam hiện nay

Hội đồng trọng tài lao động quyết định theo đa số bằng hình thức bỏ phiếu kín.

2.2.4. Tòa án nhân dân

Là hình thức xét xử mang tính chất đặc thù trong giải quyết TCLĐ. Bởi khi giải

quyết TCLĐ, tòa án lao động có quyền nhân danh nhà nước đưa ra các quyết định, kết

luânj, bản án. Những văn bản này khi có hiệu lực sẽ được cơ quan thi hành án cưỡng chế

thi hành.

Và chỉ tòa án nhân dân mới có quyền xét xử, ngồi việc xét xử Tòa án còn có thẩm

quyền cơng sự thỏa thuận của các đương sự và tuyên bố cuộc đình cơng có hợp pháp hay

khơng. Tòa án lao động có thẩm quyền giải quyết TCLĐ cá nhân, tập thể và đình cơng.

2.3. TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG

2.3.1. Đối với các tranh chấp lao động cá nhân

Theo quy định tại Điều 200 BLLĐ năm 2012 thì cơ quan, cá nhân có thẩm quyền

giải quyết TCLĐ cá nhân bao gồm: Hòa giải viên lao động và tòa án nhân dân

2.3.1.1. Hòa giải ở hòa giải viên lao động cấp huyện

Theo quy định tại Điều 201 BLLĐ năm 2012 việc tổ chức hòa giải TCLĐ được thực

hiện như sau: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được u cầu hồ giải,

hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải. Tại phiên họp hồ giải phải có mặt hai

bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp

hồ giải. Hồ giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng.

Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải

thành. Trường hợp hai bên khơng thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương

án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà

giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.

Trường hợp hai bên khơng chấp nhận phương án hồ giải hoặc một bên tranh chấp

đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt khơng có lý do chính đáng, thì

hồ giải viên lao động lập biên bản hồ giải khơng thành.

Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hồ giải viên lao động. Bản sao

biên bản hồ giải thành hoặc hồ giải khơng thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp

trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

* Thời hiệu: Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải TCLĐ cá

nhân là 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền,

lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm (Khoản 1 Điều 202 BLLĐ năm 2012)

GVGD: Ts. Đoàn Thị Phương Diệp



SVTH: Nguyễn Anh Thư

10



Tranh chấp lao động và vấn đế giải quyết tranh chấp lao động theo pháp luật Việt

Nam hiện nay

2.3.1.2. Giải quyết tranh chấp tại tòa án

Trong trường hợp những TCLĐ cá nhân mà hòa giải viên lao động hòa giải khơng

thành hoặc hòa giải viên lao động khơng giải quyết trong thời hạn quy định thì những vụ

việc này được Tồ án nhân dân giải quyết. Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 1 Điều

201 BLLĐ năm 2012 thì tòa án nhân dân giải quyết những TCLĐ sau đây mà không nhất

thiết phải qua hòa giải tại cơ sở:

- Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị

đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

- Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

- Tranh chấp về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về

bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế;

- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp xuất

khẩu lao động.

Trình tự, thủ tục giải quyết TCLĐ cá nhân tại tòa án được quy định trong Bộ luật tố

tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung. Theo đó thẩm quyền của tòa án chia thành các nhóm là

thẩm quyền chung (theo vụ việc), thẩm quyền theo cấp, thẩm quyền theo lãnh thổ và

thẩm quyền theo sự lựa chọn của một bên tranh chấp là nguyên đơn. Mỗi một vụ việc lao

động cá nhân khi được giải quyết ở Tòa án đều trải qua các trình tự thủ tục giải quyết: Sơ

thẩm, phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm.

Khi xét xử, nếu Tòa án nhân dân phát hiện hợp đồng lao động trái với thỏa ước tập

thể, pháp luật lao động, thỏa ước tập thể trái với pháp luật lao động thì tuyên bố hợp đồng

lao động, thỏa ước tập thể vơ hiệu từng phần hoặc tồn bộ. Quyền, nghĩa vụ và lợi ích

của các bên ghi trong hợp đồng lao động, thỏa ước tập thể bị tuyên bố vụ hiệu được giải

quyết theo quy định của pháp luật.

* Thời hiệu: Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết TCLĐ cá nhân là 01 năm, kể từ

ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của

mình bị vi phạm (Khoản 2 Điều 202 BLLĐ năm 2012).



GVGD: Ts. Đoàn Thị Phương Diệp



SVTH: Nguyễn Anh Thư

11



Tranh chấp lao động và vấn đế giải quyết tranh chấp lao động theo pháp luật Việt

Nam hiện nay

2.3.2. Đối với các tranh chấp lao động tập thể

2.3.2.1. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 203 BLLĐ năm 2012 thì cơ quan, tổ chức, cá nhân

có thẩm quyền giải quyết TCLĐ tập thể về quyền bao gồm: Hòa giải viên lao động, Chủ

tịch Ủy ban nhân dân huyện cấp huyện và tòa án nhân dân.

Bước đầu tiên trong giải quyết TCLĐ tập thể về quyền là hào giải bởi vì hòa giải ở

cơ sở là thủ tục bắt buộc trong mọi trường hợp, không có ngoại lệ. Nhưng khi hòa giải

khơng thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa

giải thành thì các bên có quyền u cấu chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết.

Theo quy định tại Điều 205 BLLĐ năm 2012 thì TCLĐ tập thể về quyền giải quyết

bởi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện theo thủ tục sau:

- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết

TCLĐ tập thể về quyền, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải tiến hành giải quyết

TCLĐ.

- Tại phiên họp giải quyết TCLĐ phải có đại diện của hai bên tranh chấp. Trường

hợp cần thiết, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện mời đại diện cơ quan, tổ chức có liên

quan tham dự phiên họp.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào pháp luật về lao động, thoả ước lao

động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký và các quy chế, thoả thuận hợp pháp

khác để xem xét giải quyết TCLĐ.

- Trong trường hợp các bên không đồng ý với quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân

dân cấp huyện hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện khơng giải

quyết thì các bên có quyền u cầu Tòa án giải quyết.

* Thời hiệu: Thời hiệu yêu cầu giải quyết TCLĐ tập thể về quyền là 01 năm kể từ

ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của

mình bị vi phạm (Điều 207 BLLĐ năm 2012).

2.3.2.2. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 203 BLLĐ năm 2012 thì cơ quan, tổ chức, cá nhân

có thẩm quyền giải quyết TCLĐ tập thể về quyền bao gồm: Hòa giải viên lao động và hội

đồng trọng tài lao động.

Giai đoạn đầu tiên trong trình tự giải quyết TCLĐ tập thể về lợi ích cũng là hòa giải.

Khi hòa giải viên hòa giải khơng thành hoặc khơng hòa giải TCLĐ tập thể về lợi ích

GVGD: Ts. Đồn Thị Phương Diệp



SVTH: Nguyễn Anh Thư

12



Tranh chấp lao động và vấn đế giải quyết tranh chấp lao động theo pháp luật Việt

Nam hiện nay

trong thời hạn luật định thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu hội đồng trọng tài lao

động giải quyết.

Theo quy định tại Điều 206 BLLĐ năm 2012 thì TCLĐ tập thể về lợi ích giải quyết

bởi Hội đồng trọng tài lao động theo thủ tục sau:

- Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết,

Hội đồng trọng tài lao động phải kết thúc việc hòa giải.

- Tại phiên họp của Hội đồng trọng tài lao động phải có đại diện của hai bên tranh

chấp. Trường hợp cần thiết, Hội đồng trọng tài lao động mời đại diện cơ quan, tổ chức, cá

nhân có liên quan tham dự phiên họp.

Hội đồng trọng tài lao động có trách nhiệm hỗ trợ các bên tự thương lượng, trường

hợp hai bên khơng thương lượng được thì Hội đồng trọng tài lao động đưa ra phương án

để hai bên xem xét. Trong trường hợp hai bên tự thỏa thuận được hoặc chấp nhận phương

án hòa giải thì Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hoà giải thành đồng thời ra quyết

định công nhận sự thỏa thuận của các bên.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được hoặc một bên tranh chấp đã được triệu

tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì Hội đồng trọng

tài lao động lập biên bản hồ giải khơng thành.

Biên bản có chữ ký của các bên có mặt, của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng trọng tài

lao động. Bản sao biên bản hồ giải thành hoặc hồ giải khơng thành phải được gửi cho

hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

- Sau thời hạn 05 ngày, kể từ ngày Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải

thành mà một trong các bên không thực hiện thỏa thuận đã đạt được thì tập thể lao động

có quyền tiến hành các thủ tục để đình cơng. Trong trường hợp Hội đồng trọng tài lao

động lập biên bản hòa giải khơng thành thì sau thời hạn 03 ngày, tập thể lao động có

quyền tiến hành các thủ tục để đình cơng.



GVGD: Ts. Đoàn Thị Phương Diệp



SVTH: Nguyễn Anh Thư

13



Tranh chấp lao động và vấn đế giải quyết tranh chấp lao động theo pháp luật Việt

Nam hiện nay

CHƯƠNG 3

THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP VÀ Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG GIẢI QUYẾT

TRANH CHẤP LAO ĐỘNG

3.1. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢM TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẠI VIỆT

NAM

3.1.1. Thực trạng tranh chấp lao động tại Việt nam hiện nay

Theo số liệu đưa ra tại hội thảo “Cơ chế phối hợp xây dựng quan hệ lao động hài

hòa và phòng ngừa TCLĐ, đình cơn khơng đúng pháp luật” thì trong 6 tháng đầu năm

nay, cả nước xảy ra 235 cuộc TCLĐ dẫn đến ngừng việc và đình cơng (Tăng 59 cuộc so

với cùng kỳ năm 2014), trong đó nhiều vụ có diễn biến phức tạp. TCLĐ dẫn đến đình

cơng xảy ra nhiều ở các tỉnh, thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía nam, chiếm

tới hơn 80%.

Theo Liên đồn lao động tỉnh Bình Dương, trong 3 tháng đầu năm 2015, trên địa

bàn tỉnh này xảy ra 17 vụ tranh chấp lao động tập thể và đình cơng tại 17 doanh nghiệp

với khoảng trên 9 nghìn người tham gia

Tại thành phố Hồ Chí Minh là nơi có nhiều doanh nghiệp hoạt động, lượng cơng

nhân, người lao động tập trung làm việc đông đảo và cũng là nơi có số vụ TCLÐ khá

nhiều. Trong giai đoạn 2007-2012, toàn thành phố xảy ra 681 vụ TCLÐ, chiếm gần 22%

tổng số vụ của cả nước. Thống kê của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội TP Hồ Chí

Minh cho thấy, riêng năm 2013, trên địa bàn thành phố xảy ra 98 vụ TCLÐ tập thể với sự

tham gia của hơn 34.000 lao động, trong đó, số vụ TCLÐ diễn ra tại các DN có vốn đầu

tư trực tiếp nước ngồi (FDI) chiếm tỷ lệ cao nhất.1

Theo Ơng Hồng Ngọc Trung – Sở lao động thương binh và xã hội Thanh Hóa cho

biết, trong 5 năm qua (2010 – 1015), tại địa bàn Thanh Hóa xảy ra 30 vụ TCLĐ dẫn đến

ngừng việc của tập thể người lao động. Đáng lưu ý, các cuộc tranh TCLĐ chủ yếu xảy ra

ở các DN FDI với 25 vụ, chiếm 83,3% tổng số các vụ.2

3.1.2. Một số giải pháp giúp giảm tranh chấp lao động tại Việt nam hiện nay

Để góp phần kéo giảm tình trạng TCLĐ tại Việt Nam, em xin đề nghị một số giải

pháp sau:

1



Xuân Phú, Nan giải giải quyết tranh chấp lao động, Báo điện tử Nhân dân, 2014,

http://www.nhandan.com.vn/tphcm/tin-chung/item/22570902-gian-nan-giai-quyet-tranh-chap-lao-dong.html

[ngày truy cập 20-11- 2015].

2

Nguyễn Minh, Diễn đàn doanh nghiệp, Thanh Hóa: Năm nhóm giải pháp giảm thiểu tranh chấp lao động,

http://enternews.vn/thanh-hoa-5-nhom-giai-phap-giam-thieu-tranh-chap-lao-dong.html

[ngày truy cập 20-11-2015].



GVGD: Ts. Đoàn Thị Phương Diệp



SVTH: Nguyễn Anh Thư

14



Tranh chấp lao động và vấn đế giải quyết tranh chấp lao động theo pháp luật Việt

Nam hiện nay

- Thứ nhất: Tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ lao động

hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp; theo dõi, kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc

chấp hành các quy định pháp luật lao động.

- Thứ hai: Các sở, ngành chức năng đẩy mạnh cơng tác tun truyền, hướng dẫn

thực hiện chính sách, pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động; nhất là

Luật Bảo hiểm xã hội, Luật việc làm và điều chỉnh tiền lương tối thiểu vùng.

- Thứ ba: Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh nên tổ chức đối thoại với các Hiệp hội, Chi hội,

các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp sử dụng nhiều

lao động, đại diện cơng đồn cơ sở và người lao động nhằm kịp thời giải quyết các khó

khăn cho doanh nghiệp và người lao động.

- Thứ 4: Đồng thời, củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cơng đồn

trong các doanh nghiệp nhằm bảo vệ và đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người

lao động

3.2. Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG

Giải quyết TCLĐ có ý nghĩa quan trọng khơng chỉ đối với các doanh nghiệp, người

sử dụng lao động, người lao động mà nó còn góp phần hồn thiện pháp luật lao động.

- Thứ nhất: Giải quyết TCLĐ nhằm giải quyết những mâu thuẫn, xung đột giữa

người lao động và người sử dụng lao động góp phần duy trì, củng cố và đảm bảo sự hài

hòa trong quan hệ lao động.

- Thứ hai: Giải quyết TCLĐ giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên

trong quan hệ lao động, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động làm việc nhiều

hơn, kết quả lao động tốt hơn, động viên khuyến khích sản xuất phát triển.

- Thứ ba: Giải quyết TCLĐ còn góp phần hồn thiện pháp luật lao động, nhằm đảm

bảo các quy phạm pháp luật được áp dụng một cách thống nhất và đúng đắn.



KẾT LUẬN

TCLĐ là một trong số các hiện tượng phổ biến phát sinh trong nền kinh tế thị

trường, đặc biệt hơn trong bối cảnh tồn cầu hố thì vấn đề TCLĐ lại càng trở nên gay

gắt và cần được quan tâm giải quyết nhiều hơn. TCLĐ không phải chỉ là mối quan hệ

riêng tư giữa người lao động và người sử dụng lao động mà có liên quan đến lợi ích

chung của tồn xã hội vì giải quyết tốt tranh chấp lao động khơng những bảo vệ được

GVGD: Ts. Đồn Thị Phương Diệp



SVTH: Nguyễn Anh Thư

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×